Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế

Sang Trung Quốc lần này mặc dù là lần đầu tiên, tôi rất quan tâm  đến hai điều .Một là: để được nhìn tận mắt Vạn Lý Trường Thành vì đây là kỳ quan thế giới duy nhất có thể từ mặt trăng trông thấy được.Đặt chân lên Vạn Lý Trường Thành và đứng bên tấm bia ghi dòng chữ BẤT ĐÁO TRƯỜNG THÀNH PHI HẢO HÁN( CHƯA ĐẾN TRƯỜNG THÀNH CHƯA PHẢI LÀ NGƯỜI TÀI GIỎI)

phongkieu
Hai là: tìm hiểu thêm về bài thơ PHONG KIỀU DẠ BẠC của TRƯƠNG KẾ mà tôi đã biết từ lâu mà chưa rõ thông điệp của tác giả thực ra ở đây là gì chứ không phải là bài thơ tức cảnh sinh tình bình thường.Theo những tài liệu tôi thu thập được tôi mạo muội lạm bàn để mong có thể dịch thật sát và lột tả đúng tâm trạng của tác giả bài thơ này.

CHÙA HÀN SAN VỚI BÀI THƠ NỔI TIẾNG CỦA
TRƯƠNG KẾ KHẮC VÀO ĐÁ

:Nguyên bản

楓橋夜泊

月落烏啼霜滿天

江楓魚火對愁眠

姑蘇城外寒山寺

夜半鐘聲到客船

TƯỢNG TRƯƠNG KẾ


PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bản dịch  của  Nguyễn Hàm Ninh

(thường bị nhầm là bản dịch của Tản Đà)

ĐỖ THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU

Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Bản dịch của
Tản Đà
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Đây là một tuyệt tác của nhà thơ Trương Kế và cũng là một kiệt tác của thơ Đường.Từ khi ra đời cho tới nay, nó đã được các nhà thơ cũng như những nhà nghiên cứu  quan tâm bình giảng. Tựu trung ai cũng đều công nhận đây là một kiệt tác. Tuy nhiên rất ít người bình giảng bài thơ này một cách toàn diện, mà chủ yếu là tập trung vào việc chú thích các từ ngữ, trong đó thường tập trung ở câu 2 và 4. Từ đó người ta thường nghĩ : Vì buồn nên nhà thơ không ngủ được, vì không ngủ được nên nhà thơ mới có được bài thơ tuyệt tác này để lại cho đời. Nghĩ như thế có lẽ do cụm từ “ĐỐI SẦU MIÊN” trong câu 2. Chính vì vậy câu này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Còn vấn đề nghĩa của hai từ “DẠ BÁN” ở câu bốn đến nay vẫn  chưa giải quyết được.

 Có một một giai thoại để giải  thích cho việc đánh chuông vào lúc DẠ BÁN này.

Tương truyền rằng Trương Kế một đêm  neo thuyền ở bến Phong Kiều, rung cảm trước cảnh đẹp  của  thiên nhiên ông đã cảm tác được hai câu thơ:

“ Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,

Giang phong, ngư hoả đối sầu miên”,

Thế rồi ông không sao kết thúc được bài thơ, nên cứ thao thức mãi. Cùng trong đêm ấy, sư cụ chùa Hàn San cũng thấy cảnh trăng đầu tháng mông lung, huyền ảo nên cảm tác được hai câu thơ:

Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tợ ngân câu, bán tợ cung

(Mồng ba, mồng bốn nguyệt mông lung

Nửa tợ móc câu, nửa tợ cung)

Rồi cũng như Trương Kế, sư cụ cũng không sao kết thúc được bài thơ của mình, cứ thao thức mãi. Thời gian trôi đi, cho đến lúc chú tiểu trong chùa dậy đánh chuông, (đây là nhiệm vụ của người tập sự) đi ngang phòng thầy, thấy thầy còn thức, hỏi ra mới biết bèn mạo muội xin thêm vào hai câu nữa để hoàn chỉnh bài thơ. Sư cụ đồng ý, chú tiểu liền đọc:

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán  trầm thuỷ để bán phù không”

(Một mảnh trăng chia thành lưỡng đoạn

Nửa chìm  đáy nước, nửa trên không)

Như một nửa còn lại của một viên ngọc, hai câu thơ của chú tiểu ý tứ liền lạc với hai câu của sư cụ, tạo thành một bài thơ hoàn hảo. Sư cụ như trút được gánh nặng, còn chú tiểu cũng vô cùng sung sướng, vì thực ra đêm qua chú cũng lâm vào tình trạng như  thầy mình. Hai thầy trò như đã hoàn thành một việc lớn, với tâm hoan hỉ, phấn chấn, chú tiểu đi đánh chuông. Tiếng chuông mạnh mẽ, ngân vang, như cơn gió mở toang tâm hồn của  Trương Kế còn đang trằn trọc dưới bến Phong Kiều, tứ thơ của ông tức thì tuôn trào thành hai câu:

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Thế là Trương Kế cũng hoàn thành bài thơ của mình.

Trong Phật Giáo không thấy có sách nào nói về việc đánh chuông vào lúc nửa đêm hay bất thường, ngoại trừ khi nhà chùa có sự cố như: Vị Trú Trì chết, hoả hoạn, hay bị  nạn, trong trường hợp như thế, tiếng chuông là một thông tin có giá trị như một thông báo, kêu gọi sự giúp đỡ. Đánh chuông vào canh năm là một truyền thống từ ngàn xưa của Phật giáo Trung Hoa cũng như Việt Nam, điều này ai cũng rõ. Nhưng vì đây là một giai thoại dùng  để giải thích cho việc Trương Kế dùng từ  DẠ BÁN” với  nghĩa “NỬA ĐÊM”, chính vì vậy đôi khi người viết phải sửa lại câu chuyện cho thích hợp với mục đích của mình, như có người  đã viết:(13)

“ Chú tiểu hầu bên thấy vậy mới hỏi Sư cụ sao đêm nay cứ trằn trọc mãi không ngủ. . . .

Sư cụ nghe xong khen hay và bảo chú tiểu lên chánh điện đánh chuông tạ ơn Phật”.

Đây là một giai thoại nhằm phục vụ cho việc giải thích hai từ “dạ bán” trong bài thơ của Trương Kế, do đó những tình tiết của câu chuyện cũng phải làm sao cho hợp lý, vì vậy trong câu chuyện nói trên có nhiều điều hơi gượng ép. Một là sao mà nhà chùa hành hạ chú tiểu đến vậy, (đứng hầu thầy đến nửa đêm), may mà chú thêm vào hai câu, chứ nếu không e hầu cả đêm. Hai là kiểu ăn mừng của thầy trò chùa Hàn San quá ư bất thường. Ba là chuông ở chánh điện là chuông gia trì, âm thanh chỉ đủ vang trong phạm vi chánh điện mà thôi, làm sao vang tới khách đang ở trên thuyền ngoài bến Phong Kiều cho nỗi, vì chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô, cách xa chỗ neo thuyền của Trương Kế . Như vậy tiếng chuông mà Trương Kế nghe phải là tiếng Đại hồng Chung, mà Đại Hồng Chung chỉ đánh vào lúc canh năm mà thôi. Cho dù đây là một giai thoại, nhưng nó cũng cho thấy rằng người xưa đã nghĩ  DẠ BÁN” không phải là BÁN DẠ”.

Với tất cả những gì đã nêu trên, tôi cho rằng hai từ  DẠ BÁN trong trường hợp này có nghĩa là ĐÊM ĐÃ QUÁ NỬA”, “ĐÊM ĐÃ KHUYA hay  “CANH KHUYA”. Rõ ràng Trương Kế đã xử dụng từ DẠ BÁN có chủ ý, chính xác và rất đắt.

 THÔNG ĐIỆP MÀ TRƯƠNG KẾ  MUỐN GỞI ĐẾN NGƯỜI ĐỌC LÀ GÌ?

Trương Kế viết bài thơ này với những tính toán nhất định. Bởi vì, như ta biết Trương Kế là một người tài , biết chắc ông phải có nhiều bài thơ hay khác nữa. Nhưng ngày nay ta chỉ biết Trương Kế qua bài Phong Kiều Dạ Bạc  này thôi. Tự việc này đã nói lên rằng Trương Kế viết bài này là có dụng ý, và dĩ nhiên là ông hết sức hài lòng. Sự việc ngày nay Trương Kế chỉ còn một bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc  chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà có. Ta có thể hình dung ra ngày ấy ,khi các nhà tập chú thơ muốn ghi lại (mỗi người mỗi bài) có thể họ đã hỏi Trương Kế . “Ông thích bài nào nhất?” và Trương Kế đáp “Phong Kiều Dạ Bạc”. Chính vì vậy mà trải qua hàng ngàn năm, với những tranh cãi về chữ nghĩa như thế mà bài thơ vẫn tồn tại, trong khi đó bao nhiêu thơ văn của ông chẳng còn gì. Khi đã nghĩ như vậy thì câu hỏi đặt ra là “Vậy TK viết bài thơ PKDB với mục đích gì?”. để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy xem lại phương pháp sáng tác bài thơ . Tôi cho rằng TK là người rất thông thạo về vùng đất này và đã nhiều lần ngủ thuyền ở bến Phong Kiều. Tuy nhiên căn cứ vào những gì đã ghi lại trong bài thơ cho ta hiểu, có thể TK viết bài PKDB tại bến Phong Kiều, mà cũng có thể TK viết bài thơ này tại một nơi khác. Nhưng dù ông sáng tác bài thơ này ở đâu chăng nữa, thì việc sáng tác bài thơ này xuất phát từ những hàm ý chứ không phải từ những cảm xúc nhất thời.  Lý do mà ông sử dụng những hình ảnh của bến Phong Kiều là tại hai chữ “Cô Tô” hay nói khác hơn là ý nghĩa mà điển tích “Cô Tô” mang lại *. Đây chính là “nhãn tự” của bài thơ, chính vì vậy từ  “Cô Tô” này nằm ở trung tâm của bài thơ. Bởi vì thành Cô Tô và chùa Hàn San cách bến Phong Kiều gần chục cây số thì làm sao nằm ở bến Phong Kiều mà nghe tiếng chuông chùa Hàn San cho được .Ngàn năm trước mười cây số là một khoảng cách rất lớn, và chắc chắn chủ yếu là rừng, rõ ràng TK đã sắp đặt các yếu tố này một cách có chủ ý,  TK muốn sử dụng địa danh “Cô Tô”để gởi gắm tâm tư của mình .Thêm vào đó lại có chùa Hàn San, nơi đêm đêm tiếng chuông vang vọng nhắc nhở con người rằng cuộc đời vô thường lắm. Thông điệp vô thường ấy đã vang tới tận bến Phong Kiều nơi có một con người đang chơi vơi giữa thực hư của nhiên giới, hay có thể nói giữa nhân giới. Con người ấy đang lênh đênh trên con thuyền mà ở đây ông đã khéo dùng “Khách thuyền”khách cũng chính là thuyền. Thuyền thì cô đơn trên bến Phong Kiều mịt mờ sương phủ, và khách lênh đênh giữa dòng lịch sử với ngổn ngang những dấu hiệu suy tàn.
Như ta biết TK là một mệnh quan của triều đình, do đó chắc chắn ông đã nhận ra rằng thời kỳ suy tàn của một triều đại đang trên con đường sụp đổ, chính trong thời kỳ này loạn An Lộc Sơn, đã làm cho vua quan phải bỏ cả Trường An mà chạy. Với tư cách là kẻ sĩ, chứng nhân của thời đại, TK muốn nói lên điều đó, tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng chữ nghĩa có thể là tai họa, nhưng không thể không nói, chính vì vậy ông đã mượn bến Phong Kiều gần thành Cô Tô để gởi gắm tâm sự của mình.

Với những điều trình bày trên tôi mạnh dạn phỏng dịch lại bài thơ trên mặc dù đã có hai dịch giả nổi tiếng( Nguyễn Hàm Ninh và Tản Đà) đã dịch và đã đi vào tiềm thức của mọi người . Mời mọi cùng dịch cho thêm phần phong phú.

BẾN ĐỖ PHONG KIỀU BAN ĐÊM

QUẠ KÊU,  TRĂNG LẶN, ÁNH SƯƠNG MỜ

CÂY RỦ, LỬA CHÀI BẾN CÔ TÔ

THAO THỨC  KHÁCH THUYỀN NẰM ĐỐI BẾN

CANH KHUYA NGHE VẲNG TIẾNG CHUÔNG CHÙA

Cbú thích:
Từ sau khi vua nước Ngô là Phù Sai vì Tây Thi mà mất nước, thì thành Cô Tô (và tên Cô Tô) nơi Phù Sai xây cho Tây Thi ở đã trở thành điển tích biểu tượng cho sự suy vong của một chế độ, dẫn đến mất nước. Đây chính là lý do mà Trương Ké đã chọn bến Phong Kiều để làm chất liệu cho bài thơ của mình.

  • Quế Hằng
  • 06:56 9 thg 9 2012

 

ĐÊM THANH NEO BẾN PHONG KIỀUQuế Hằng dịch thơ

Quạ gọi, trăng tà, sương đặc sông

Lửa chài, ru ngủ bến Kiều Phong

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Chuông vọng thuyền đêm khách chạnh lòng

  • PHẠM BÁ CHIỂU
  • 21:27 9 thg 9 2012
ĐÊM THUYỀN NEO BẾN PHONG KIỀUTrương Kế

Trăng tà, quạ gọi sương buông

Lửa chài cây bến chạnh buồn giấc cô

Chùa Hàn San mé Cô Tô

Nửa đêm thuyền khách chuông chùa vọng ngân

Bản dịch 1 Phạm Bá Chiểu

ĐÊM THUYỀN NEO BẾN PHONG KIỀU

Trương Kế

Quạ gọi, trăng tà, sương kín buông

Lửa chài, phong rủ giấc vương buồn

Cô tô bên mé Hàn San tự

Thuyền khách, đêm trường vọng tiếng chuông.

Bản dịch 2 Phạm Bá Chiểu