Category Archives: Truyện ngắn

Em hãy tả buổi lễ khai trường và nêu cảm nghĩ của em

“Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”[1]

Cứ mỗi độ khai trường, tôi nhẩm lại bài học thuộc lòng năm ấy. Và cũng như đứa bé trong bài văn của Thanh Tịnh, tôi từng được mẹ mua sách bút, cặp mới, quần áo mới và đi bộ một đoạn đường dài đến giao cho cô Hảo, chủ nhiệm lớp 1 của tôi để học những bài khai tâm.

Hồi đó lễ khai trường rất đơn sơ, không bàn ghế, thày và trò ngồi trên sân trường làm bằng đất nện. Nghi thức chỉ là một bài nói chuyện ngắn mà trang trọng của thày hiệu trưởng, một lời hứa mộc mạc của đại diện học trò. Sau những hồi trống ếch vang lừng với giọng ca non nớt của chúng tôi là đến lễ đánh trống khai trường. Thày hiệu trưởng cầm dúi trống đã được học sinh các lớp lớn cẩn thận dán giấy xanh đỏ và dóng những hồi trống dõng dạc. Đó là hiệu lệnh vào lớp, là sự thúc giục chúng tôi phải nỗ lực học hành, tiến bộ từng ngày, từng giờ.

Ngày tựu trường đầu năm đã đưa chúng tôi, những đứa bé sinh trong các gia đình nghèo túng, khó khăn, vật lộn với đời sống chiến tranh và hậu chiến bước ra khỏi sợ hãi, trốn chạy, tăm tối và thất học để nhận ánh sáng của giáo dục và văn minh. Dù vừa trải qua bom đạn và đói rét nhưng nhà trường khi ấy đối với chúng tôi thực sự là Thánh đường của lòng trung thực và sự tử tế. Bởi thày cô tôi rất nghèo nhưng chú tâm dạy dỗ chúng tôi nên người. Không có dạy thêm, không chạy chọt xin điểm, không gian lận thi cử, không ép uổng học hành vô lối…

Học trò có đứa giỏi, đứa dốt nhưng không dám hỗn hào với thày cô… Lớp học cả năm chỉ có 1-2 học sinh giỏi là nhiều, phần còn lại là vài học sinh khá và đa phần học sinh trung bình. Một lớp cuối cấp 3 chỉ có dăm ba người đậu đại học, còn lại làm thợ, hay buôn bán nhỏ, làm dịch vụ quanh nhà với nghề nghiệp lương thiện, không đua ganh quá sức, không phô trương vô lối. Bởi thế dù xa trường không biết bao năm vì mưu sinh, nhưng lòng chúng tôi vẫn nhớ thày, nhớ bạn, nhớ nao nao những buổi tựu trường với lòng biết ơn vô hạn.

bai-van-kinh-dien-nhieu-hoc-sinh-khong-viet-noi
Các em học sinh Trường THPT Chu Văn An trong lễ khai giảng. Ảnh: Văn Chung

Còn nay tôi đưa con đi học vào ngày khai trường mà lòng đượm buồn. Giờ con tôi có thể đi xe máy, nhiều bạn bè được cha mẹ chở bằng xe hơi đến trường. Các cháu có áo mới, có sách vở tốt, có cặp sách đắt tiền, ăn uống đầy đủ. Lễ khai trường nghe nói rất to, có cả các lãnh đạo đến dự, nhà báo đến quay phim, chụp hình, đưa tin…

Nhưng ngay ngày đầu tiên của buổi tựu trường, con tôi và các bạn sẽ học được một điều: Nghi lễ thiêng liêng buổi tựu trường của không biết bao nhiêu thế hệ học sinh giờ chỉ còn là hình thức. Bởi các em đã bị cắt giảm những ngày hè quý giá để tới trường từ đầu tháng 8. Đi học vài tuần rồi mới đến ngày Khai giảng, nên ngày Khai giảng chỉ còn làm lấy lệ.

Buồn hơn nữa, ngay cả ngày Khai giảng lấy lệ đó cũng không phải em nào cũng được tham dự. Bởi có những trường quá đông, không đủ chỗ, nên chỉ một số đại diện học sinh được dự. Mà đã chọn thì cũng chỉ chọn học sinh giỏi, học sinh ngoan, hoặc học sinh “quen biết”.

Ngay từ ngày đầu tựu trường, các em đã phải chịu đựng sự phân biệt lẽ ra không bao giờ nên có ở chốn học đường. Còn vào năm học, có lẽ nhiều học sinh sẽ không tài nào viết nổi bài văn với đề bài cổ điển: Em hãy tả buổi lễ khai trường và nêu cảm nghĩ của em. Nếu có thì rõ ràng chỉ là tưởng tượng, “xào lại” sách vở hay đạo văn.

Lòng tôi đượm buồn vì ngày tựu trường bắt đầu cũng là lúc các cơ quan quản lý giáo dục nay thì cho ra chương trình thử nghiệm này, mai cho chương trình đổi mới khác. Và khi nào chán thì tự nhiên từ Bộ đến Sở cho bỏ dang dở.

Lòng tôi đượm buồn vì ngày con tôi đi học cũng là lúc cuộc đua tranh đầy mệt mỏi khởi động. Vì ngay đầu năm học, cha mẹ nào cũng phải nặng gánh với học phí tăng, rồi đủ loại tiền nộp cho trường, cho thày cô, cho quỹ của Hội phụ huynh lớp, trường, v.v…

Trong khi đó, đứa con bé bỏng của tôi sẽ gồng gánh những giờ học chính khóa kéo cả ngày trời, cộng với những giờ học thêm tại nhà thày cô khuya sớm… Bài tập chồng đống và không đi học thêm thì không biết mánh, biết mẹo mà hoàn tất, dễ bị điểm xấu.

Bởi biết bao điều như thế, tôi lại mong ước đưa con trở lại buổi khai trường thời thơ ấu của mình. Khi mà chúng tôi có thể bồi hồi vừa cất bước tới trường, vừa nhẩm lại những lời văn trong sáng của Thanh Tịnh. Và lời văn ấy chúng tôi nhớ mãi vì nó đầy chân thật và tử tế, như những gì thày cô đã đón nhận và dạy dỗ chúng tôi với sự hy sinh vô điều kiện cho thế hệ tương lai: Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh…

Nguyễn Anh Thi

—–

[11] “Tôi đi học”, Thanh Tịnh.

Bài văn xin lỗi mẹ của 1 học sinh lớp 6

Đọc sách, tôi rất thích một câu nói của nhà văn người Úc: “Không có gì là hoàn hảo, có chăng chỉ là sự đề cao mà thôi”. Đúng, thử hỏi trong chúng ta có ai dám tự nói mình chưa mắc lỗi dù chỉ một lần không? Tôi cũng vậy, có lẽ tôi không thể quên lỗi lầm mình gây ra hôm đó, khiến người tôi yêu quý nhất – mẹ tôi, buồn lòng…

Hôm ấy, đất dát vàng ánh nắng, trời mát dịu, gió khẽ hôn lên má những người đi đường. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt đẹp, nếu tôi không có bài kiểm tra khoa học tệ hại đến như vậy, hậu quả của việc không chịu ôn bài. Về nhà, tôi bước nhẹ lên cầu thang mà chân nặng trĩu lại. Tôi buồn và lo vô cùng, nhất là khi gặp mẹ, người tôi nói rất chắc chắn vào tối qua: “Con học bài kỹ lắm rồi”. Mẹ đâu biết khi mẹ lên nhà ông bà, ba đi công tác, tôi chỉ ngồi vào bàn máy tính chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi tôi đinh ninh rằng cô sẽ không kiểm tra, vì tôi được mười điểm bài trước, nào ngờ cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút. Chả lẽ bây giờ lại nói với mẹ: “Con chưa học bài hôm qua” sao? Không, nhất định không.

Đứng trước cửa, tôi bỗng nảy ra một ý “Mình thử nói dối mẹ xem sao”. Nghĩ như vậy, tôi mở cửa bước vào nhà. Mẹ tôi từ trong bếp chạy ra. Nhìn mẹ, tôi chào lí nhí “Con chào mẹ”. Như đoán biết được phần nào, mẹ tôi hỏi: “Có việc gì thế con”? Tôi đưa mẹ bài kiểm tra, nói ra vẻ ấm ức: Con bị đau tay, không tập trung làm bài được nên viết không kịp”… Mẹ tôi nhìn, tôi cố tránh hướng khác. Bỗng mẹ thở dài! “Con thay quần áo rồi tắm rửa đi!”.

Tôi “dạ” khẽ rồi đi nhanh vào phòng tắm và nghĩ thầm: “Ổn rồi, mọi việc thế là xong”. Tôi tưởng chuyện như thế là kết thúc, nhưng tôi đã lầm. Sau ngày hôm đó, mẹ tôi cứ như người mất hồn, có lúc mẹ rửa bát chưa sạch, lại còn quên cắm nồi cơm điện. Thậm chí mẹ còn quên tắt đèn điện, điều mà lúc nào mẹ cũng nhắc tôi. Mẹ tôi ít cười và nói chuyện hơn. Đêm đêm, mẹ cứ trở mình không ngủ được. Bỗng dưng, tôi cảm thấy như mẹ đã biết tôi nói dối. Tôi hối hận khi nói dối mẹ. Nhưng tôi vẫn chưa đủ can đảm để xin lỗi mẹ. Hay nói cách khác, tôi vẫn chưa thừa nhận lỗi lầm của mình. Sáng một hôm, tôi dậy rất sớm, sớm đến nỗi ở ngoài cửa sổ sương đêm vẫn đang chảy “róc rách” trên kẽ lá. Nhìn mẹ, mẹ vẫn đang ngủ say. Nhưng tôi đoán là mẹ mới chỉ ngủ được mà thôi. Tôi nghĩ: Quyển “Truyện về con người” chưa đọc, mình đọc thử xem”. Nghĩ vậy, tôi lấy cuốn sách đó và giở trang đầu ra đọc. Phải chăng ông trời đã giúp tôi lấy cuốn sách đó để đọc câu chuyện “lỗi lầm” chăng ! “…

Khi Thượng đế tạo ra con người, Ngài đã gắn cho họ hai cái túi vô hình, một túi chứa lỗi lầm của mọi người đeo trước ngực, còn cái túi kia đeo ở sau lưng chứa lỗi lầm của mình, nên con người thường không nhìn thấy lỗi của mình”. Tôi suy ngẫm: “Mình không thấy lỗi lầm của mình sao?”. Tôi nghĩ rất lâu, bất chợt mẹ tôi mở mắt, đi xuống giường. Nhìn mẹ, tự nhiên tôi đi đến một quyết định: Đợi mẹ vào phòng tắm, rồi lấy một mảnh giấy nắn nót đề vài chữ. Mẹ tôi bước ra, tôi để mảnh giấy trên bàn rồi chạy ù vào phòng tắm. Tôi đánh răng rửa mặt xong, đi ra và… chuẩn bị ăn bữa sáng ngon lành do mẹ làm. Và thật lạ, mảnh giấy ghi chữ: “Con xin lỗi mẹ” đã biến đâu mất, thay vào đó là một chiếc khăn thơm tình mẹ và cốc nước cam. Tôi cười, nụ cười mãn nguyện vì mẹ đã chấp nhận lời xin lỗi của tôi.

Đến bây giờ đã ba năm trôi qua, mảnh giấy đó vẫn nằm yên trong tủ đồ của mẹ. Tôi yêu mẹ vô cùng, và tự nhủ sẽ không bao giờ để mẹ buồn nữa. Tôi cũng rút ra được bài học quý báu: Khi bạn biết xin lỗi bố mẹ, bạn sẽ có nhiều hơn một thứ bạn vẫn đang có, đó là tình thương.

“Từ thuở sinh ra tình mẫu tửTrao con ấm áp tựa nắng chiều”.

Trên đây là bài tập làm văn đạt điểm 9 của bạn Quách Trí Dũng, lớp 6A Trường phổ thông Amsterdam Hà Nội. Đề văn của cô giáo Châu ra như sau: “Đã có lần em mắc lỗi. Em hãy kể lại lỗi lầm đó”.

5 năm học tiểu học, học bạ của Dũng đều đạt điểm 9 – 10. Năm học 2005 – 2006 Dũng đoạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi quận Hoàn Kiếm. Dũng còn được Huy chương bạc của cuộc thi Toán giao lưu tuổi thơ toàn quốc lần thứ 2 năm 2006, giải nhất “Thần đồng đất Việt” của Đài truyền hình kỹ thuật số – VTC tổ chức (tháng 5/2006). Tổng kết phong trào “Người tốt việc tốt” em được Chủ tịch UBND TP Hà Nội trao bằng chứng nhận đạt danh hiệu “Người tốt việc tốt” năm 2006 cấp thành phố, và được lãnh đạo nhà trường cử dự lễ trao bằng nhân kỷ niệm ngày giải phóng thủ đô 10/10/2006.

Bùi Đình Nguyên (ghi)

Việt Báo (Theo_Thanh Niên)

Những bài văn về mẹ hay nhất mà bạn chưa từng đọc

 

Trong phần mở đầu của bài văn, cậu học trò nhỏ Phạm Lê Duy (học sinh lớp 3 A10, trường Tiểu học DL Lê Quý Đôn) đã nhấn mạnh: “Nếu có ai hỏi tôi rằng: “Người tôi yêu nhất là ai? Thì tôi sẽ trả lời: “Người tôi yêu nhất là mẹ”.

xuc-dong-bai-van-viet-ve-me-cua-cau-hoc-tro-lop-3-0

“Mẹ đã cho con hình hài này, cho con cuộc sống này, cho con trái tim mẹ và con có…”, trích bài văn của cậu học trò Phạm Lê Duy.

xuc-dong-bai-van-viet-ve-me-cua-cau-hoc-tro-lop-3-1

Và thêm một lần cậu bé khẳng định ở phần kết bài: “Đúng là: “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ”.

xuc-dong-bai-van-viet-ve-me-cua-cau-hoc-tro-lop-3-2

 

Bài văn cảm động nói về mẹ hay nhất em từng nghe bạn sẽ k nhịn được cười khi đọc bài văn này

van-ta-me-haivl

 

Mới đây, nhiều người truyền nhau một bài văn tả mẹ do thành viên Tạ Văn Khôi chia sẻ trên nhóm facebook “Chúng tôi yêu giáo dục tiểu học” đã khiến không ít người xem cười ra nước mắt. Theo chia sẻ của tác giả bài viết, anh đã chép lại bài văn và chia sẻ mọi người cùng xem do không biết chụp ảnh.

Nguyên văn bài văn tả mẹ như sau:

“Mẹ em tên là Hiền. Mẹ không xinh lắm nhưng bác bán thịt lợn đầu ngõ vẫn phải ngước nhìn.

Mẹ rất chăm chỉ. Ngày nào mẹ cũng làm việc từ tinh mơ đến khi chiều tối. Nếu mẹ của bạn Trần Nhật Minh là ngọn gió thì mẹ em là cơn lốc. Mẹ về đến nhà là cuốn sạch cái sân đầy lá mít cùng sỏi đá lẫn trái sấu non mà chúng em bày ra ban chiều. Mẹ cuốn đàn lợn vào giấc ngủ sâu êm đềm, quần áo lấm lem bùn đất vào chậu giăt. Tóm lại mẹ có thể cuốn tất cả trừ một người lúc nào cũng say mèm là bố em.

Mẹ rất khéo tay. Luống rau mẹ cuốc chẳng cần gieo hạt gì sau dăm hôm đã mọc đầy những ngọn rau rền cơm. Rau rền cơm mẹ nấu có kèm vài ngon rau sam ngon lắm! Ngoài canh rau rền, mẹ còn biết luộc trứng, luộc cả thịt. Món luộc của mẹ chẳng bao giờ bị mặn cả. Ngon lắm!
Mẹ chẳng bao giờ giúp chúng em học bài. Mẹ bảo: -Dạy học là việc của bố mày! Nhưng bố hôm nào cũng “Sáng đi tối mịt mới về, nhiều hôm say lả miệng thì kêu la.” Những lần như vậy, mẹ không xem “Tấm lòng cha mẹ” nữa. Bất đắc dĩ mẹ phải dạy các con ôn bài. Chữ mẹ ngửa trái như lúa non gặp bão. Môn toán mẹ dạy: – Tìm nửa chu vi tuổi mẹ, Tìm nửa chu vi vận tốc. Tóm lại dạng toán gì cũng nửa chu vi. Mẹ tuyệt thật nhưng cô giáo không cho là đúng.

Mẹ là người rất tiết kiệm. Mẹ nhặt lại các túi bóng kể cả túi bóng đựng thuốc trừ cỏ giặt sạch đi để đựng đậu bán cho các bác trong xóm. Ai cũng khen đậu của mẹ ngon. Chắc người chưa thấy mẹ ngâm đậu trong cái thùng ngâm cám lợn. Nếu biết thì….

Những ngón tay mẹ xù xì dấu ấn của những năm tháng vật lộn kiếm ăn. Mẹ đưa tay lên lên bới mái đầu đã bạc lốm đốm. mẹ than thở với các dì:

– Tại ông ngoại không cho tao đi học. Nếu cho đi học chắc giờ thì tao đâu khổ thế này!

Mẹ khóc”.

Bài văn con gái viết về mẹ

“Trong màn đêm lạnh giá, một ngọn nến sẽ soi sáng và sưởi ấm cho mọi vật. Trong cuộc đời mỗi con người, ngọn nến đó chính là mẹ!”. Tôi hồi hộp đọc tiếp bài văn của con gái lớp 6, bài văn viết về một người thân của mình. Người thân con chọn chính là tôi, người mẹ. Tôi tò mò muốn biết con tôi nghĩ gì, cảm nhận thế nào về tình mẹ con.

“Nhớ ngày xưa khi còn bé, mẹ ôm ấp tôi những lúc trời lạnh. Mẹ kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích ly kỳ, hấp dẫn bằng giọng nói trầm ấm. Đôi mắt mẹ yêu thương nhìn tôi trìu mến. Đôi mắt đen láy làm cho mẹ thật thông minh. Cả những lúc chui vào trong chăn cùng mẹ, tôi cảm nhận được hơi thở ấm nồng, nhè nhẹ. Mẹ muốn tôi ngủ yên, ngủ say để sáng mai còn đi học sớm, không bị thiếu ngủ…”. Có những điều không cần phải nói ra, tuy con còn nhỏ, con cũng có thể cảm nhận được!

Bài văn con gái viết về mẹ

“Những lần tôi ốm, mẹ thức trắng cả đêm để săn sóc tôi. Sáng dậy, đôi mắt mẹ trũng xuống vì thiếu ngủ. Tôi hiểu được, mẹ lo lắng cho tôi thế nào. Những hôm đó, trông mẹ xanh xao quá. Hôm nào tôi làm bài muộn, mẹ luôn nhắc nhở, lo lắng, thúc giục tôi ngủ sớm để ngày mai đi học. Còn những lần bị điểm kém, mẹ không bao giờ mắng tôi. Mẹ kiên nhẫn, giảng lại cho tôi từng ly từng tí cho đến khi tôi hiểu thì thôi. Mẹ luôn nói với tôi: Con cố găng ngoan ngoãn, đừng để mẹ mất kiên nhẫn. Mẹ đánh con là mẹ đánh chính mẹ…”

Tôi đã khóc khi đọc những lời văn của con gái. Bài văn tràn đầy những cảm nhận chân thực của con về những việc tôi làm hàng ngày. Những câu nói, những cử chỉ, những hành động của tôi đều được con lần lượt kể lại bằng ngôn từ của chính mình.

“Dù bận rộn đến đâu, mỗi ngày mẹ đều dành thời gian nói chuyện với tôi. Có chuyện gì, dù xấu hay tốt, tôi đều kể với mẹ. Trước khi thi, mẹ cùng ôn bài với tôi. Mẹ vuốt ve tôi bằng đôi tay trắng mịn màng và dặn: Nhớ đọc lại kỹ bài làm để dành cho mẹ một điểm nhé, mèo con! Mẹ đã tiếp thêm cho tôi sức mạnh để chiến thắng. Cứ mỗi lần nhớ về khuôn mặt tròn tròn, bầu bĩnh của mẹ, tôi lại tự nhủ: Phải chiến thắng, Phải chiến thắng….!”

Tôi thường tự nhủ, điều thành công nhất của tôi trong việc dạy con từ trước tới nay là con tôi coi tôi như một người bạn thân, không giấu tôi dù là chuyện buồn hay vui. Tôi tâm niệm, để giữ được thói quen đó của con, tôi không được gây sức ép cho con bất kể chuyện gì, đặc biệt chuyện học hành. Giao tiếp hàng ngày với con rất quan trọng, mẹ con tôi thường nói đùa: Tâm tính con như mặt nước phẳng lặng. Con chỉ hơi gợn sóng là mẹ biết liền!

“Nhưng những điều đó chỉ xảy ra từ hồi tôi còn nhỏ. Bây giờ mẹ đã khác. Mẹ bận rộn hơn, mẹ hay mệt hơn và cũng dễ nổi nóng hơn. Mẹ ít để ý đến tôi và tính kiên nhẫn của mẹ cũng giảm nhiều. Vậy là mẹ đã không còn trẻ nữa… Tôi nghĩ rằng, dù sao tôi cũng đã lớn, mẹ không cần để ý đến tôi nhiều nữa. Tôi sẽ tự lập như mẹ mong muốn. Thế nhưng, đôi tay mẹ vẫn đẹp như xưa. Tôi vẫn mong được đôi tay ấy vuốt ve mỗi ngày, không phải như những khi tôi cọ má vào mẹ, mẹ nghiêm mặt lại và bảo: Con lớn rồi, không làm nũng mẹ nữa… Tôi hiểu, dù có nói vậy, tình yêu của mẹ dành cho cô con gái đầu lòng của mẹ không thay đổi”.

Trái tim tôi thắt lại khi đọc đến những dòng này. Sau khi bác giúp việc bị ốm cách đây 6 tháng, vào thời điểm con lớn lên cấp 2, con nhỏ bắt đầu vào lớp 1, ngoài giờ làm việc, tôi phải đảm đương nhiều việc nhà hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc 2 tiếng buổi tối rảnh rỗi với con trước đây bị chia sẻ làm ba, hai phần cho bé nhỏ và một phần cho bé lớn. Đôi lúc thấy con tủi thân, tôi giải thích cho con qua loa: em còn nhỏ, chưa biết đọc, biết viết, mẹ phải bên em, giống như bên con 5 năm trước đây… Tôi rất sợ con phụ thuộc vào tôi nhiều quá nên đặt mục tiêu rèn luyện tính tự lập cho con lên hàng đầu. Vì vậy, tôi tránh những động chạm tình cảm, dù con là con gái. Hay là tôi ngụy biện, tôi đã trở thành một người mẹ khô khan mất rồi? Giai đoạn dậy thì là giai đoạn đặc biệt của con với nhiều biến chuyển tâm sinh lý. Vậy mà tôi lại dần dần xa con. Tôi mải mê bon chen kiếm tiền để lo cho tương lai của con mà quên mất dù ở lứa tuổi nào, con cũng rất cần hơi ấm của mẹ. Tôi mải mê với cơm áo gạo tiền, đôi khi về nhà nổi nóng và tức giận vô cớ khi những việc ở cơ quan không như ý muốn, khi mục tiêu tài chính của tôi không đạt được. Đôi khi tôi nhận ra sự sợ sệt của con, nhưng tôi xoa dịu lương tâm bằng câu nói “Tất cả vì tương lai tốt đẹp của con”. Tôi đã làm con sợ, con không kể cho tôi nghe những câu chuyện dài lê thê trên lớp hay những buồn vui của con nữa… Cho dù con đã rất rộng lượng cho tôi một câu an ủi “Tình yêu của mẹ dành cho con không thay đổi”, tôi vẫn nhìn lại những gì mình đã làm và thấy rằng mình đã rất khác hình ảnh người mẹ trong tâm trí con, hình ảnh người mẹ “ngày xưa” của con! Tôi đã sai khi nghĩ rằng, con tôi đã lớn, tôi cần kiếm tiền để lo cho con đi du học. Tôi quên mất rằng, con tôi cần hơi ấm và sự động viên của tôi hơn là cần những sắp đặt tương lai của tôi!

Cám ơn đề văn của cô giáo, cám ơn những lời văn tha thiết của con. Con đã có những con sóng lớn trong suy nghĩ và tôi đã bỏ qua một thời gian dài! Tôi biết mình phải làm gì để có thể là người mẹ tốt nhất của con trong lúc này! Con gái à, con luôn là nữ hoàng trong thế giới của mẹ!

Quê hương của Tế Hanh – nhìn phía lời đề từ

1.

Với tư cách là “thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm“(1), lời đề từ “Chim bay dọc biển đem tin cá” trong bài thơ Quê hươngnổi tiếng của Tế Hanh ít khi được người đọc dành cho sự quan tâm cần thiết, thậm chí có lúc còn bị lãng quên. Ngay cả tuyển thơ Thi nhân Việt Nam (1941) cũng bỏ qua lời đề từ ấy. Trong lời “Nhỏ to…” in cuối cuốn sách, các tác giả bộc bạch: “Tôi xin lỗi vì đã tự tiện bỏ hầu hết những lời đề tặng trên các bài thơ. Trong một quyển hợp tuyển những lời ấy sẽ thành vô nghĩa. Tôi chỉ giữ lại những lời đề tặng cần phải có mới hiểu được ý thơ“(2). Các tác giả Thi nhân Việt Nam là những người có phong cách cẩn trọng và quan điểm phê bình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người“. Với lời đề tặng mà cân nhắc như thế, thì với đề từ chắc chắn họ sẽ rất đắn đo. Bởi thế, trong phạm vi tư liệu có thể tìm hiểu, chúng tôi chỉ hơi ngạc nhiên về điều thiếu sót này. Có thể nhà soạn sách chép thơ theo trí nhớ chăng?! Nhưng đáng ngạc nhiên hơn ở chỗ: sách giáo khoa hiện hành đã in nguyên dạng rồi (SGK chú thích nguồn: trong Thi nhân Việt Nam??), mà nhiều người vẫn sơ ý bỏ qua.
2. Hơn một lần, cả trong thơ và trong những bài trả lời phỏng vấn của bạn văn, Tế Hanh nhắc đến lời đề từ ấy. Xin trích một đoạn điển hình: “Tôi đến với thi ca khá sớm. Cha tôi là một nhà nho (…) Ông thường đọc cho tôi nghe những bài thơ chữ Hán của các nhà thơ đời Đường và của ông cha ta trước kia, dù không hiểu gì mấy nhưng tôi vẫn thấy hay. Ngoài ra, cha tôi còn làm nhiều bài thơ chữ Nôm. Tôi nhớ nhất là bài tả cảnh quê nhà, trong đó có hai câu mà tôi rất thích: Chim bay dọc biển đem tin cá/ Nhà ở kề sân, sát mái nhà. Khi làm bài thơ Quê hương vào năm 1939, tôi đã lấy câu thơ của cha tôi làm tiêu đề.”(3) Như vậy, có thể khẳng định Tế Hanh đã sử dụng câu đề từ (ông gọi là “tiêu đề“) “Chim bay dọc biển đem tin cá” và chú thích dòng chữ “Câu thơ của thân phụ tôi” ngay khi sáng tác bài thơ và chép tay vào tập “Nghẹn ngào” (tập thơ đoạt giải thưởng Tự lực văn đoàn, năm 1945 bổ sung tái bản với cái tên “Hoa niên“). Điều này rất có ý nghĩa. Nó chứng tỏ dù là “thành phần nằm ngoài văn bản” nhưng trong trường hợp này giữa lời đề từ và văn bản thơ “Quê hương” chắc chắn có mối quan hệ hữu cơ. Cách gọi đề từ là “tiêu đề” cũng rất đáng lưu tâm. Có thể nhà thơ của chúng ta không mấy quan tâm đến thuật ngữ, nhưng chữ “tiêu đề” mà ông dùng trong trường hợp này nó gợi một cách hiểu linh hoạt. Tiêu đề chính thức của văn bản là Quê hương, phải chăng theo thi nhân nó còn có thể có một tiêu đề khác nữa? Nếu thế, cái “tiêu đề” mà Tế Hanh nói chẳng phải đã cùng sinh mệnh với 20 dòng thơ kia rồi sao?! Mặt khác, chúng ta cũng cần chú ý tới thái độ hết sức kính trọng của tác giả trong cách chú thích lời đề từ: “Câu thơ của phụ thân tôi“. Trong thái độ kính trọng phụ thân còn biểu hiện sự hàm ơn. Hàm ơn không chỉ bởi nhà thơ tưởng nhớ công sinh thành trời biển mà còn vì công “nuôi dưỡng tâm hồn” (Thơ đã hóa tâm hồn/ Sách đã thành tri kỷ – bài Cái tủ sách của cha tôi), công lao dắt dẫn mình vào thế giới diệu kì của thi ca. Bài Quê hương viết trong xa cách, trong nỗi niềm da diết nhớ quê. Nỗi nhớ quê gắn liền với nỗi nhớ gia đình và người thân, đặc biệt là nỗi nhớ người cha thích cảm tác và ngâm vịnh văn chương. Không bắt đầu từ những gì gắn bó nhất, thân thuộc nhất, máu thịt nhất, liệu cảm xúc có trào dâng và tài năng Tế Hanh có thăng hoa để Quê hương có thể thành kiệt tác? Câu trả lời tưởng đã quá rõ! Nói theo cách của các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học thì ở đây chính lời đề từ đã “khơi nguồn cảm hứng cho tác giả trong quá trình sáng tạo“(4). Và như vậy, nhìn phía lời đề từ nghĩa là nhìn phía tâm lý sáng tạo, trong trường hợp này là nhìn phía sự kiện đời sống làm bật nảy tứ thơ, khơi dậy và định hình dòng cảm xúc mãnh liệt trong bài thơ. Nhìn phía lời đề từ, bởi thế, cũng là một góc nhìn giúp người đọc thấy thêm nhiều vẻ đẹp của tác phẩm, có thêm cơ hội chiếm lĩnh được bài thơ trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó.
3. Nhưng nhiều người chắc chẳng thấy thuyết phục bởi cách lý giải theo quy luật bếp núc ấy? Họ sẽ cho đó là suy diễn. Nói gì thì nói, văn chương là sáng tạo, là nghệ thuật của ngôn từ, là “cây đời xanh tươi“, không thể quy kết nếu không bám vào thế giới hình tượng. Thế nên, chúng ta cần nhận rõ mối quan hệ hữu cơ giữa lời đề từ và văn bản thơ Quê hương.
Vì sao trong vô số bài thơ mà người cha từng đọc, nhà thơ lại nhớ và thích nhất câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá“? Là người có lòng với văn chương nhưng cụ Trần Tất Tố hình như không có duyên cùng chữ nghĩa. Bạn đọc biết đến lòng yêu văn chương của cụ có lẽ chỉ bởi câu thơ được con trai cụ lấy làm đề từ trong bài thơ nổi tiếng này thôi. Câu thơ rất bình thường trích trong một bài thơ cụ làm tả cảnh quê nhà. Nói là bình thường bởi dù viết với hình thức thất ngôn với mục đích vịnh cảnh nhưng lời thơ rất giản dị, nôm na. Thế nhưng, khi tách khỏi bài thơ, nó lại có sức gợi lạ lùng. Nó giản dị như một câu tục ngữ nhưng lại có sức gợi mạnh mẽ như ca dao trữ tình. Có lẽ Tế Hanh cảm nhận được vẻ đẹp kì diệu đó của câu thơ chỉ từ khi chàng trai 15 tuổi mang theo nó trong kí ức xa quê, trải nghiệm trong nỗi niềm nhớ quê? Và có lẽ mỗi lúc nhớ quê, chàng trai ấy lại hướng lòng về xứ Quảng và ngâm nga “Chim bay dọc biển đem tin cá/ Nhà ở kề sân, sát mái nhà“?!… Câu thơ thứ hai thuần tả cảnh, giản đơn. Câu thứ nhất vừa tả cảnh vừa tái hiện bức tranh cuộc sống sinh động. Câu thơ viết về cảnh “chim bay dọc biển” khiến người đọc hình dung một không gian cao rộng, trải dài, khoáng đạt của trời biển bao la. Những cánh chim bay “dọc biển” gợi sự thanh bình, yên ả của cuộc sống, nhất là cuộc sống của dân chài lưới ven biển, bám biển. Vế sau của câu thơ, đặt trong mối liên hệ với vế trước còn hé lộ một kinh nghiệm sống của dân chài: Chim bay dọc biển đem tin cá. Với dân biển, muốn biết tình hình thời tiết để ra khơi, theo kinh nghiệm xưa, họ quan sát bầu trời để thu thập thông tin rồi mới quyết định. Những cánh chim bay “dọc biển” là một trong rất nhiều thông số quan trọng. Nếu chim bay gấp gáp, loạn xạ, có khi như lao vút, như muốn đâm đầu vào những xóm mạc ở đất liền… chính là dấu hiệu chẳng lành, là tín hiệu của bão tố, phong ba. Những cánh chim hiền hòa “dọc biển” dạo bay trong không gian một bên là bờ bãi và một bên là biển cả xanh biếc mênh mông mang theo thông điệp bí mật và tinh tế của thiên nhiên về những ngày trời yên bể lặng. Chim đem tin, và dân biển sẽ nhận tin! Bộc lộ một tình cảm gắn bó với quê hương, gợi một cảnh vật điển hình và mang chở một kinh nghiệm truyền thống quý báu trong một hình thức ngôn từ giản dị, đó là vẻ đẹp của câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá“. Ngẫm câu thơ này, chợt nhớ một ý của Hữu Thỉnh: “Những câu thơ hay thường có xu hướng tách ra khỏi bài thơ để trở thành các giá trị độc lập. Nói một cách khác, những câu thơ hay thường xóa bỏ xuất xứ của nó“(5). Có thể coi câu thơ chúng ta đang đọc thuộc vào số ấy. Cụ Trần Tất Tố tả cảnh mà gợi được cái thần sắc, cái linh hồn kì diệu của cảnh đã có sức khơi gợi mạnh mẽ những vùng sáng trong kí ức người đọc. Người đọc tâm đắc trước hết của cụ chính là Trần Tế Hanh, con trai cụ. Chính câu thơ gợi linh hồn làng biển của cụ đã thức dậy cảm hứng mãnh liệt của Tế Hanh, để nhà thơ trẻ viết nên kiệt tác về quê hương vạn chài – ở kiệt tác ấy linh hồn làng biển hiện lên đầy hình sắc. Nói câu thơ đề từ là sự kiện đời sống làm bật nảy tứ thơkhơi dậy và định hình dòng cảm xúc mãnh liệt trong bài thơ là nói theo ý nghĩa ấy. Câu đề từ gợi hứng, hình ảnh và kỷ niệm bừng dậy, bài thơ cứ thế hình thành một cách hết sức tự nhiên như bức tranh cuộc sống vốn vậy.
Đọc Quê hương, nếu bỏ qua những điều vừa nói ở trên, liệu có làm mất đi cơ hội thấy thêm nhiều vẻ đẹp của tác phẩm, có thể chiếm lĩnh được bài thơ trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó? Rất có thể. Ở trên, ta vừa nói đặc sắc của bài thơ quê hương là đã gợi hình sắc linh hồn làng biển từ trong nỗi nhớ. Thực tế, vì sơ ý bỏ qua lời đề từ, nhiều người đã đọc và giảng dạy Quê hương theo những hướng khác nhau, ít chú ý khai thác điểm đặc sắc, có tính khác biệt của nhà thơ xứ Quảng trong bài thơ về một chủ đề quá quen thuộc.
Về hai câu thơ mở đầu bài thơ, các tác giả của Sách giáo viên Ngữ văn 8tập 2, tr. 23 hướng dẫn: “Hai câu thơ mở đầu rất bình dị, tự nhiên, tác giả giới thiệu chung về làng quê của mình, nội dung hầu như chỉ có ý nghĩa thông tin,...”. Nói Tế Hanh giới thiệu chung về làng quê “bình dị“, “tự nhiên” là đúng nhưng nói “nội dung hầu như chỉ có ý nghĩa thông tin” thì không chính xác. Chi tiết thơ “cách biển nửa ngày sông” là cách nói quá quen thuộc với tác giả – người có 15 năm tuổi thơ gắn bó với quê hương làng chài, nhưng lại lạ lẫm với tất cả chúng ta. Đó là cách nói đặc trưng của người dân có gốc gác “vốn làm nghề chài lưới“. “Từ đất quế, sông Trà Bồng thẳng một dòng chảy về hướng đông. Đến đoạn thôn Giao Thủy, xã Bình Thới, huyện Bình Sơn, sông tách ra làm đôi ôm kín một vùng đất rồi hợp dòng xuôi về cửa biển Sa Cần. Đất cù lao ấy có tên gọi là xa Bình Dương, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Tế Hanh.“(6) Vị trí, khoảng cách ấy qua thơ Tế Hanh thật khác. Cách đo khoảng cách bằng “ngày sông” chẳng phải là lối nói bằng hình tượng độc đáo của những con người mộc mạc chốn làng quê đó sao?! Cách nói, cách nghĩ của người dân quê nơi nào thường gắn với thổ ngơi nơi ấy!
Ở đoạn thơ thứ hai, trong cảm hứng mà câu thơ “Chim bay dọc biển…” khơi gợi, tác giả nhớ lại và đặc tả cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá. Đó là bức tranh cuộc sống lao động sáng tươi và khỏe khoắn. Kí ức về cảnh sinh hoạt quê nhà trong Tế Hanh như vẫn nguyên sơ. Trung tâm bức tranh là hình ảnh con thuyền và người dân chài. Những dòng thơ tả cảnh, tả người ở đây đều sinh động, tài hoa. Tả con thuyền “hăng như con tuấn mã/ Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang” mà gợi lên vẻ đẹp cường tráng, dồi dào của người dân lao động miền quê biển. Đặc biệt, linh hồn làng biển hiện hình qua câu thơ tài hoa chớp được cận cảnh “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng/ Rướn thân trắng bao la thâu góp gió“. Phép so sánh thông thường chỉ làm cho sự vật hiện lên cụ thể, sao qua cách so sánh của Tế Hanh sự vật bỗng trở nên trừu tượng, lớn lao, kì vĩ và linh thiêng?!
Tế Hanh không có ý định tái hiện cảnh lao động một cách trọn vẹn, mà chỉ tập trung thể hiện những dáng nét ấn tượng, thân quen. “Quảng Ngãi ơi! Nơi đã sinh ta/ Đến tuổi mười lăm sống tại nhà/ Từ đấy ta đi, quê khắp xứ/ Suốt đời quê mẹ vẫn không xa.” Đó là bài thơ Gửi Quảng Ngãi (1983), một kênh lý giải cội nguồn cảm hứng trong sự nghiệp thơ của ông, và góp phần cho chúng ta hiểu hơn bài thơ Quê hương. Những hình ảnh làng quê hiện về trong kí ức, thức dậy những kỷ niệm, và vì không trải nghiệm cuộc sống thực sự của người dân đánh cá nên thi sĩ không nói về cảnh “Ra đậu dăm khơi dò bụng biển/ Dàn đan thế trận lưới vây giăng” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận), chỉ nhớ cảnh trên bờ. Với tình cảm sâu sắc, khả năng quan sát tinh tế, Tế Hanh đã thể hiện được nhiều nét thần tình. Một câu nói quá đỗi quen thuộc của người dân chài “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe” được nhớ lại, gợi nhắc không khí náo nhiệt, đặc tả niềm vui bình dị, tình cảm chân thành cảm tạ thiên nhiên. Cảm tạ “ơn trời” phải chăng là cảm tạ từ ân huệ thiên nhiên ban tặng qua tín hiệu “Chim bay dọc biển…”? Màu sắc tín ngưỡng trong câu thơ giản dị khắc họa rõ nét thêm vẻ đẹp mộc mạc của tâm hồn người lao động! Với cảm hứng tái hiện nét thần tình của cảnh vật đang dâng trào mãnh liệt, Tế Hanh đã có được những dòng tuyệt bút: “Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng/ Cả thân hình nổng thở vị xa xăm;/ Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm/ Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ“. Con thuyền đánh cá ở biển và người dân lao động làng chài đã hiện lên đúng thần thái, hồn vía và trở nên sống động phi thường.
Trong đoạn kết trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ quê, nhà thơ đã khái quát những nét tiêu biểu đọng lại trong tâm tưởng khi “xa cách“: màu nước biển biếc xanh, màu cá bạc tươi ngon, màu của cánh buồm vôi lộng gió… Tất cả vẫn còn hằn in. Cùng với đó là hình ảnh “động”: “Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi“. Quê hương tươi nguyên trong trái tim người xa cách không chỉ với những ảnh hình từ “tĩnh” đến “động” mà còn với cả “cái mùi nồng mặn” đặc trưng. Đó là cái vị xa xăm mặn mòi của biển khơi ngấm đọng trong thân hình dân chài lưới, cái mùi thấm sâu trong từng thớ gỗ của những con thuyền hòa lẫn cái mùi phảng phất trên khắp vùng quê biển “Gió đưa thơm mùi cá nướng ngọt ngào“… Cái mùi ấy mơ hồ nhưng chính nó khiến cho nỗi nhớ quê thường trực, da diết trở nên hiện hữu, sâu sắc và ám ảnh lòng người hơn bao giờ hết!
4. Chế Lan Viên nói Tế Hanh có “khả năng nhìn thấy hồn sự vật“(7), bài thơ Quê hương có lẽ là minh chứng thuyết phục nhất cho điều đó. Thuyết phục bởi nó thuộc vào số những tác phẩm đầu tay, khi phẩm chất thi sĩ bộc lộ một cách hồn nhiên, trong sáng nhất. Thuyết phục còn bởi trong sự nghiệp thơ ca của Tế Hanh đóng góp lớn cho thơ ca dân tộc, đây là một trong những bài xuất sắc điển hình. Cái khả năng “nhìn thấy hồn sự vật” ấy phải chăng là biểu hiện gien trội di truyền từ ông đồ nho Trần Tất Tố từng kết tinh ở câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá” ngày xưa?!

Tháng 10/2012
N.T.T



1 Nhiều tác giả – Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H. 2004, tr. 112
2 Hoài Thanh – Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, H. 1996, tr. 376
3 Lê Minh Quốc – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H. 2000, tr. 489
4 Nhiều tác giả – Sđd, tr. 112
5 Hữu Thỉnh – Theo Tạp chí Thơ, số 5-2012, tr. 66
6 Trần Thanh Tánh – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr. 508
7 Chế Lan Viên – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr. 160

 

Nguồn tin: TCNV 03-2013

Gương chiếu hậu, đồ thị, mùi xoa

TTCT – Ai cũng có lúc gặp đèn vàng ở chỗ đường cắt. Ngã ba ngã tư ngã năm ngã sáu… Ta sắp sửa chạm đến vạch đường người đi bộ thì đèn vàng tắt, chuyển sang đèn đỏ. Vận tốc ấy, quán tính ấy, chỉ còn cách là lỡ đà mà lao tiếp qua cả cái ngã tư đã trở thành mênh mông.

Đôi dép của José

Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, lâu đến nỗi không ai còn nhớ rõ ngày tháng, tại một ngôi làng nhỏ ở phía Nam Brazil, có một cậu bé tên là José sinh sống. Bố mẹ José đã qua đời từ khi cậu còn nhỏ, nhỏ lắm và cậu được một bà cô vô cùng keo kiệt nuôi nấng.

Coelho, Paulo –

Bà này thì dù có bạc vạn đi nữa cũng chẳng chịu mất một đồng nào sắm sanh cho đứa cháu. José vốn chưa từng biết đến tình yêu, tưởng rằng cuộc sống là như thế, nên cậu chẳng hề thấy phiền lòng. Continue reading Đôi dép của José