Category Archives: Sách hay 2015

Jules Verne và tác phẩm ‘Hai vạn dặm dưới đáy biển’

Năm 1865, nhà văn Jules Verne cùng gia đình đến nghỉ ở Crotoy trong hai tháng 8 và 9. Crotoy giờ đây là một thị trấn nhưng hồi đó chỉ là một xóm chài không lớn lắm. Gia đình Jules Verne thuê một ngôi nhà nhỏ hai tầng xinh xắn, ngay cạnh một đường hầm mà cậu con trai của ông đặt tên là “Solitude” (cô độc). Jules Verne có một căn phòng làm việc ở tầng 1, nhưng ông làm việc cả trong đường hầm nói trên.

 –

Ngày 25/7/1865, bạn ông là nhà văn nữ George Sand viết cho ông: “Tôi hy vọng là ở đấy anh sẽ đưa chúng tôi xuống những vùng biển sâu và buộc các nhân vật của anh phải phiêu lưu bằng những con tàu ngầm mà kiến thức và trí tưởng tượng bay bổng của anh chắc chắn sẽ hoàn thiện được”. Verne nhận được rất nhiều lời khuyên như vậy ngay từ trước khi ông đến Crotoy. Bởi thế ngay khi đến nơi, ông phác thảo sườn của cuốn tiểu thuyết mà ông đặt tên là Phiêu lưu dưới nước. Nhưng nỗ lực đầu tiên của ông không thành công: ông thiếu tư liệu, hơn nữa nghề viết văn chẳng đem lại cho ông mấy tiền nên ông phải làm thêm các việc khác có thu nhập cao hơn.

Vào năm 1865 ấy, Jules Verne đã 37 tuổi và còn chưa nổi tiếng. Trước đó ông đã sống vài năm ở Paris, miệt mài làm việc, khát khao trở thành nhà viết kịch, nhưng không thành công. Ông quyết định chuyển sang thể loại khác. Năm 1863, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Bảy tuần trên khinh khí cầu và bắt đầu được nhiều người biết đến. Mặc dù thu được thành công nhưng để trang trải chi tiêu, ông buộc phải bắt tay vào biên soạn cuốn Địa lý Pháp và các thuộc địa của Pháp qua minh họa. Khi ông cùng gia đình trở lại Crotoy vào năm 1866 thì công trình này vẫn chưa hoàn thành.

Tháng 6/1867, Jules Verne vượt Đại Tây Dương sang Mỹ trên con tàu “Great Eastern”, một con tàu biển khổng lồ vào thời ấy. Ông có dịp ngắm nhìn và nghiên cứu biển cả. Sau khi trở về Paris, ông đến thăm triển lãm quốc tế trên quảng trường Mars. Tại đây, ông thích thú quan sát đề án xây dựng kênh đào Suez, công nghệ chế tạo những chiếc tàu ngầm đầu tiên và những bộ đồ lặn đầu tiên. Những kiến thức mới thu lượm được đã giúp ích cho ông rất nhiều và kích thích mạnh mẽ trí tưởng tượng phong phú của ông. Khi quay trở lại Crotoy, ông hăm hở cầm lấy bút. Ông thông báo cho người chủ xuất bản của ông là Pierre Jules Hetzel về ý định quay trở lại với đề tài Cuộc phiêu lưu dưới nước. Lúc này, trong đầu óc ông đã hiện rõ những ý tưởng hết sức cụ thể.

Ông mua một chiếc xuồng máy đánh cá rồi sửa sang lại thành một chiếc tàu nhỏ mà ông đặt tên là “Saint Michel”. Với chiếc tàu này ông tin là có thể tiếp cận trực tiếp với biển cả. Trước lúc hạ thủy con tàu, ông viết cho Hetzel: “Tôi say mê khối kết hợp đinh và ván gỗ này như chàng thanh niên 20 tuổi say mê người yêu. Và tôi sẽ còn trung thành hơn với chàng ta nữa”.

Jules Verne quanh quẩn hàng tiếng đồng hồ trên con tàu bằng gỗ của mình. Cabin phía sau được ông biến thành phòng làm việc. Tại đây ngổn ngang những cuốn từ điển, những tập sách về kỹ thuật và về nghề hàng hải.

Cũng chính trên con tàu “Saint Michel” này mà Jules Vernes, một người rất mê cuốn Robinson trên hoang đảo và môn địa lý rút cuộc đã có thể tưởng tượng mình là một thuyền trưởng cô độc. Và sự cô độc này đã cổ vũ ông. Nhân vật Nemo ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Ông viết cho Hetzel: “Bạn thân mến của tôi. Nếu tôi thành công thì cuốn sách sẽ tuyệt vời biết bao! Tôi đã được thấy bao điều thú vị trên biển, khi tôi rong ruổi trên chiếc “Saint Michel”. Mùa thu năm đó ông lại viết cho Hetzel: “Bạn thân mến của tôi. Vào lúc tôi viết những dòng này cho bạn thì tôi đang đứng trước Gravesen và đang hoàn thành tập một cuốn Hai vạn dặm dưới đáy biển. Đến năm 1869 thì ông hoàn thành tập hai.

Từ ngày 20/3/1870, cuốn tiểu thuyết mới của Jules Verne được đăng dần trong Tạp chí Giáo dục và nghỉ ngơi. Ngày 20/7 năm đó, phần cuối của tiểu thuyết ra mắt bạn đọc. Kết thúc phần cuối này là những lời sau đây: “Liệu ai có bao giờ đo được chốn đại dương sâu thẳm? Chỉ hai người duy nhất có quyền trả lời câu hỏi này – đó là Nemo và tôi”. “Tôi” ở đây là giáo sư Aronax, người dẫn truyện trong cuốn tiểu thuyết.

Tháng 7/1870, tiết trời rất ấm áp. Jules Verne cùng hai thủy thủ đáp con tàu “Saint Michel” rời Crotoy và đi dọc theo bờ biển Picardie và Normandie cho tới cửa sông Seine rồi tiến về phía Paris. Tại Paris, ông rời con tàu yêu quý của ông và đi đến phố Jacob để bắt chặt tay người bạn Pierre Jules Hetzel của ông. Hiển nhiên đây là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời Jules Verne.

(Nguồn: Văn nghệ

Jules Verne qua những tác phẩm viễn tưởng

Sau Agatha Christie, Jules Verne là nhà văn có đông độc giả nhất trên thế giới. Ông cũng nhận được rất nhiều lời tán dương từ giới phê bình, nghiên cứu. Truyện của ông không chỉ được đánh giá là mang đến những sắc màu ấm áp mà ông còn được ngợi ca như một người có lối dẫn truyện hấp dẫn, khiến người đọc không thể nào rời khỏi trang sách khi chưa biết chuyện gì sẽ tiếp tục xảy ra.
H.T. –

Nữ hoàng trinh thám Agatha Christie cũng đạt được thành công này với tài năng bậc thầy trong việc xây dựng cốt truyện. Bà không chỉ là người tiết lộ cho người đọc kết quả cuối cùng “ai đã làm việc đó” mà còn dẫn người đọc thưởng thức và cảm nhận “việc đó đã được tiến hành như thế nào?”. Nhìn vào những cuộc hành trình qua các tựa sách của Verne, người ta cũng có thể hình dung được thế mạnh của nhà văn.

Jules Verne qua những tác phẩm viễn tưởng

Nhà văn Jules Verne.

Để hiểu được ma lực trong lối kể chuyện của Verne, chỉ cần điểm qua những tựa đề nổi tiếng của ông như: A Journey to the Center of the Earth (Hành trình vào trung tâm Trái đất – 1864), Twenty Thousand Leagues Under the Sea (Hai vạn dặm dưới đáy biển – 1869-1870), Around the World in 80 Days (Vòng quanh thế giới trong 80 ngày – 1873), The Mysterious Island (Hòn đảo bí ẩn – 1874-1875)… Tất cả đều là những câu chuyện kỳ diệu và khác thường trong thế giới tưởng tượng của nhà văn. Verne (1828-1905) sống trong thời kỳ hoàng kim của công cuộc mở rộng thuộc địa và khám phá trái đất. Khoa học kỹ thuật có sự phát triển ồ ạt, đặc biệt là việc sáng tạo ra những phương tiện thông tin liên lạc, đi lại mới và hiện đại cùng với những công cụ có khả năng phá hủy lớn. Vì thế, trong tiểu thuyết của Verne, trí tưởng tượng được chắp cánh với những điều kỳ diệu phát sinh từ những phòng thí nghiệm cho đến những cơ sở sản xuất.
Sự thực là trước khi Hollywood phát minh ra những hình ảnh đồ thị trên máy vi tính, những tác phẩm của Jules Verne đã cung cấp cho người đọc những hình ảnh tương tự. Verne đã nhanh nhạy hòa trộn cái hiện thực với những cái gần như sẽ trở thành hiện thực, ghi lại những sự kiện khoa học lúc bấy giờ. Kết quả là những sáng tác của ông luôn khiến cho người đọc vừa thán phục vừa hồ nghi: “Những thứ này được làm như thế nào nhỉ”, Liệu mình có thể làm được như thế không?”.

Nhưng cho đến nay, những tác phẩm của Jules Verne vẫn gặp phải 3 điều không may mắn. Thứ nhất, sách của ông thường được chuyển sang tiếng Anh bằng những bản dịch rất tệ, nếu không bị cắt bỏ thì cũng bị thêm thắt một cách vô lối. Thứ hai, tác phẩm của Verne thường gắn liến với những giá sách của các em thiếu nhi mặc dù ông sáng tác cho mọi lứa tuổi. Thứ ba, những tác phẩm xuất bản sau khi nhà văn qua đời thường là của con trai nhà văn viết nhưng lại “vô tình” gắn tên tuổi ăn khách của cha mình vào đầu trang sách.

Tuy nhiên, điều này cũng không ảnh hưởng nhiều đến danh hiệu cha đẻ của thế loại tiểu thuyết viễn tưởng của Jules Verne (“mẹ đẻ” của thể loại này là nhà văn Mary Wollstonecraft Shelley).

Trong các tiểu thuyết khoa học của mình, Jules Verne không bao giờ quên những yếu tố chính trị. Bên cạnh những cuộc hành trình tìm đến những điều bí ẩn nào đó, truyện của Verne bao giờ cũng ẩn chứa những thông điệp nhất định. The Begum’s Millions là tác phẩm đầu tiên Verne xây dựng nên một nhà khoa học có mục đích xấu, báo hiệu cho chủ đề mới sẽ xuất hiện nhiều trong những tác phẩm sau này của ông, đó là những tác động khôn lường của khoa học đối với xã hội loài người như:Dr. Ox’s Experiment (1874), Master of the World (1904), The Barsac Mission (1919).

(Nguồn: Washingtonpost

Cái chết bí ẩn của Edgar Allan Poe

Edgar Allan Poe nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết trinh thám huyền bí. Ông qua đời năm 1849. Cái chết của nhà văn đến nay vẫn còn là một bí mật lớn, khiến không ít học giả và bạn đọc phải “đoán già đoán non”. Dưới đây là những kiến giải của Matthew Pearl về một trong những nghi án gây tò mò nhất trong lịch sử văn chương này.

Matthew Pearl –

Đám tang của Edgar Allan Poe tại Baltimore chỉ có 4 người tham dự, nếu không kể thêm một vị linh mục, một người đào mộ và một người trông coi nghĩa địa. Vị linh mục – vốn là người có họ hàng xa với nhà văn – cũng không buồn đọc lời ai điếu trước sự kiện “cỏn con” này. Khu mộ phần của nhà văn chẳng có dòng chữ nào để khắc dấu ghi tên. Tạo hóa cũng khéo đùa, khiến cho chuyến hành trình về ga cuối của nhà văn đầy lạnh lùng, trống vắng như chính cái chết của ông. 15 năm sau, một chuyến tàu bị trật đường ray, xô vỡ mộ chí. Nhờ đó, về sau, một bia mộ bằng đá được dựng lại, trên đó khắc dòng chữ: “Hic Tandem Felicis Conduntur, Edgar Allan Poe, Obiit Oct. VII 1849” (Nơi đây, cuối cùng ông đã được yên nghỉ, Edgar Allan Poe qua đời 7/10/1849”.

Edgar Poe (họ “Allan” thường rất ít khi được gọi kèm với tên ông [1]) đã trải qua một những năm tháng đầy cực nhọc, khó khăn trước khi qua đời ở tuổi 40. Khi còn là một chàng trai mới lớn, ông đã có nhiều mâu thuẫn với cha nuôi, bị đuổi ra đường, sống vất vưởng và bắt đầu dấn thân vào thế giới văn chương. Ông viết khoảng 70 tác phẩm văn xuôi đủ các thể loại, khoảng chừng ấy bài thơ, một cuốn tiểu thuyết không mấy nổi tiếng, một vở kịch còn dang dở… và thách thức văn đàn rộng lớn bằng những bài phê bình có giọng điệu gay gắt, khó chịu và đầy khiêu khích. Poe bị không ít người khinh ghét và gặp nhiều khó khăn về vật chất nhưng bù lại, ông được đánh giá là một nhân cách đáng trọng.

Poe không phải là một thần tượng, một nhân vật quan trọng ở thời điểm ông qua đời. Nhà văn hoàn toàn có thể biến mất một cách vô nguyên cớ. Và sự thật đã diễn ra như vậy. Vào cuối tháng 9/1849, nhà văn có chuyến đi tour giảng bài và nói chuyện tại Richmond, Virginia nhằm kiếm tiền để ra mắt tờ tạp chí văn học của chính mình – The Stylus. Từ Richmond, ông dự định sẽ đến Philadelphia và sau đó trở về nhà ở New York – từ đây, ông sẽ đi du lịch về phía Nam cùng với người cô của mình là Maria Clemm. Nhưng rồi, các quan chức ở Baltimore cho biết, sau 5 ngày mất liên lạc với nhà văn, cuối cùng, họ phát hiện thấy ông bất tỉnh trong một nhà trọ có tên là Ryan’s.

Cái chết bí ẩn của Edgar Allan Poe

Chân dung Edgar Allan Poe.

Đến đây, chúng ta có thêm một số thông tin đã biết. Theo Neilson Poe, một người họ hàng của nhà văn ở Baltimore thì khi Edgar được đưa đến bệnh viện, các bác sĩ cho biết, bệnh nhân đã quá yếu và được phát hiện quá muộn. Ngay sau khi Edgar qua đời, Neilson đã kiểm tra tỉ mỉ khu vực nhà văn đã ở và than khóc, ông không tìm thấy câu trả lời cho cái chết bí ẩn của nhà văn. Tuy nhiên, một vài tuần sau, Neilson viết một bức thư cho người viết tiểu sử của Edgar Poe và thông báo, ông sở hữu tất cả thông tin về cái chết của nhà văn và sẽ viết một cuốn sách về vấn đề này. Nhưng Neilson đã không bao giờ hiện thực hóa dự định của mình.

Ngày nay, câu chuyện về cái chết của Edgar Poe đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm. Baltimore đã xây dựng một số bảng chỉ dẫn đến khu mộ của nhà văn. Du khách có thể đặt hoa tại đài tưởng niệm Edgar Poe được xây dựng năm 1875. Nơi đây, bây giờ không chỉ có 1 mà đến 2 mộ chí. Một là mộ chí chỉ rõ phần mộ ban đầu của nhà văn, còn cái kia chính là nơi thi thể của ông được dịch chuyển đến sau này. Hằng năm, đến sinh nhật nhà văn, người ta lại tụ tập trước mộ phần của ông, trong số đó có không ít phóng viên báo chí. Trong khi đó, ngược lại, rất ít người biết rằng, Poe được sinh ra tại Boston. Hay nói cách khác, tiểu sử của nhà văn thường bắt đầu từ nơi ông qua đời chứ không phải từ nơi ông được sinh ra.

Trong tuyển tập thơ và truyện ngắn của Poe mà tôi đọc từ thời còn nhỏ, người ta nói rằng, Poe được tìm thấy tại một máng nước trong tình trạng rất tồi tệ. Dù sự thực chẳng có cái máng nước nào dính líu đến cái chết của Poe nhưng giai thoại này đã tồn tại ít nhất từ năm 1850. Những câu hỏi xoay quanh cái chết của nhà văn đã khiến cho trang viết của ông càng thêm hấp dẫn, bí ẩn. Khi tôi bắt tay vào tìm hiểu về tác giả của Con quạ, một số người đã hỏi tôi, liệu có phải Poe đã dàn xếp cái chết của mình để độc giả phải đau đầu suy đoán.

Giả thuyết này đã được đưa ra từ cách đây khá lâu. Baudelaire từng coi cái chết của Edgar Poe – nhà thơ Mỹ được ông yêu thích nhất là “gần như một vụ tự sát”. Cách giải thích này vẫn lưu hành tại Mỹ cho đến tận cuối thế kỷ 19. George Eveleth – một bác sĩ trẻ từng giao du với nhà văn đã đặt ra nghi vấn, phải chăng Poe giả vờ chết nhằm đánh lừa độc giả của mình. Từ khi vừa bước chân vào làng văn, Poe vốn là một con người yếu ớt nhưng luôn có thái độ báng bổ thần linh hoặc ít nhất cũng là coi thường cái chết […].

Sau khi nhà văn qua đời, tên tuổi của ông trở nên nổi tiếng. Vào đầu thế kỷ 20, một hãng thuốc lá đã lấy tên ông để đặt tên cho một loại cigarette với dòng chữ in trên bao bì: “Quẳng gánh lo đi bằng một điếu cigarette thơm phức hiệu Poe”.

Bóng đen vây quanh cái chết của nhà văn ngày càng dày đặc thêm bởi những giai thoại của người đời sau. Năm 1899, một người phụ nữ theo thuyết duy linh cho biết, bóng ma của Poe đã hiện về đọc cho bà một bài thơ, tiết lộ sự thật cái chết của ông.

Các học giả đã dựa vào hiện trạng “thiếu thốn tư liệu” về cái chết của nhà văn để đưa ra những giả thuyết cho rằng, Poe có thể là một nạn nhân – của một vụ cướp, một âm mưu chính trị, hay thậm chí là sự trả thù của một người phụ nữ nào đó từng bị ông tán tỉnh.

Mỗi giả thuyết đều có những dẫn chứng và lý lẽ riêng. Trong một triển lãm tại bảo tàng Poe tại Richmond có một khối lập phương bằng nhựa xoay tròn, trên đó ghi lại khá nhiều cách giải thích về cái chết của nhà văn. Khối lập phương tại bảo tàng Poe đã trở thành một biểu tượng điển hình cho sự phong phú của các giai thoại về cái chết của Poe. Ngày nay, các giả thuyết này có vị trí khá ngang ngửa với nhau. Đó là nguyên nhân khiến tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết về cái chết của nhà văn, để tìm hiểu tại sao, những cách giải thích khác nhau này lại có thể cùng tồn tại như vậy được. Nhưng khi bắt tay vào công việc, tôi đối mặt với một câu hỏi lớn: Câu chuyện về cái chết của Poe có gốc tích từ trong lịch sử hay xuất phát từ tiểu thuyết của ông?

Sự bí ẩn quanh cái chết của Edgar Poe xem ra thích hợp với ông hơn bất cứ nhà văn nào khác. Ví như, lịch trình những ngày cuối trong cuộc đời ông đã cho thấy nhà văn hầu như sống cuộc đời trôi nổi từ nơi này đến nơi khác. Ông từng sống ở Boston, Richmond, Baltimore, Philadelphia và New York. Chặng cuối của Poe đã phản ánh đúng thói quen xê dịch không thể làm chủ được của nhà văn.

Khi được phát hiện tại nhà trọ Ryan trong tình trạng rất tồi tệ, Poe đã cầu khẩn những người xung quanh mình nhờ đến sự giúp đỡ của tiến sĩ Joseph Snodgrass. Snodgrass, người sống ngay cạnh đã nhanh chóng có mặt và quyết định cùng với những người khác đưa nhà văn đến bệnh viện. Tuy nhiên, một số tài liệu lại cho rằng, Poe tìm gặp Snodgrass để bàn bạc về việc xuất bản tờ tạp chí mới của mình. Thực tế, một người khác mà Poe cũng muốn tìm gặp tại Baltimore là Nathan C Brooks – làm nghề biên tập. Điều thú vị là Snodgrass cũng từng là chủ bút của một tạp chí chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn.

Tại Philadelphia, có một phi vụ béo bở đang chờ đợi Poe. Một nhà sản xuất đàn dương cầm tên là John Loud muốn bỏ ra 100 USD để nhờ Poe tuốt chỉnh lại những bài thơ của bà vợ. Poe chắc không cưỡng nổi lời đề nghị hấp dẫn đó. Thử tượng xem, so với tổng thu nhập năm 1849 của Poe là 275 USD thì 100 USD là số tiền vô cùng lớn. Không có chứng cớ nào rõ ràng khẳng định Poe có đến Philadelphia trong những ngày cuối đời hay không, nhưng một người quen biết nhà văn là Thomas Lane tiết lộ, Poe đã có mặt tại Philadelphia vài ngày trước khi người ta tìm thấy ông tại Baltimore (thông tin này cũng không thể kiểm chứng).

Một nhân vật đáng quan tâm nữa là Neilson Poe. Dù không có tài liệu nào của Neilson về cái chết của Poe được tìm thấy ngày nay, nhưng như thế không có nghĩa là ông không kể câu chuyện mà mình biết cho một ai đó. Ban đầu, tôi cho rằng, Neilson sẽ kể cho cháu gái của mình là Amelia Poe. Nhưng thực tế, Neilson đã kể nó cho một người bạn tên là Coale khi anh này đang thu thập tài liệu để viết một bài báo về Edgar cho tạp chí của Harper vào năm 1871. Ông đã chia sẻ một số thông tin để bạn mình sử dụng một cách thận trọng và hợp lý.

Trong số các mẩu tin của Coale, có một chi tiết nói rằng, theo Neilson, Edgar đã đi Philadelphia hoặc ít nhất là đã thử đi. Poe đã lên đường đến Philadelphia nhưng vì uống phải vài cốc rượu, ông mất tự chủ và lại bị tống lên tàu trở về Baltimore. Cách giải thích này nghe ra có vẻ mơ hồ nhưng đã bổ sung cho một số thông tin khác. Poe có vẻ như đã định đến Philadelphia nhưng không thành chứ không phải là ông không định đến thành phố này.

Một trong những điều thú vị nhất tôi vừa khám phá ra đã củng cố cho thông tin của Neilson rằng Poe chưa từng đến Philadelphia, đồng thời phủ nhận giả định của Lane về việc nhà văn từng ở Philadelphia. Poe, vốn mất mẹ từ nhỏ, nên ông sống gắn kết với người dì của mình là Maria Clemm – bà đồng thời cũng từng là nhạc mẫu của nhà thơ. (Poe có một người vợ đầu 13 tuổi là em họ của ông).

Trong quá trình đi du lịch đây đó, Poe thường viết thư về cho dì và ông cũng yêu cầu bà viết lại cho mình. Poe đã đề nghị Clemm gửi trước cho mình một lá thư đến Philadelphia. Ông sẽ nhận được nó khi ông đến thành phố này. Poe hướng dẫn Clemm gửi thư đến cho mình qua bút danh “EST Grey, Esquire” và không ký tên thật ở cuối thư.

Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 19 tại Mỹ, người dân thường đến bưu điện nhận thư chứ không có bưu tá mang đến tận nhà. Nếu bức thư nào đó không có người nhận, báo chí sẽ đăng tin. Vào 3/10/1849 – đúng ngày Poe được phát hiện nằm bất tỉnh tại nhà trọ Ryan’s, trên tờ Philadelphia Public Ledger có liệt kê một bức thư không người nhận gửi cho “Grey, ESF”. Rõ ràng là Maria Clemm đã gửi thư cho Poe (nhưng có thể chữ “T” đã bị nhầm lẫn như thế nào đó thành chữ “F” trong từ “EST”). Như vậy là Poe đã không tới được Philadelphia. Đây có thể là lá thư cuối cùng được gửi đến cho Poe trong cuộc đời ông.

Cùng với cái chết của Christopher Marlowe, cái chết của Edgar Poe là những bí ẩn lớn nhất trong đời sống văn học nhân loại. Nhưng Marlowe vốn là một mật vụ, còn Poe chỉ là một con người bình thường, rất bình thường dù đây đó có những gia thoại rằng ông sống có phần kín đáo và khá lãng mạn.

Hà Linh dịch

(Nguồn: Telegraph

Biên niên ký chim vặn dây cót

Haruki Murakami đã khắc hoạ những cung bậc tinh tế biến ảo tới mức siêu thực của đời sống nội tâm và những giấc mơ, đã vượt qua những thủ pháp kể chuyện có phần duy lý của phương Tây, bộc lộ một cái nhìn tràn đầy vẻ đẹp của Thiền và triết lý phương Đông trong một tinh thần nhân đạo mạnh mẽ.

Haruki Murakami –

Tên sách: Biên niên ký chim vặn dây cót
Tác giả: Haruki Murakami
Dịch giả: Trần Tiễn Cao Đăng
Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam ấn hành.

bien-nien-ky-chim-van-day-cot
Tiếng hót của con chim vặn giây cót chỉ vang lên vào những thời khắc quyết định, khi con người tỉnh thức những tiếng lòng thầm kín, hay khoảnh khắc thấu suốt cảm giác về Định mệnh; tiếng chim tiên báo những thảm hoạ khốc liệt khơi nguồn từ chính con người, cũng là tiếng thúc giục âm thầm của khát vọng đi tìm chân lý. Tiếng hót của chim vặn giây cót trở thành biểu tượng sự thức tỉnh những xúc cảm mãnh liệt và sự trưởng thành về bản ngã của con người trong đời sống hiện đại. Đó chính là ý nghĩa của hình tượng chim giây cót xuyên suốt cuốn tiểu thuyết lớn của Haruki Murakami

Nếu như Rừng Nauy vừa được trao giải thưởng Franz Kafka năm 2006 của Viện hàn lâm nghệ thuật CH Czech, thì Biên niên ký chim vặn dây cót là tiểu thuyết chính thức làm nên tên tuổi Haruki Murakami ở phương Tây và nhiều nước khác trên thế giới. Đến độ trên bìa các cuốn sách khác của Murakami, người ta thường đọc thấy dòng quảng cáo “Được viết bởi tác giả của Biên niên ký chim vặn dây cót”.

Câu chuyện đưa ta đến nước Nhật thời hiện đại, với những thân phận con người bé nhỏ, lạ lùng. Những cô bé 15 tuổi, như Kasahara May, ngồi sau xe môtô phóng với tốc độ kinh hoàng, vươn tay bịt mắt bạn trai phía trước. Sau tai nạn, bạn trai qua đời, chỉ còn lại mình cô với nỗi day dứt khôn nguôi: “Chính vì có cái chết, người ta mới phải băn khoăn nhiều đến thế về sự sống.” Những thiếu nữ, như Kano Kreta, tự kết liễu đời mình để giải thoát những cơn đau triền miên có thể gặp phải bất cứ lúc nào, vì bất cứ điều gì nhưng không thành. Phải trả nợ một khoản tiền lớn cho hãng bảo hiểm, không do dự, cô đi làm gái điếm. Những Dân biểu nghị viên như Wataya Noburu, leo cao trong danh vọng nhờ tài lừa dối đám đông và khả năng khơi dậy những bản năng sa đoạ ở người khác… Trong thế giới ấy, nhân vật chính của Biên niên ký chim vặn giây cót, Okada Toru, chàng trai giản dị và chân thành, phải đối mặt với biến cố lạ lùng: Kumiko, người vợ yêu dấu của anh bỗng nhiên biến mất không một lời nhắn gửi. Sự kiện phi lý này khơi nguồn cho sự thức tỉnh trong Okada, thúc đẩy anh ngắm nhìn, chứng nghiệm lại thế giới tràn đầy cái phi lý chung quanh mình, bằng con mắt bản thể. Với Murakami, thế giới đầy những điều bất thường, phi lý trở thành động lực để con người lên đường trở lại với bản thể chính mình.Cũng tại thời điểm này, Toru Okada nghe thấy tiếng hót của con chim vặn giây cót, như tiếng vọng của bản ngã chính anh. Watanabe bắt đầu cuộc hành trình nhận thức, cuộc hành trình tràn đầy những xúc cảm mãnh liệt khám phá lại cuộc sống và tình yêu đã qua, cuộc sống đang diễn ra, của chính mình và những người xung quanh. Với Okada, từ đây cũng mở ra một thế giới siêu thực với những giấc mơ đầy ám ảnh tính dục, những căn phòng tối đen ngào ngạt phấn hoa cất giấu bí mật về sự lệ thuộc và nô dịch, bóng tối thẳm sâu của bản ngã và xa rời bản ngã, Thiền, và những năng lực tâm linh siêu hình. Trong những mối quan hệ đầy cảm thông và gần gũi với những phụ nữ khác, Kasahara May, mẹ con nhà tạo mẫu Akasaka Nhục đậu khấu, hay Kano Kreta…, Okada dần dần hiểu ra bản chất của cuộc sống con người, không phải một mắt xích của thế giới vật chất cơ giới từ bên ngoài, mà chính là những năng lực tưởng tượng sáng tạo của nội giới, những ám ảnh tinh thần truyền từ người nọ sang người kia, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Okada cũng nối lại trong mình sợi dây liên kết bí ẩn mà mạch lạc với quá khứ xa xăm, nhờ những câu chuyện của các chiến binh xưa và nhân chứng sống như Akasaka. Một thế giới khác, giấc mộng bá chủ không thành của quân đội Thiên hoàng trên cao nguyên Nội Mông, trận Normohan, Trân Châu Cảng, những cuộc tàn sát man rợ trong và sau Thế chiến 2, khi con người từng rơi vào vực thẳm bởi chính sự tàn ác và lầm lạc của chính mình. Okada đã giác ngộ, không còn cách nào khác, chỉ có cương quyết diệt trừ cái ác, bắt đầu từ trong chính những – giấc – mơ của con người, đấu tranh chống lại nó trong chính thực tại hôm nay. Đó cũng là con đường để giải thoát cho người vợ thân yêu của anh đang bị giam cầm trong vết thương tinh thần như một ác mộng khủng khiếp về con quỷ Râu xanh, do chính người anh vợ, chính khách Wataya Noburu gây nên.

Okada và Watanabe của Rừng Nauy, là loại nhân vật quen thuộc của Murakami. Chân thành và giản dị, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ khuôn mẫu xã hội nào, sống và yêu thương với bản tính tự nhiên và hiện sinh, đồng thời lắng nghe, cảm thông, kết nối con người với nhau – các nhân vật thể hiện trọn vẹn và sâu sắc tinh thần nhân đạo của Murakami.

Bạo lực và tình dục, những yếu tố thịnh hành của thể loại tiểu thuyết đen phổ biến trên thế giới, xuất hiện trong tác phẩm của Murakami chỉ như một trong những phương diện miêu tả và khám phá đời sống. Vẻ đẹp tràn đầy tác phẩm là sự tinh tế và mãnh liệt của tinh thần và bản ngã con người, đủ để đưa Murakami đứng vào hàng các tác gia vĩ đại trên thế giới.

So với bản dịch Rừng Nauy ngọt ngào của Trịnh Lữ, Biên niên ký chim vặn dây cót đến với người đọc Việt Nam qua bàn tay của dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng với một phong cách nổi bật bởi sự chân xác, thấu suốt. Người ta không còn có cảm giác đây là một tác phẩm dịch nữa, để có thể tin cậy đắm mình vào sự dẫn dắt kỳ tài của một câu chuyện lớn.

Khánh Phương

Giá đâu đó có người đợi tôi

Lối viết nhẹ nhàng, mỉa mai, hài hước đến lạnh lùng nhưng chạm tới những trái tim đau khổ đã tạo ra cảm xúc thật khó phai, khiến ta xáo động.

Anna Gavalda

Tên sách: Giá đâu đó có người đợi tôi
Tên tác giả: Anna Gavalda
Dịch giả: Bằng Quang
NXB Hội nhà văn năm 2008

Không quá ồn ã, cũng không trải rộng ào ạt, là những câu chuyện nho nhỏ, những lát cắt mỏng, và những nhân vật bạn có thể gặp bất kỳ nơi đâu quanh mình. Nhưng trong đó có những lối nghĩ giản dị mà hóm hỉnh, nhẹ nhàng mà thấm sâu, bạn có cảm giác thân quen và đôi khi hiểu họ như chính bản thân…

Thế giới nhân vật trong Giá đâu đó có người đợi tôi mang một dấu ấn riêng. Đó là một cô gái kiêu kỳ luôn ý thức về sự lôi cuốn của lớp da mịn màng nơi bầu ngực, nơi bờ vai trần và sử dụng chúng như một thứ vũ khí tấn công phái mạnh (Tập tành thượng lưu trí thức). Đó là một chàng hạ sĩ quan nóng nảy, bất cần chợt gặp lại cô bạn thuở nào, nay đã trở thành bạn gái của ông anh trai tài ba (Về phép). Đó là một người chồng cần mẫn mài giũa vị trí của mình trong gia đình mà không thể quên một bóng hình xưa, cho đến ngày đột nhiên nhận được lời hẹn gặp lại (Trong nhiều năm liền)…

Họ đều sống như hiểu mình phải sống, biết làm chủ bản thân và cảm xúc, nhưng điều tuyệt vời nhất là tất cả đều sống thực với bản thân. Đâu cần giấu giếm tâm trạng “tôi đang cần tình yêu”, một cô gái thú nhận trái tim mình như một chiếc túi lớn rỗng tuếch, cái túi đựng được cả khu chợ Ảrập nhưng chẳng có gì bên trong (The Opel Touch). Không thể im lặng trốn tránh, anh chồng nọ đã bỏ qua lời cầu xin của vợ, sự quyến luyến của gia đình, muốn thú tội chỉ vì một thao tác vận hành xe sai quy cách, anh đã vô tình gây nên tai nạn giao thông liên hoàn làm nhiều người chết trên xa lộ (Sự kiện trong ngày)…

Giá đâu đó có người đợi tôi

Trang bìa cuốn sách.

Những nhân vật ấy chẳng chút ngần ngại trong việc bày tỏ khuôn mặt thật và cảm xúc bên trong, cứ như thể độc giả là người bạn gần gũi, đáng tin cậy lắm. Cho dù đó là tâm trạng ủ chê chán chường của một phụ nữ quá thất vọng về chồng mình, vì chị chưa bao giờ được yêu thương và biết chồng đang phản bội (Người đàn ông và người đàn bà). Hay đó là một tình huống dở khóc dở cười của anh chàng độc thân khi đón người trong mộng đến nhà mà không biết sẽ xử lý thế nào với cái giường gấp tai quái (Giường xếp). Căng thẳng hơn là tâm trạng bình thản đến phát sợ của nữ bác sĩ thú y nọ, lạnh lùng xử lý những gã đàn ông vừa hiếp mình (Chỉ ruột mèo)…

Những câu chuyện nhiều sắc màu tâm lý ấy; những giọng điệu đa dạng từ châm chích, mỉa mai đến hài hước, lạnh lùng ấy; những lát cắt vụt hiện ra với độ chân thật đầy thuyết phục ấy… tất cả gộp lại trong một cái nhìn gần gụi, sâu sắc và đầy cảm thông về con người, về những thói quen thường nhật và sự đấu tranh trong nội tâm. Điều này làm nên sự mới mẻ trong cuốn truyện nhỏ của Anna Gavalda: sự kết hợp tuyệt vời giữa những điều giản dị, yếu tố huyền diệu và bi kịch xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.

Anna Gavalda (sinh năm 1970) là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất tại Pháp, riêng cuốn Giá đâu đó có người đợi tôi đã được chuyển ngữ ra ba mươi thứ tiếng khác trên thế giới. Không chỉ là một hiện tượng trong văn học, Anna Gavalda còn là một hiện tượng trong xã hội Pháp (được gọi là Gavaldania) sau những thành công rực rỡ từ các tác phẩm ít ỏi của mình: chỉ với ba tác phẩm đã bán ra hơn ba triệu bản, nhận được các giải thưởng văn học và hai trong số đó được chuyển thể thành kịch bản phim. Tác phẩm mới nhất của nữ tác giả 38 tuổi này là La Consolante (Niềm an ủi), ra mắt tại Pháp hồi tháng 3.

Mi Linh

Sách hay: Mắt Sói

Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ.

Năm 2005, “Mắt sói” – bản dịch ra tiếng Anh của Sarah Adams, đã nhận được Giải Marsh Award (Anh) cho bản dịch

Sách hay: Mắt Sói

Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của tác giả Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ. Cả hai đăm đắm nhìn nhau bằng một mắt từ ngày này qua ngày khác. Và diệu kỳ thay, mỗi con mắt  là một con đường đưa người kia trở lại với quá khứ của bạn mình. Từ những ngày lang thang qua Châu Phi Vàng, Châu Phi Xám, Châu Phi Xanh của cậu bé Phi Châu tới những cuộc trốn chạy triền miên trước bọn săn trộm của gia đình Sói Xám tại quê hương Bắc cực, tất cả đều hiện lên sống động, ly kỳ. Ở cuối mỗi con đường nhiều buồn hơn vui ấy, họ gặp lại gương mặt của nhau, bởi lẽ, họ đã trở thành bạn thân, và cùng nhau mở to mắt để ngắm nhìn những người thân yêu đang xum vầy.

Nét đặc sắc nổi bật  của Mắt sói là cách kể chuyện đầy sáng tạo của Pennac : ý tưởng mới lạ, cốt truyện lồng ghép, sự di chuyển điểm nhìn, văn phong trong sáng. Bên cạnh đó, có thể nói Mắt sói là câu chuyện của những đối cực, vừa hài hước, ngộ nghĩnh, nhẹ nhàng vừa sâu sắc, đau đớn, mất mát. Có lẽ vì vậy mà nhiều người tin rằng đây sẽ là cuốn sách có thể ru trẻ ngủ nhưng cũng khiến người lớn phải ngỡ ngàng vì chiều sâu triết lý..

Nhận định về tác phẩm, có độc giả cho rằng, Daniel Pennac” đã dệt nên một câu chuyện kỳ diệu, bí ẩn và chắc chắn không dễ quên…một câu chuyện độc đáo về tình bạn đầy xúc động, cam đảm và ngày càng sâu đậm giữa một con sói trong vườn thú với một chú bé lang thang có tên Phi Châu. Đồng thời, đây còn là câu chuyện về sức mạnh của việc kể chuyện và những câu chuyện

 

Sơ lược về tác phẩm
Năm 2005, “Mắt sói” – bản dịch ra tiếng Anh của Sarah Adams, đã nhận được Giải Marsh Award (Anh) cho bản dịch
Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ. Cả hai đăm đắm nhìn nhau bằng một mắt từ ngày này qua ngày khác. Và diệu kỳ thay, mỗi con mắt  là một con đường đưa người kia trở lại với quá khứ của bạn mình. Từ những ngày lang thang qua Châu Phi Vàng, Châu Phi Xám, Châu Phi Xanh của cậu bé Phi Châu tới những cuộc trốn chạy triền miên trước bọn săn trộm của gia đình Sói Xám tại quê hương Bắc cực, tất cả đều hiện lên sống động, ly kỳ. Ở cuối mỗi con đường nhiều buồn hơn vui ấy, họ gặp lại gương mặt của nhau, bởi lẽ, họ đã trở thành bạn thân, và cùng nhau mở to mắt để ngắm nhìn những người thân yêu đang xum vầy.
Nét đặc sắc nổi bật  của Mắt sói là cách kể chuyện đầy sáng tạo của Pennac : ý tưởng mới lạ, cốt truyện lồng ghép, sự di chuyển điểm nhìn, văn phong trong sáng. Bên cạnh đó, có thể nói Mắt sói là câu chuyện của những đối cực, vừa hài hước, ngộ nghĩnh, nhẹ nhàng vừa sâu sắc, đau đớn, mất mát. Có lẽ vì vậy mà nhiều người tin rằng đây sẽ là cuốn sách có thể ru trẻ ngủ nhưng cũng khiến người lớn phải ngỡ ngàng vì chiều sâu triết lý.
********
Nhận định
  Nếu như Phi Châu là có tài kể chuyện cho ngừơi ta mơ ước thì Daniel Pennac có tài viết văn khiến người đọc, đặc biệt là các em nhỏ biết tin và yêu hơn cuộc sống quanh mình. “Mắt sói” thực sự  là câu chuyện đầy xúc động về tình cảm gia đình, tình anh em cũng như sự cưu mang đùm bọc không toan tính giữa người với người. Tất cả được thể hiện bằng một văn phong trong sáng, giàu chất thơ và lối kể chuỵện giản dị, lôi cuốn của Daniel Pennac. Mong rằng, mỗi cuốn “Mắt sói” sẽ  là một cậu bé Phi Châu ngày ngày hiện hữu trong  nhà bạn để kể chuyện cho bạn nghe, giúp bạn biết mơ ước, biết nhìn nhận, suy ngẫm và tin yêu.
– Nhã Nam

“Trí tưởng tượng kỳ diệu và sự thay đổi điểm nhìn trần thuật rất phù hợp với những người sành văn, một cuốn sách để lại nhiều dư âm.”

– Amazone.com

 “Sự cộng hưởng giữa tính hài hước, xúc động và triết lý gợi nhớ tới “Hoàng tử bé”, câu chuyện của Daniel Pennac như một tấm thảm diệu kỳ được dệt nên từ những sự kiện của hai số phận.”

Candewick.com

  “Daniel Pennac” đã dệt nên một câu chuyện kỳ diệu, bí ẩn và chắc chắn không dễ quên…một câu chuyện độc đáo về tình bạn đầy xúc động, cam đảm và ngày càng sâu đậm giữa một con sói trong vườn thú với một chú bé lang thang có tên Phi Châu. Đồng thời, đây còn là câu chuyện về sức mạnh của việc kể chuyện và những câu chuyện.”

Lời nhận xét của hội đồng nghệ thuật giải Marsh Award

“Ngôn ngữ kể chuyện có sự kết hợp giữa tính độc đáo và nhuần nhuyễn như được khơi nguồn từ tài kể chuyện của chú bé Phi Châu”
literacyconnections.com
“ Một cuốn sách mới nhưng cho bạn cảm giác như chuyện kể của ông bạn, và người đọc thấy mình giống một đứa trẻ”
James Neal Webb
“Sự hy sinh của động vật trước sự xâm lấn của con người là lời thông điệp đầu tiên trong rất nhiều thông điệp về môi trường trong tác phẩm”
James Neal Webb
“…Tác phẩm để lại trong ta ám ảnh nhức nhối về việc con người sẽ gặp nguy hiểm vì những gì nó từng gây ra.Tuy nhiên, bằng giọng văn nhẹ nhàng, tác giả cho ta thấy sự hoà hợp vẫn có thể tồn tại trong thế giới này”
James Neal Webb
 “…Điều đáng ngạc nhiên của “Mắt sói” đó là nó đã dung hoà được cả hai yếu tố thần thoại và hiện đại  để tạo ra một kiểu truyện đồng thoại mới”
James Neal Webb

Amélie Nothomb – nhà văn ăn khách và lập dị

38 tuổi, viết 56 cuốn tiểu thuyết nhưng chỉ mới xuất bản 14 tác phẩm, Amélie Nothomb hiện là một tiểu thuyết gia ăn khách tại Bỉ. Cô nhận được hàng tá thư của độc giả và thường xuyên bị “đeo bám” khi xuất hiện trên đường phố. Nhưng ý định ra sách chỉ đến với Nothomb khi cô bị đồng nghiệp tại một công ty lớn ở Nhật Bản làm bẽ mặt.

Christina Patterson –

Amélie Nothomb sinh năm 1967 tại Kobe, Nhật Bản, cô là con gái của một nhà ngoại giao Bỉ. Thuở nhỏ, Nothomb từng sống qua nhiều quốc gia như Trung Quốc, Mỹ, Bangladesh, Burma và Lào. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Libre de Bruxelles, cô quay về Nhật làm thông dịch viên trong một tập đoàn lớn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của cô Hygiene de l’Assasin ra mắt năm 1992. Từ đó đến nay, đều đặn mỗi năm cô xuất bản một cuốn.

Amélie Nothomb thường xuyên cảm thấy đói nhưng cô không muốn ăn và thích để cho cơ thể mình bị đói. Bữa sáng của nhà văn chỉ đơn giản là một tách trà đen. Giải thích cho thói quen này, Nothomb cho biết: “Tôi cần phải giữ được tình trạng luôn luôn đói. Đó là điều cần thiết để tôi có thể viết tốt. Thường thì tôi chỉ ăn về đêm, thật tuyệt, bữa ăn đó như là một cuộc chè chén vậy”.

Chi tiết đời tư này đặc biệt có ý nghĩa đối với cuốn tiểu thuyết mới – The Life of Hunger (Cuộc đời Người đói) – của cô. “Nếu Nietzsche nói về siêu nhân thì tôi đề cập đến người Siêu đói. Tôi không phải là siêu nhân, tôi đói hơn bất cứ một ai khác”.

The Life of Hunger đã bán ra được 250.000 bản tại Pháp. Cùng với những cuốn tiểu thuyết được dịch ra 30 thứ tiếng và giải thưởng Grand Prix du Roman de l’Académie, Nothomb trở thành thần tượng của giới trẻ. Cô bị bạn đọc đeo bám trên đường phố và quấy quả tại nhà riêng. Người hâm mộ gửi cho cô hàng tá thư dài, đầy yêu thương, thậm chí là quá khích. Bạn đọc lấy tên cô đặt cho con mình, ngay cả với những đứa bé trai.

Amélie Nothomb - nhà văn ăn khách và lập dị

Tác giả Amélie Nothomb. Ảnh: Independent

Là một độc giả tham lam, Nothomb cho biết, cô lớn lên trong một gia đình, “mà ở đó, văn chương được coi như là ngôi đền thiêng”. Trong khi chị cô Juliette đã tập tọng viết lách từ thuở ấu thơ, Amélie vẫn nghĩ mình là kẻ “không thể nào đặt chân được vào ngôi đền đó”. Nhưng năm 17 tuổi, khi đọc Letter to a Young Poet (Thư viết cho những nhà thơ trẻ) của Rainer Maria Rilke, Nothomb đã thay đổi hẳn suy nghĩ. “Tôi nhận ra rằng, băn khoăn của mình không phải là ‘Tôi có đủ khả năng viết văn không?’ (bởi lúc đó, câu trả lời là không) mà câu hỏi chính là ‘Tôi có thể sống mà không viết không?’. Đó là vấn đề duy nhất”.

“Tôi chưa bao giờ mơ mình sẽ trở thành một nhà văn vì tôi không cho phép mình mơ như vậy. Dù khi còn là một đứa trẻ, tôi vô cùng tham vọng. Tôi tưởng tượng mình sẽ trở thành một cái gì đó thật vĩ đại: một nữ thần, một tổng thống, một người đoạt giải Nobel. Ai cũng có một tuổi thơ tràn đầy những mơ mộng như vậy. Nhưng những ảo tưởng sẽ nhanh chóng vỡ tan cùng thời gian”.

Năm 19 tuổi, Nothomb vào làm việc cho một công ty Nhật tại Tokyo. Những gì được coi là tình yêu tột bậc của cô dành cho Nhật Bản đã nhanh chóng biến thành ác mộng khi các đồng nghiệp phát động hẳn một chiến dịch làm nhục cô. Vào những ngày tháng cuối cùng của hợp đồng lao động với công ty, Nothomb đã thực sự phải làm việc trong toilet. Công việc của cô là đảm bảo đủ “giấy lau” cho đồng ngiệp. Kỷ niệm đau đớn này đã được Nothomb kể lại trong cuốn tiểu thuyết Fear and Trembling (Run rẩy và lo sợ).

Nhưng đây cũng chính là biến cố đẩy Nothomb đến con đường trở thành nhà văn chuyên nghiệp. “Tôi tự nhủ với bản thân mình: ‘Cô gái già ơi, mày sẽ làm gì với cuộc đời mày bây giờ?’. Tình yêu dành cho nước Nhật của tôi đã bị bội bạc. Ngoài việc nói thứ ngôn ngữ của đất nước này, tôi chẳng thế làm gì được nữa. Nếu không có sự cố đáng buồn ở công ty, có lẽ tôi đã không bao giờ đủ dũng khí viết sách để xuất bản. Vì sau sự kiện đó, tôi nghĩ, sẽ chẳng có gì có thể tệ hơn thế nữa”, Nothomb tâm sự.

Amélie Nothomb bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tay L’Hygiene de l’assassin ngay khi trở về châu Âu. Đến nay, cô đã hoàn thành 56 cuốn sách nhưng chỉ mới xuất bản 14 tác phẩm. Cô viết chậm nhưng chắc và không bao giờ sửa chữa. “Đó là một biểu hiện của lòng tin”, cô giải thích.“Điều này cũng giống như khi mang bầu, bạn không thể sửa chữa, đứa con của mình, dù nó không hoàn thiện, hay thậm chí là rất xấu”.

Cuốn tiểu thuyết Fear and Trembling kết thúc với một loạt con số chỉ ngày tháng, trùng khớp với những sự kiện trong cuộc đời Nothomb. Loving Sabotage, cuốn sách về những ngày tháng tuổi thơ ở Trung Quốc của một đứa trẻ, đã khép lại bằng một lời bạt, khẳng định, cuốn tiểu thuyết “là câu chuyện có thật của chính tôi. Tôi không bịa đặt điều gì hết, ngay cả những cái tên của nhân vật”. Điều này nghe có vẻ lạ thường, bởi tác phẩm văn học thường là một món trộn từ những trải nghiệm được vay mượn từ cuộc đời người khác. Liệu những chi tiết này có đúng là chuyện thật?

“Không phải là tất cả, nhưng độc giả thường xuyên hỏi tôi câu đó. Họ bị ám ảnh. Khi viết tiểu thuyết, tôi chợt nhớ Virginia Woolf từng nói: “Chẳng có gì xảy ra hết nếu như bạn không viết ra”.

“Năm 2000”, nhà văn kể, “điều kỳ diệu đã xảy ra với tôi. Tôi có tên trong từ điển tiếng Pháp: ‘Amélie Nothomb, nhà văn, sinh năm 1967′. Nhưng nó nhanh chóng trở thành một tai họa vì (kể ra điều này tôi thấy rất xấu hổ) thỉnh thoảng tôi vẫn mở từ điển ra để xem tên mình có còn ở đó không. Tôi túm lấy cuốn từ điển và nhẹ nhõm thốt lên “vẫn còn”. Không ít lần, tôi còn ra hiệu sách và tra tên mình trong từng quyển một, quyển thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba. Liệu tôi có điên không nhỉ?”

Tất nhiên, Amélie Nothomb không điên nhưng rõ ràng là một kẻ lập dị. Cô là người bỏ đói mình suốt ngày rồi lại ngốn hết vô khối chocolate Bỉ; là người phụ nữ xinh đẹp nhưng luôn khăng khăng mình sẽ vô cùng xấu xí nếu không đội mũ; một người chỉ ngủ 4 tiếng mỗi đêm nhưng lại bỏ ra 4 tiếng mỗi ngày để trả lời thư độc giả… Nhà văn tâm sự, cô không đành lòng nếu không hồi âm độc giả. “Bây giờ tôi có rất nhiều bạn, nhiều người yêu mến, tôi thích điều đó, nhưng thỉnh thoảng cũng cảm thấy sợ hãi”.

Thanh Huyền lược dịch

(Nguồn: Independent)

Hẹn em ngày đó

Tất cả chúng ta đều từng đặt ra ít nhất một lần câu hỏi này: nếu như có may mắn được quay lại, chúng ta sẽ thay đổi điều gì trong cuộc đời mình?

Guillaume Musso –

Tên sách: Hẹn em ngày đó
Tác giả: Guillaume Musso
Dịch giả: Hương Lan
Nhà xuất bản Văn học

Thông điệp ấy của Guillaume Musso dẫn dắt độc giả tìm đến những điều day dứt nằm ẩn khuất trong ngõ vắng của cảm xúc, và có lúc như đã chạm đến tầng sâu kín nhất trong mỗi con người.

henem


Diễn biến phần lớn của câu chuyện khám phá giấc mơ ấy với phần sắp xếp của vô số những tình tiết ly kỳ, tạo cảm giác hồi hộp tột độ đối với độc giả. Không giấu diếm niềm khắc khoải, quãng thời gian quá ngắn còn lại buộc Elliottt phải gấp gáp trong cuộc kiếm tìm này. May mắn có được những viên thuốc màu nhiệm, ông đã trả giá đắt sau 9 chuyến đi dài về quá khứ trong những khoảnh khắc ngắn ngủi. Niềm ân hận vùi sâu bấy lâu giờ chực bật ra với hoài vọng về một mối tình mong manh đầy ám ảnh. Ông luôn cảm giác mình có lỗi. Khi còn nhỏ, Elliottt chứng kiến cảnh chà đạp của người cha nghiện rượu, bà mẹ khổ đau đã tự tử bằng cách cứa vào cổ tay. Lúc lớn lên, Elliottt không dám có con và điều tệ hại nhất là sự ra đi quá đột ngột của Ilena, khi anh chưa cảm thấy mình mang lại niềm vui thực sự nào cho cô.Bạn đang cùng bước vào một câu chuyện tình, thật đẹp nhưng nặng trĩu buồn và tưởng như đã bị chôn chặt theo thời gian. 30 năm về trước, trong lúc không thể rời giường bệnh bởi ánh mắt u buồn của một bệnh nhân, bác sĩ Elliottt đã để vuột mất người yêu sau một tai nạn giao thông. Năm 60 tuổi, dấu hiệu tuổi già và bệnh ung thư trong kỳ di căn dường như sắp sửa quật ngã ông. Và giữa khoảnh khắc mong manh ấy, Elliottt đã bật lên ước muốn lớn nhất trong cuộc đời mình: gặp lại một người, Ilena.

Hình ảnh một bản sao già cả, bệnh tật và rầu rĩ, bên một Elliottt tràn trề sinh lực của tuổi 30 gieo vào người đọc những nỗi niềm day dứt bên trong, tự giày vò chính mình. Sống vốn đã chẳng dễ dàng nhưng để quay lại, đối diện với lỗi lầm còn nặng nề gấp bội. Hai con người ấy – Elliottt 60 tuổi và Elliottt 30 tuổi – đã hợp sức cùng nhau để thay đổi quá khứ, bằng chính thôi thúc khó lý giải của con tim. Một người đánh đổi bằng tất cả sức lực yếu ớt còn lại. Một người đánh đổi bằng điều quý giá nhất trong cuộc đời mình. Tưởng mạnh mẽ nhưng mà chông chênh, tưởng như với tới niềm vui song hóa ra lại đón nhận kết cục chua chát. Nhưng không một ai muốn dừng lại, vì tình yêu, vì Ilena.

Câu chuyện tình yêu ấy đan xen giữa thực và ảo mộng. Điều này cứ chòng chành lặp đi lặp lại trong suốt hơn 300 trang sách, vừa tạo nên sắc màu lãng mạn, vừa như chạm tới tầng sâu kín nhất trong tâm hồn. Musso khiến bạn có thể gợi nhớ đến những giấc mơ của Marc Levy (Nếu em không phải một giấc mơ, Gặp lại, Kiếp sau, Bảy ngày cho mãi mãi), nhưng anh không bị trộn lẫn trong đó. Dường như chất liệu thực tế được anh ghìm chặt hơn, bằng cách ghi chú cẩn thận trong mỗi chương sách: Ngày tháng năm, tuổi của nhân vật, mỗi lần gặp lại quá khứ. Không bắt buộc tất cả nhân vật cùng trở lại giấc mơ, với Musso, đó thực sự là nơi chỉ dành cho những ai thực sự cô đơn, thực lòng khao khát được quay về. Anh cũng không quá tô hồng sức mạnh của những giấc mơ, song lại không cưỡng lại khát vọng nhìn thấy thành quả của mình, rằng rốt cuộc con người ta phải đạt được điều gì đó mà họ đã trót để vuột mất, như hình ảnh Elliottt và Ilena gặp nhau khi cả hai đều đã già bên chiếc cầu Cổng Vàng. Người ta đã nhận định về anh với những cuốn sách đầu tiên: Skidamarik, Rồi sau đó, Cứu lấy em, Gặp em ngày đó, “Hãy ghi nhớ cái tên này, Guillaume Musso hứa hẹn một tài năng văn chương nở rộ”.

Những chương sách dạt dào xúc cảm được thể hiện cô đọng, như những giấc mơ ngắn ngủi của nhân vật chính Elliottt, nhưng diễn biến thời gian được tác giả cố ý duy trì liền mạch. Có đủ cả 10 lần trở về của 10 viên thuốc. Có đủ hết những năm Elliottt lâm cảnh gà trống nuôi con, được đánh số lần lượt từ 1986 đến 2007… Có thể nói, Musso như không muốn hướng độc giả dành quá nhiều sự quan tâm trong hành trình “hẹn lại” của mình. Để tránh ấn tượng về cảm xúc viển vông, anh sắp xếp những cuộc hẹn đó lọt thỏm như chỉ là một góc nhỏ, của riêng một cá nhân, giữa một xã hội ăm ắp sự kiện: nào là tin trên CNN một học sinh vừa nã súng vào 12 bạn học khác trước khi nã súng vào mình ở trường trung học Columbine ở Litttletown, John Lennon bị ám sát ở New York bởi gã tâm thần Mark Chapman, sự kiện 11/9/2001 tại World Trade Center… Tất cả tạo nên sự dồn nén tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn độc giả.

Tác giả Guillaume Musso sinh năm 1974 tại miền Đông nước Pháp, hiện là giáo viên chuyên ngành kinh tế. Từ một chuyến du lịch trải nghiệm tới New York năm 1993, trải qua nhiều công việc như bán kem, ở trọ cùng với người lao động đến từ các quốc gia khác nhau, anh trở về với đầy ắp những ý tưởng mới cho niềm đam mê sáng tác. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh với tựa đề Bởi vì yêu đã ra mắt độc giả tháng 5/2007, hiện có mặt trên danh sách best-seller của những kênh phát hành sách lớn nhất nước Pháp.

Ngọc Mai

Bạn tôi tình tôi

Câu chuyện hài hước về hai anh chàng gà trống nuôi con sẽ lôi cuốn độc giả dõi theo diễn biến tiếp theo trong cuốn sách.
Marc Levy –

Tên sách: Bạn tôi tình tôi
Tác giả: Marc Levy
Dịch giả: Hiệu Constant
Nhà xuất bản: Đà Nẵng và công ty Nhã Nam

Gặp lại một Marc Levy thân quen với lối hành văn dí dỏm trong giọng điệu hết sức nhẹ nhàng, giàu xúc cảm. Câu chuyện về hai người đàn ông vốn là bạn nối khố từ 15 năm trước, giờ chung cảnh gà trống nuôi con. Mỗi người giữ trong lòng nỗi đau kín bưng sau vụ đổ vỡ tình cảm, chẳng ai nói ra.

Bạn tôi tình tôi

Trang bìa cuốn sách.
Dẫu mỗi người một tính nết – Antoine trầm lặng và hay cáu kỉnh, Mathias nồng nhiệt và lắm lời – nhưng cả hai có chung một tình yêu vô bờ bến với những đứa con của mình, tự tay chăm sóc chúng bằng sự yêu thương và bao bọc, với ý thức và trách nhiệm sau lục đục trong hôn nhân.

Song hơi trái khoáy khi hai anh chàng ngoài băm lăm này quyết định dỡ bức tường ngăn cách giữa hai nhà, để họ không còn là hàng xóm nữa. Các quy định tới tấp được đặt ra dưới mái nhà chung: không có baby-sister; không có đàn bà trong nhà; hạn cuối cùng trở về nhà là 0h30… Dù hòa khí không hẳn lúc nào cũng tồn tại giữa 2 ông bố khó tính, trái nết song trong một khoảnh khắc nào đó, họ nhận ra không gian êm đềm qua nét mặt hân hoan khó tả. Và họ đã nghĩ, cuộc đời rồi mãi cứ trôi với ngôi nhà có hai người đàn ông và tiếng cười lảnh lót của hai đứa trẻ.

Không ít người sau khi gấp cuốn sách này sẽ đôi chút cằn nhằn, sao mà chỉ thấy toàn là người tốt sống với nhau như vậy? Từ một đôi bạn tình cao tuổi – bà Yvonne và ông John Glover – níu giữ nhau trong khúc quanh bấp bênh khắc nghiệt của thời gian. Từ cô chủ hàng hoa Sophia xinh đẹp và duyên dáng kiên nhẫn đợi chờ. Từ lá thư thấm đẫm yêu thương trước lúc người cha bị xử bắn gửi lại cho con gái. Từ cô phóng viên Đài Truyền hình Audrey cá tính không chấp nhận sự rơi tự do trong tình yêu. Từ hai đứa trẻ thật nhạy cảm, Emily và Louis…

Nhưng không hẳn thế. Cuộc sống đang diễn ra ấy đâu có thiếu nỗi đau và cả bao giọt nước mắt tuôn rơi. Một Antoine hoàn toàn thu mình và dường như đông cứng về mặt tình cảm. Một Mathias quay quắt buồn. Một Audrey với hơn 3 năm long đong theo đuổi cuộc tình với người đàn ông đã có vợ. Một Yvonne cô đơn mà không thể trải lòng mình với người bạn già…

Sự trong trẻo qua nỗi đau là một trong những thông điệp của Marc Levy và dường như, chúng là đề tài xuyên suốt trong các cuốn sách của ông. Niềm hân hoan trên khuôn mặt của Mathias, khoảnh khắc sung sướng của Antoine chưa chắc gọi tên là hạnh phúc, nếu nó chưa tìm ra một điểm đích và giải quyết những xung đột vốn được giấu nhẹm trong lòng. Khi mà cả hai vẫn đương đánh vật với những mâu thuẫn của chính mình, không đủ tự tin và bản lĩnh để vượt qua trở ngại.

Các trang sách viết về phụ nữ trong Bạn tôi tình tôi thật dịu dàng, như thể sứ mệnh của họ là hàn gắn nửa rời rạc từ thế giới của những người đàn ông ấy. Nó khiến người đọc không khỏi dõi theo với sự bối rối, liệu những bóng hồng này có thực sự xuất hiện trong cuộc sống hiện tại không, hay chỉ là một giấc mơ nhẹ nhõm và xa vời? Có lẽ, từ những câu hỏi day dứt ấy mà độc giả sẽ tìm hiểu kỹ hơn về thế giới trong trẻo mà vô cùng tinh tế của Marc Levy. Biết đâu, chính bạn sẽ tìm ra lời giải đáp, điều gì khiến những câu chuyện tình lãng mạn của nhà văn Pháp lại được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt như vậy?

Huỳnh Mai Liên

Con là khách quý – cách người Mỹ nuôi dạy con

“Yêu con chỉ là bản năng mà muôn loài đều có, nhưng giáo dục con cái thành ‘con người đúng nghĩa’ vừa là khoa 

học, vừa là nghệ thuật, cần phải học tập, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm mới có được. Tình yêu thương không đúng 

cách, sự hy sinh không đúng nơi, đúng chỗ, nhất là trong giáo dục con cái có khi lại là sự hại con!

– Th.S Tâm lý học Đinh Đoàn, Hiệu trưởng trường PTCS Xã Đàn, Hà Nội

“Được viết bằng sự quan sát, suy nghĩ và cả trái tim của một bà mẹ trẻ Việt Nam đang sống, sinh con và nuôi con 

trên nước Mỹ, Con là khách quý đem đến nhiều cái nhìn mới mẻ với những vấn đề không mới, vốn rất đơn giản 

hằng ngày đối với một gia đình- từ việc cho con ăn, cho con ngủ, đến việc thể hiện yêu thương, dạy con cách tự lập và cả những vấn đề tâm lý mà  có lẽ hầu hết các bà mẹ đọc đều gặp thấy mình phần nào trong đó.”

– Chị Gấm Hương, mẹ bé Dứa, Hà Nội

“Là một cuốn sách rất đáng tham khảo dành cho các ông bố bà mẹ Việt của thời hiện đại. Cuốn sách đã tóm tắt ngắn gọn tinh thần nuôi dạy thế hệ tương lai không chỉ của người Mỹ mà là của người phương Tây nói chung, một cách trung thực và rất tinh tuý. Sách được viết dưới góc nhìn của một người mẹ Việt sống, gặp gỡ, quan sát, học tập và trải nghiệm với các gia đình phương Tây nên cách viết rất gần gũi; thông tin rất thực tế và chi tiết. Mình rất thích.”

– Chị Hachun Lyonnet, mẹ bé Emily và Alexis

Nhà xuất bản: Thế giới
Giá: 70.000 VND
Trọng lượng: 300 g
Tác giả: Kẩm Nhung
Năm XB: 2014
Số trang: 304
Khổ sách: 14 x 20.5 cm
Bìa: mềm