All posts by Quê hương tuổi thơ

hon-truong-ba-da-hang-thit

Hồn Trương Ba, Da hàng thịt của Lưu Quang Vũ

Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ – một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh… nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người. Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan. Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt. Qua các cuộc đối thoại của Trương Ba, tác giả dần tạo nên một mạch truyện dẫn dắt người xem hiểu sâu hơn về Trương Ba
Đoạn trích là phần lớn cảnh VII. Đây cũng là đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, nhân vật Hồn Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi nghịch cảnh trớ trêu.

Trước khi Đế Thích xuất hiện

+ Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba “ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết:

“- Không. Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc!Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát”.

+ Hồn Trương Ba đang ở trong tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ (Những câu cảm thán ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải)

– Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái thân xác mà hồn ghê tởm.

– Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa.

+ Trương Ba bây giờ vụng về, thô lỗ, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.

+ Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba ở vào thế yếu, đuối lí bởi xác nói những điều mà dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận (cái đêm khi ông đứng cạnh vợ anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cổ nghẹn lại” và “suýt nữa thì…”. Đó là cảm giác “xao xuyến” trước những món ăn mà trước đây Hồn cho là “phàm”. Đó là cái lần ông tát thằng con ông “tóe máu mồm máu mũi”,…).

+ Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến Hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện.

+ Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà ông đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn,…”.

+ Trong cuộc đối thoại này, xác thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ trích, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu.

+ Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của Hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với những người thân.

– Người vợ mà ông rất mực yêu thương giờ đây buồn bã và cứ nhất quyết đòi bỏ đi. Với bà “đi đâu cũng được… còn hơn là thế này”. Bà đã nói ra cái điều mà chính ông cũng đã cảm nhận được: “ông đâu còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm vườn ngày xưa”.

– Cái Gái, cháu ông giờ đây đã không cần phải giữ ý. Nó một mực khước từ tình thân (tôi không phải là cháu ông Ông nội tôi chết rồi). Cái Gái yêu quý ông nó bao nhiêu thì giờ đây nó không thể chấp nhận cái con người có “bàn tay giết lợn”, bàn chân “to bè như cái xẻng” đã làm “gãy tiệt cái chồi non”, “giẫm lên nát cả cây sâm quý mới ươm” trong mảnh vườn của ông nội nó. Nó hận ông vì ông chữa cái diều cho cu Tị mà làm gãy nát khiến cu Tị trong cơn sốt mê man cứ khóc, cứ tiếc, cứ bắt đền. Với nó, “Ông nội đời nào thô lỗ, phũ phàng như vậy”. Nỗi giận dữ của cái Gái đã biến thành sự xua đuổi quyết liệt: “Ông xấu lắm, ác lắm! Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!”.

– Chị con dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu điều hơn lẽ thiệt. Chị cảm thấy thương bố chồng trong tình cảnh trớ trêu. Chị biết ông khổ lắm, “khổ hơn xưa nhiều lắm”. Nhưng nỗi buồn đau trước tình cảnh gia đình “như sắp tan hoang ra cả” khiến chị không thể bấm bụng mà đau, chị đã thốt thành lời cái nỗi đau đó: “Thầy bảo con: Cái bên ngoài là không đáng kể, chỉ có cái bên trong, nhưng thầy ơi, con sợ lắm, bởi con cảm thấy, đau đớn thấy… mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi, đến nối có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa…”

Tất cả những người thân yêu của Hồn Trương Ba đều nhận ra cái nghịch cảnh trớ trêu. Họ đã nói ra thành lời bởi với họ cái ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ đau, họ khổ nhưng “cũng không khổ bằng bây giờ”.

+ Sau tất cả những đối thoại ấy, mỗi nhân vật bằng cách nói riêng, giọng nói riêng của mình đã khiến Hồn Trương Ba cảm thấy không thể chịu nổi. Nỗi cay đắng với chính bản thân mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn đứt tung, muốn vọt trào.

+ Nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba còn lại trơ trọi một mình với nỗi đau khổ, tuyệt vọng lên đến đỉnh điểm, một mình với những lời độc thoại đầy chua chát nhưng cũng đầy quyết liệt: “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ… Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”. Đây là lời độc thoại có tính chất quyết định dẫn tới hành động châm hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.
Từ khi Đế Thích xuất hiện

+ Cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai lời thoại của Hồn trong cảnh này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng:

– Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn

– Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!.

Người đọc, người xem có thể nhận ra những ý nghĩa triết lí sâu sắc và thấm thía qua hai lời thoại này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hòa. Không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng của thân xác thì đừng chỉ đổ tội cho thân xác, không thể tự an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống thực sự cho ra con người quả không hề dễ dàng, đơn giản. Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật trước lúc Đế Thích xuất hiện.

+ Quyết định dứt khoát xin tiên Đế Thích cho cu Tị được sống lại, cho mình được chết hẳn chứ không nhập hồn vào thân thể ai nữa của nhân vật Hồn Trương Ba là kết quả của một quá trình diễn biến hợp lí. Hơn nữa, quyết định này cần phải đưa ra kịp thời vì cu Tị vừa mới chết. Hồn Trương Ba thử hình dung cảnh hồn của mình lại nhập vào xác cu Tị để sống và thấy rõ “bao nhiêu sự rắc rối” vô lí lại tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy cùng tình thương mẹ con cu Tị càng khiến Hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, chúng ta càng thấy Trương Ba là con người nhân hậu, sáng suốt, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.

Cái chết của cu Tị có ý nghĩa đẩy nhanh diễn biến kịch đi đến chỗ “mở nút”. Dựng tả quá trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật Hồn Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lí của tác phẩm.

Tóm lại:

Không chí có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người, rong vở kịch nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ:

Thứ nhất, con người đang có nguy cơ chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô thiển.

Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn.

Cả hai quan niệm, cách sống trên đều cực đoan, đáng phê phán.

Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống  là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi.

Với tất cả những ý nghĩa đó, đoạn trích rất tiêu biểu cho phong cách viết kịch của Lưu Quang Vũ.

luu-quang-vu

Lưu Quang Vũ – Nhà viết kịch được đông đảo công chúng yêu mến

Những năm cuối đời, Lưu Quang Vũ được đông đảo công chúng mến mộ với tư cách nhà viết kịch. Sự cống hiến của anh cho sân khấu đáng được ghi nhận. Nhưng đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng được thời gian. Hình như Lưu Quang Vũ cũng nhận ra điều đó. Anh nói với nhiều bạn bè rằng anh thích được làm thơ hơn cả viết kịch lẫn viết truyện, rằng thành công của thơ thường mang cho anh niềm vui lâu hơn dù nhuận bút tiêu có chóng hết hơn. Cố nhiên với Lưu Quang Vũ hay với chúng ta, không có sự khinh trọng giữa các loại hình nghệ THUẬT. Ở đây chỉ muốn nói tới cái tạng của anh. Tôi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là nét trội nhất trong tâm hồn anh. Tôi cũng trộm nghĩ, về lâu dài, sự đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch.

Anh mất sớm nhưng với thơ, anh đã có hơn hai mươi năm sáng tác. Anh đã kịp đặt tên cho mười hai tập thơ, trong đó nhiều tập đã hoàn chỉnh: Cỏ tóc tiên, Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Cuốn sách xếp lầm trang… Hương cây đã in năm 1968 và Mây trắng của đời tôi thì vừa ấn hành. Các tập khác đang sắp xếp dở dang và cũng cần viết bổ sung, trong dự định có một tập thơ tình yêu Tin ở hoa hồng, một Trường ca tám chương. Rõ ràng, Lưu Quang Vũ đang nhiều trù liệu cho thơ. Ðọc thơ anh có cảm giác anh viết kịch để sống với mọi người, và làm thơ để sống với riêng mình.

Một buổi chiều sau ngày anh mất được nửa năm – đã nửa năm – tôi tới thăm gia đình anh và đọc những tập thơ, bài thơ chép tay của anh. Lưu Quang Vũ còn nhiều bài chưa đăng quá! Gần như cả tập Cuốn sách xếp lầm trang, hai mươi hai bài, đều chưa đăng cả. Mà đây là một tập hay, có lẽ hay nhất trong các tập của Lưu Quang Vũ. Tôi đọc và sửng sốt, đây là một Lưu Quang Vũ khác, một Lưu Quang Vũ mà BẠN BÈ CÒN ÍT BIẾT TỚI. Ở ĐÂY ANH CÔ ĐƠN HƠN, CAY ĐẮNG HƠN VÀ NHIỀU Ý NGHĨ của anh bế tắc quá. Nhưng cũng chính ở đây anh viết thực chân thành, trái tim trần trụi nhoi nhóp đập sau nét chữ mảnh mai như chữ con gái – chưa bao giờ tôi thấy thơ Lưu Quang Vũ chân thành đến tàn nhẫn với chính mình như ở tập này. Anh ghi lên giấy tất cả những gì đã có ở lòng anh, không cần biết những ý tình ấy có phù hợp hay không với thời cuộc. Lưu Quang Vũ không gửi đăng ở đâu. Anh viết cho anh thôi, cho nhu cầu của riêng anh, trước hết. Nhưng chắc chắn anh tin rằng tập thơ sẽ có lúc được xuất bản vì một lý do đơn giản: nó hay, hay vì nó đã diễn đạt tinh vi được một tâm trạng mà tâm trạng đang cảm xúc cao độ những gì mà nó đang sống.

Ðể thấy rõ lộ trình thơ của Lưu Quang Vũ, tốt nhất chúng ta đọc anh theo thứ tự thời gian. Lưu Quang Vũ làm thơ khá sớm. Cha và chú ruột đều là nhà thơ, chắc anh đã có các bài viết từ thuở thiếu niên. Năm hai mươi tuổi anh đã cùng Bằng Việt xuất bản tập THƠ ĐẦU TAY TRONG ĐÓ CÓ NHỮNG BÀI ANH VIẾT TỪ NĂM MƯỜI BẨY TUỔI. Ở TẬP HƯƠNG CÂY này rồi tập Cỏ tóc tiên (chưa in) và một ít bài sau này đưa vào tập Mây trắng của đời tôi, Lưu Quang Vũ có cái tươi tắn chung của những người làm thơ trẻ hồi ấy. Cũng một cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan, quay phía nào cũng thấy sự hài hòa ưu ái.

Lúc này Lưu Quang Vũ đã rời ghế nhà trường vào bộ đội, anh bộ đội này khá nhiều mơ mộng, mỗi thước đường hành quân, mỗi làng mạc đi qua gợi lên trong anh bao cảm xúc rưng rưng về Tổ quốc về nhân dân. Những cảm xúc còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường thiêng liêng, trong trẻo, đầy tin cậy.

Anh tin rằng, trong cuộc đời này, khi một tiếng gọi cất lên thì bao giờ cũng có tiếng thưa, không tiếng gọi nào lại rơi vào im lặng đáng sợ cả. Nếu anh lên tiếng gọi đò, thì:

Bờ xa lúc nào cũng có tiếng người ơi
Tiếng đất nước cất lên cùng sóng vỗ
Nghe quen rồi mà mắt cứ rưng rưng

(1968)

Những năm ấy buồn vui riêng của mỗi người đều hòa trong tình cảm chung của cả đất nước. Trong lòng nhà thơ trẻ, cũng như nhiều bạn viết trẻ khác, chưa thấy và chưa biết những gì gọi là nghịch cảnh. Sự từng trải cá thể, những chiêm nghiệm cá nhân chưa có ở Lưu Quang Vũ lúc này. Anh yên tâm với cái chung và phấn đấu để hòa nhập, để được tan mình vào toàn thể.

Phần thơ Hương cây của Lưu Quang Vũ đã được bạn đọc hồi ấy yêu mến không phải vì những khám phá chân lý đời sống mà chủ yếu vì những cảm xúc tươi trong, tin cậy của anh, đặc biệt vì một giọng thơ rất đắm đuối. Ðắm đuối đó là một đặc điểm của suốt đời Lưu Quang Vũ. Vui hay buồn, tin cậy hay hoang mang… bao giờ anh cũng đắm đuối: Ðặc điểm này ít thấy ở các nhà thơ khác. Hình như từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thơ Việt Nam ta chuộng sự tỉnh táo, chắc khỏe, giầu chất liệu cụ thể của đời sống công nông binh, các nhà thơ thường sử dụng bút pháp hiện thực sáng rõ. Thơ có ít mê đi. Giọng thơ còn mang nhiều sự đắm đuối, trong kháng chiến chống Pháp, có lẽ chỉ thấy ở Nguyễn Ðình Thi trong tập Người chiến sĩ và Quang Dũng. Ngay Xuân Diệu nổi tiếng về say đắm ở giai đoạn trước, giờ đây cũng tỉnh táo nhiều, anh chủ trương chân chân chân thật thật thật. Vào những năm sáu mươi, một vài nhà thơ có uy tín đã bắt đầu kêu lên: thơ cần phải mê hơn. Mỗi người tìm một cách để mê. Có người mê và mộng hơn, nhưng còn nhiều người chưa mê được nên cái giọng say đắm, đắm đuối của Lưu Quang Vũ lúc ấy rất được mến chuộng. Những câu thơ của anh được nhà phê bình Hoài Thanh, vốn là người rất sành với cái mê đắm của thời Thơ mới trích khen đều là những câu thơ kết tinh sự đắm đuối. Tìm ra những yếu tố cấu thành cái chất đắm đuối này cũng là cách tìm ra bản chất thi pháp Lưu Quang Vũ.

Lưu Quang Vũ đắm đuối không chỉ ở cách nói, ở thủ pháp diễn đạt mà còn ở cái cách cảm thụ đời sống của anh. Anh cảm thụ bằng cảm giác. Vốn nhạy cảm, anh nắm bắt thực tại bằng giác quan rất tinh tế và phong phú. Tôi có ấn tượng chính cảm giác là hạt nhân đầu tiên của cảm hứng thơ Lưu Quang Vũ. Cảm giác gọi những ý thơ tuôn chảy. Tứ thơ như tự hình thành trong quá trình cảm thụ. Ðọc thơ Lưu Quang Vũ ít thấy dấu vết của bố cục, cảm hứng liền dòng ào ạt, đầy ắp hình ảnh, ảnh thực và ảnh ảo, hiện thực và tưởng tượng, sách vở và đời sống HÒA QUYỆN THÚC ĐẨY NHAU TRONG CÁC CÂU THƠ DỒN DẬP. Ở CÁC BÀI THƠ DÀI: TIẾNG VIỆT, Viết cho em từ cửa biển; Ðất nước đàn bầu… rất dễ nhận ra đặc điểm này. Cảm hứng ấy đã tạo nên cái đắm đuối của thơ. Anh viết như trong một cơn say, như sự nhập đồng bất chấp cực đoan và phi lý trong chi tiết. Thế giới trong thơ anh là thế giới của tưởng tượng. Giầu tưởng tượng nên mới mê đắm, mới thành đắm đuối. Trong thơ anh có cả cánh buồm đen của tên cướp bể, có ngọn lửa bập bùng người Âu Lạc múa trên châu thổ sông Hồng còn nguyên nếp phù sa. Có những đoạn thơ anh làm mê lòng ta như cổ tích. Tôi nghĩ đây chính là dấu ấn của năng khiếu thơ:

Trung Hoa của tuổi thơ
Tiếng ngựa hí đêm khuya
Ðoàn xe Chiến Quốc đi trong tuyết
Rũ rượi tóc râu, đao thương sáng quắc
Não bạt thanh la xủng xoẻng
Dữ tợn mà sầu thương

(Trung Hoa, viết năm 1974)

Ðắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm vất vả cho đời anh. Anh sống như đuổi theo những yêu thích của lòng, đáp ứng những nhu cầu ở bên trong, ít đếm xỉa tới những quy ước của ngoại cảnh. Mải mơ mộng với đại dương nên có khi, anh đã mắc cạn ngay ở một lạch sông đào. Lưu Quang Vũ đã trải qua những năm tháng lao đao ngay ở tuổi thanh niên: ra bộ đội, nghề ngỗng chưa ra sao, xin mãi không được việc làm, hạnh phúc gia đình tan vỡ, con thì nhỏ, cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt. Những tiêu cực xã hội bắt đầu phát sinh. Anh lúng túng không phải chỉ vì nghèo mà chủ yếu vì hướng đi. Cảnh ngộ của anh là riêng biệt, nó không đại diện gì cho cả thế hệ thanh niên lúc đó do vậy những cảm nghĩ của anh khi ấy có thể ít đại diện cho thời cuộc, có thể không tiêu biểu cho số đông nhưng đích thực nó là nỗi lòng của một người. Nỗi lòng đó đã được diễn đạt chân thành bằng một nghệ thuật thơ nhuần chín. Ðây là giai đoạn sáng tác khá đặc biệt trong đời thơ Lưu Quang Vũ, chỉ khoảng hai năm, quãng 1971- 1972, nội dung khác với giai đoạn trước và cũng khác với giai đoạn sau. Giai đoạn này tâm hồn anh như già đi trong những nhận thức đau buồn về đời. Quả thật, hai mươi hai bài trong Cuốn sách xếp lầm trang mang rất nhiều dằn vặt, nhiều nghĩ ngợi chiêm nghiệm, có phấn đấu và cũng có thất vọng. Trong giọng điệu chung phấn khởi tự hào, cổ động đánh giặc hồi ấy tập thơ này quả có lạc điệu. Ðây là thơ được viết ra do một thúc bách nội tâm, từ cảnh ngộ cá thể của mình. Sự thành công của Lưu Quang Vũ bắt nguồn từ lẽ đó. Chúng ta đọc thơ cũng có sự cảm thông, đừng máy móc cào bằng, đòi hỏi thơ của ai cũng phải có một công dụng tức thì với xã hội. Thơ hay bao giờ cũng có công dụng, nhưng đấy là một công dụng xa, giúp cho sự hình thành nhân cách con người. Nhân cách hình thành từ những chiêm nghiệm. Thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn này rất nhiều chiêm nghiệm. Anh nhìn và khái quát việc đời trên cảnh ngộ của anh. Anh thấy cuộc đời lúc đó sao lộn xộn như cuốn sách xếp lầm trang: chuyện đời trai gái tự tình lẫn với chuyện chia gia tài, chuyện án mạng, rồi lại sa mạc Gôbi, phu nhân đa tình, gián điệp triết gia, lái bò, số học… Có thể có một chút bi quan quá sớm, nhưng cũng đã thấy một cái gì như linh cảm trước thời cuộc. Mười bảy năm sau những chủ đề này sẽ trở lại trong kịch Lưu Quang Vũ cố nhiên chín chắn hơn, chừng mực hơn, nhưng rõ ràng nó đã được định hướng từ ngày ấy. Cái mạnh của hiện thực đã ngự trị khá sớm trong nhà thơ mơ mộng này. Mùi lá bưởi lá chanh nên thơ sẽ không bao giờ còn quay về tô điểm cho cái hiện thực dữ dằn của chiến tranh nữa. Lưu Quang Vũ đã mang một cái nhìn khác và tìm mọi chất thơ hoàn toàn khác với giai đoạn trước của anh và khác với cả khuynh hướng chung của cả nền thơ. Thay vì sự ngọt ngào ca ngợi, là sự chất vấn rát bỏng:

Những tuổi thơ không có tuổi thơ
Những đôi mắt tráo trơ mà tội nghiệp
Chúng ăn cắp, đánh nhau, chửi tục
Lang thang hè đường tàu điện quán bia
Những bông hoa chưa nở đã tàn đi
Những cành cây chưa xanh đã cỗi

Sao mọi người có thể dửng dưng
Nhìn em đi trên đường tối
Mọi người đều có tội
Trước tuổi thơ đã chết của em.

(Những tuổi thơ, 1971)

Những điều trông thấy đã làm kết đọng trong lòng Lưu Quang Vũ một nỗi buồn ám ảnh, không dễ nguôi ngoai. Liên tưởng của anh, anh vốn giầu tưởng tượng, càng đắp thêm vào những cái, gọi bằng từ bây giờ là tiêu cực, một sắc độ bi thương hơn nữa. Có lúc anh đã chạm vào bế tắc:

Có những lúc tâm hồn tôi rách nát
Tôi biết làm gì, tôi biết đi đâu!

Anh luôn luôn băn khoăn một câu hỏi Con người là gì đối với nhau. Sách vở đã dạy: Người với người là bạn. Thơ Tố Hữu cũng đã viết: Người yêu người sống để yêu nhau. Có nên tin ở mắt mình không hay tin theo niềm tin có sẵn. Nhiều nhà thơ hồi ấy đã chọn cách thứ hai, tiện và lợi. Nhưng cũng không ít người đã chọn cách thứ nhất. Ðau trong tâm hồn hơn, có khi còn khổ cả thân xác, nhưng nó đã có thơ  đích thực và với thời gian, những thơ này sẽ có ích thực sự, nó giúp vào sự hình thành những nhân cách lương thiện, vị tha. Cho nên khoan hãy lên án Lưu Quang Vũ khi thấy anh quá tuyệt vọng, tuyệt vọng đến hư vô chủ nghĩa. Ðộ lượng một chút sẽ thấy cái tuyệt diệu của thơ trong sự nâng đỡ của con người.

Trong vài năm ấy, Lưu Quang Vũ đã thấy được nhiều điều. Anh nhận thức xã hội sâu lên nhiều, nhất là anh nhận thức được chính anh, anh khám phá ra anh. Nỗi buồn của anh đi từ cảnh ngộ của anh nhưng ý nghĩa của nó lớn hơn nhiều. Trong nỗi buồn ấy, thấy được số phận của dân ta và của con người nói chung.

Tôi khao khát yêu người
Mà không sao yêu được

Lời tự thú bi quan đó là một cách đấu tranh cho vẻ đẹp con người:

Ðiều anh tin không có ở trên đời
Ðiều anh có không giúp gì ai được
Gương mặt em chỉ còn là kỷ niệm
Mối tình xưa anh cũng đã quên rồi.

Trong lời than tuyệt vọng này bạn có đọc thấy một sự trưởng thành không? Những câu thơ buồn này đã có sức nâng đỡ những ai buồn cùng cảnh. Nhận ra cái vô tích sự của mình là bắt đầu để thành có ích. Tôi không thấy những câu thơ đắc chí về mình lại có thể nâng người ta lên được. Cái hay trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn này có cái lắt léo như vậy.

Ðây là chưa nói tới một bước tiến dài về nghệ thuật thơ so với Hương cây. Tôi cho rằng đây là điểm đỉnh trong nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ. Sau này anh viết vui hơn, ấm áp hơn nhưng không tài hơn. Vốn hào hoa phóng túng trong ngôn từ nhưng lúc này Lưu Quang Vũ lại tìm đến sự giản dị, câu thơ bớt nhiều tính từ, thích dựng lại việc cụ thể. Cái tài của anh là ở chỗ từ những việc, những vật cụ thể anh làm bật lên được một cảm xúc, một nhận thức, một tâm trạng vốn rất khó diễn đạt khó nắm bắt:

Những chiếc xe tăng đi qua
Những khẩu súng đi qua
Những người lính đi qua
Chẳng có gì cùng ta ở lại

(Mặt trời trong nước lạnh, viết 6-1972)

Năm 1972 là năm chiến sự diễn ra ác liệt. Trong bốn câu thơ tôi trích, ba câu trên là ba việc thông thường của thời chiến, nhưng đến câu thứ tư bỗng làm rung chuyển chúng ta và chúng ta cảm thấy hết cái sức nặng của chiến tranh. Chẳng có gì cùng ta ở lại, đâu phải chỉ nói đến xe tăng, người lính, súng ống, còn nhiều thứ lớn lao hơn nữa. Lưu Quang Vũ từ một hoàn cảnh riêng của mình, đã lắng nghe được bản kết toán chiến phí mà đến nay nhiều người mới biết. Anh hiểu cái giá của những ngày cô đơn. Nỗi cô đơn của anh người ngoài không thấy, nhưng anh ý thức nó rất sâu và diễn đạt được tận cùng:

Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao.

(Mấy đoạn thơ, viết 1971)

Cô đơn và hồ nghi hết thảy, không biết nương tựa vào đâu. Muốn khát khao yêu người thì không sao yêu được. Muốn nương tựa vào tình yêu thì tình yêu tan vỡ.

Những kỷ niệm tuổi thơ mà cách đó vài năm anh hay chi chút quay về, bây giờ cũng không đủ an ủi anh nữa. Có lúc lòng anh thật hoang vắng thật rêu phong, cõi lòng của một người mới ngoài hai mươi tuổi. Mang cõi lòng ấy nhìn đổ vỡ chiến tranh. Lưu Quang Vũ có những câu thơ thật ấn tượng:

Hạt mưa đen rơi trên ô kính vỡ

Sao hạt mưa có mầu đen. Ai biết? Chỉ biết nó gợi tro than, loạn lạc, ly tán.

Có lúc anh như kẻ bất đắc chí, cười khóc thảng thốt, nói năng văng mạng, rồi lại ngồi lặng xót xa. Thơ Lưu Quang Vũ lúc này có một sức chứa nội tâm rất lớn. Anh đã giúp cho chúng ta thấy một phía khác của chiến tranh, cái phía mà – vì cần cổ động cho chiến đấu – cả nền thơ đã phải nén lại và giấu đi. Ngày nay chiến tranh đã qua đi, kẻ thù cũ đang thành bè bạn mới, đọc lại những dòng thơ Lưu Quang Vũ chúng ta càng hiểu cái giá của tự do sau độc lập mà dân tộc đã phải trả. Thắng một cuộc chiến với Mỹ, đâu phải chuyện nhẹ nhàng. Chúng ta đã đọc những tổn thất về người về của, giờ đây chúng ta đọc thêm những tổn thất của tâm trạng. Và chúng ta hiểu rằng trong cõi người này, những vui buồn thật đa dạng. Trước một sự kiện, có thể có nhiều tâm trạng. Ngay một dạng thức tình cảm cũng mang nhiều sắc thái khác nhau, trái ngược nhau. Trong một bài thơ mang cái tên rất dài Ðêm đông chí uống rượu với bác Lâm bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn, các nhân vật gọi nhau bằng bác ấy đều chưa quá ba mươi tuổi và hình như lúc ấy họ đều không biết uống rượu. Lưu Quang Vũ chưa lúc nào nghiện rượu. Anh thích cái tư thế ngang tàng của các ông rượu và đọc được ở đấy những nỗi niềm thảng thốt xót đau của những cõi lòng bỏ ngỏ:

Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau.

Lưu Quang Vũ thuộc loại người chỉ tin ở mắt mình, chỉ tin ở lòng mình. Mắt anh thấy một hiện tượng nào làm tim anh đau nhói anh đều viết thành thơ. Còn cái hiện tượng ấy là cá biệt hay phổ biến, là bản chất hay không bản chất anh dành cho các nhà lý sự kết luận. Anh muốn được trung thành với tình cảm nguyên sơ của mình. Một chiều cuối năm 1972, không biết xuất xứ do đâu mà anh viết:

Cuộc chém giết lặng dần
Các dũng sỹ thân tàn ma dại
Ðập nát những cây đàn quý
Ngồi nướng thịt cóc ăn
Con mèo đi hai chân
Kêu lên tiếng trẻ khóc.

(Chiều cuối, viết 11-1972)

Chiến tranh lúc ấy đang găng và không ai biết bao giờ nó kết thúc. Những câu thơ này chỉ là dự cảm hậu chiến. Ðến nay, sau hơn mười năm chiến tranh kết thúc nhưng dự cảm ngỡ như quái gở ấy không phải là không có lý.

Nhiều nhận xét: Lưu Quang Vũ hay khinh bạc, thích giễu người. Quả có vậy thật, nhưng nếu ta lắng nghe chút nữa trong thơ anh, hình như khinh bạc chỉ là vỏ bọc nỗi lòng ấy. Thông thường ai có nỗi niềm sâu sắc thường hay che giấu, nhất là khi nỗi niềm ấy quá khác biệt với cái đa số. Lại là người hay giễu sự “trang trọng” của những “đau khổ vĩ đại”, Lưu Quang Vũ càng không muốn mình thành đề tài hài hước. Xót đau che giấu bằng cười cợt. Lưu Quang Vũ đang giao tiếp với mọi người kia là một Lưu Quang Vũ được quy ước. Chính vì vậy anh mới thấy cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ. Chính vì vậy khi đọc những bài thơ chưa in này của anh tôi mới có cảm giác như gặp một Lưu Quang Vũ khác. Lưu Quang Vũ ấy nói với con, lúc ấy cháu lên hai:

Con ơi con hãy tha thứ cho cha
Cha chẳng thể nào sống cùng mẹ được
Ðời cha nắng gắt
Mẹ con cần suối mát của đồng vui
Con khôn lớn trên đời
Hãy yêu thương mẹ
Và hãy hiểu cho cha.

Ðó là lòng cha của ngàn đời và cũng là của tình cảnh riêng Lưu Quang Vũ. Giọng thơ, ý thơ dễ dàng, trân trọng, biết mình, biết người. Tôi chắc cháu Lưu Minh Vũ đọc lại những dòng này sẽ hiểu và vô cùng thương nhớ bố. Bài thơ Lưu Quang Vũ khóc thương khi cha anh qua đời, rồi những bài sau này anh viết tặng Xuân Quỳnh cũng trong một tâm trạng thành kính và biết ơn. Khinh bạc, giễu cợt không phải là chủ đạo trong tính cách anh. Nó chỉ là một nét, cái nét dễ bộc lộ sự thông minh ranh mãnh của anh. Sau này Lưu Quang Vũ đã sử dụng song song được cả lòng yêu kính trân trọng, nỗi xót đau bàng hoàng cùng với giọng giễu cợt KHINH BẠC TRONG MỘT THỂ LOẠI KHÁC – ĐÓ LÀ KỊCH. Ở ĐẤY, LƯU QUANG VŨ SẼ THĂNG BẰNG hơn, tỉnh táo hơn và đã được mến chuộng, được coi là tác giả ăn khách nhất, sung sức nhất. Nhưng tôi vẫn nghĩ với anh, thơ mới là chủ yếu vì nó nói được anh nhiều nhất và cũng nói được chuyện đời nhiều hơn. Có điều tiếng nói của thơ chỉ là những tín hiệu, người đọc phải diễn giải tín hiệu đó thành tiếng nói thường, nghĩa là khám phá cái bề sâu, cái bề xa của tâm trạng để hiểu hiện thực.

*

   Cảm hứng dân tộc, trong tiến trình lịch sử, trong vẻ hùng vĩ của đất đai, trong vẻ đẹp óng ánh của ngôn ngữ và nhất là trong đời sống làm lụng cực nhọc, trận mạc gian lao của người dân là một cảm hứng bền chắc trong thơ Lưu Quang Vũ. Ca ngợi hay phê khán GÌ, ANH CŨNG YÊU THƯƠNG THÀNH KÍNH, CẢM PHỤC, XÓT XA. Ở MẢNG THƠ NÀY CÓ những nhận thức chắt ra từ sách vở. Nhưng dù từ sách hay từ đời tất cả đều nhuyễn vào cảm xúc anh, thành cá tính thơ của anh. Và cái giọng thơ đắm đuối đến mê hoặc đã tạo nên nhiều đoạn thơ lôi cuốn, chất chồng hình ảnh lạ. Trong Ðất nước đàn bầu (viết trong năm 1972 và 1983) trí tưởng tượng phóng túng dắt Lưu Quang Vũ đi dọc lại con đường dân tộc đã đi từ hồng hoang đến bây giờ. Cái kỳ ảo hoang sơ. Những rìu đá cổ sơ, những hang động khổng lồ, những đống lửa còn tro tàn sót lại xen với nét trữ tình êm ả của làng mạc thanh bình Hoa móng rồng thơm ngát của những đêm hội làng truyền thống Thấy cô bán rượu ống quần cỏ may, rồi vẻ dữ dội của binh lửa: Bao đền đài bị đốt thành than – Bao cuốn sách bị quăng vào lửa – Bao đầu người bêu trên cọc gỗ… tạo nên một giai điệu phức hợp làm nền cho sự hình thành nhân cách dân tộc. Lưu Quang Vũ yêu thương và ngợi ca nhân cách ấy. Sự ngợi ca này của anh dễ lẫn vào giọng ca chung của cả nền thơ, nếu anh không biết cá thể hóa nó. Anh cá thể hóa bằng cảm giác của cái tôi bàng bạc suốt bài thơ và cá thể hóa bằng bút pháp, bởi cái tài hoa của Lưu Quang Vũ có nhiều nét cá biệt. Anh viết rất tạo hình, có lẽ vì anh còn là họa sĩ:

Những con chim Lạc mỏ dài
Bay qua vầng trăng lớn
Cánh rừng sẫm tắm hoàng hôn đỏ rực
Cất tiếng kêu hoang dại dưới đêm nồng.

Ðặc biệt là sức gợi từ những chi tiết nhỏ bé đan vào các ý thơ như cái đêm nồng trong bốn câu vừa trích. Một chữ nồng đã phả vào đêm cái hơi hướng nhiệt đới còn nguyên sơ và khung cảnh trở nên phập phồng đầy sự sống. (Nhân tiện cũng nhận xét từ nồng – nồng nàn rất hay gặp trong thơ Lưu Quang Vũ – đó cũng là một chứng tích về kiểu cảm xúc của anh). Từ những bài thơ đầu tay đến những bài cuối cùng, câu thơ Lưu Quang Vũ bao giờ cũng khêu gợi, đánh thức vào hồn người đọc những kỷ niệm, những tưởng tượng của riêng họ. Chính đấy là chỗ tạo ra chất đắm đuối ở thơ anh. Dưới bút anh cảnh sắc bây giờ thường đẹp hơn lên, say đắm hơn lên:

Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu
Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước
Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích
Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông.

Với những bài thơ trong tập Mây trắng của đời tôi, Lưu Quang Vũ đã ra khỏi những dằn vặt cô đơn của thời kỳ Cuốn sách xếp lầm trang. Khuynh hướng cảm hứng nối lại được với Hương cây nhưng chắc chắn hơn… chứa đựng hơn, từng trải hơn. Anh không cực đoan như giai đoạn 1971- 1972, nhưng anh cũng không né tránh những nghịch cảnh chua chát của đời sống. Anh đã viết về nhà nghệ sĩ kịch câm người Pháp Marcel Marceau:

Anh có nhớ con người đùa bỡn
với cái mặt nạ cười
rồi không sao cởi được
đau đớn mệt nhoài kiệt sức
tuyệt vọng ôm vai, cái mặt vẫn cười.

Anh bình giá về nhân dân, ca ngợi tầm vóc vĩ đại hy sinh cao cả của những người dân vô danh và cũng thấy hết những nhược điểm của họ, thấy để xót thương. Ðây là một phạm trù khoa học lịch sử, đánh giá thái quá hay bất cập đều không nên. Lưu Quang Vũ đã có cái nhìn biện chứng.

Người mài mực cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô, người cùng Quang Trung đi đánh giặc
Quang Trung trên bành voi, người cầm dáo xông lên phía trước
Quang Trung lên làm vua, người về nhà cày ruộng
Bị lão trương tuần quát nạt cũng run.

Ðã bao nhiêu tiếng đoạn trường mới cũ cất lên từ đám đông gọi là nhân dân ấy. Ca ngợi dân mà thờ ơ với nỗi khổ của dân ta đã là một thứ sáo rỗng tệ hại của một thời văn chương chúng ta. Lưu Quang Vũ không bị trượt vào vết xe đổ ấy. Ðây cũng là một bước trưởng thành của anh so với thời Hương cây. Phải tự thấy, tự nghĩ thì ca ngợi hay âu lo mới có cơ sở mới thuyết phục. Văn chương như áo quần mỗi thời đều có “mốt” của nó. Có mốt “ngợi ca” lại cũng có mốt “xỉ vả”. Lưu Quang Vũ rất biết tâm lý công chúng nhưng anh không lạm dụng, ít nhất là ở thơ. Cùng với năm tháng của đời mình, những biến thiên của đất nước, anh có đổi thay nhiều quan niệm, nhiều cấp độ nhận thức. Những đổi thay ấy đều bắt nguồn từ trong anh.

Anh nghĩ lại về chiến tranh khi làm thơ cho Năm thế giới hòa bình. Giọng thơ bớt đi cái cay đắng rách xé vì anh đã thấy, đã tin hơn vào cái thiện, và vào con người của thế giới này.

Anh bằng lòng và chi chút với hạnh phúc đang có. Anh đã lập gia đình. Ðã có sự yên ổn trong hạnh phúc và trong nghề nghiệp. Vả lại trong sự phát triển của tâm hồn con người, tuổi lớn hơn người ta hãy nghĩ tới những điều nông gần nhưng thiết thực. Thơ Lưu Quang Vũ về sau bớt đi cái phóng túng ngang tàng nhưng lại thêm được cái ấm áp đời thường rất để thân với mọi người:

Không ôm được cả bầu trời lồng lộng
Nhưng có thể cầm một chùm quả trên tay
Có thể trồng thêm một bóng mát cho ngày
Không tới được một vì sao xa lắc
Nhưng có thể đến trong mùa cấy gặt
Làm thuyền trên sông, làm lúa trên đồng
Làm ngọn lửa hồng, làm tấm gương trong
Và nhận hết niềm
vui trên cõi sống.

Cốt lõi của tình cảm này chính là niềm lạc quan trần thế, là triết lý sống tích cực. Lưu Quang Vũ đã đi qua một chặng đường dài không êm ả gì để tới được nhân sinh quan ấy. Anh đang ở vào giai đoạn chín trong việc khám phá đời sống và sáng tạo. Anh đã tìm đến kịch là nơi có thể phô diễn trực diện hơn những khám phá của anh, là nơi anh có thể đóng góp được tích cực hơn vào việc xây dựng xã hội.

Những bài thơ anh viết ở thập niên 80 như đối nghịch với các bài của thời kỳ 71-72. Nhưng thật ra nó rất liền mạch. Giai đoạn trước đã kiến tạo cho giai đoạn sau. Sức nặng của câu thơ yêu đời được bắt đầu từ câu thơ mất mát. Có mất mát mới biết giá trị của sự có lại:

Mùa gió mới có em tôi có lại
Bài hát cũ tôi hát cùng đồng dội
Lại dập dồn như gió khắp rừng khuya.

Lưu Quang Vũ đang sống những ngày đầy hào hứng. Anh viết rất nhiều, năng suất kỳ lạ. Niềm yêu đời tràn trong các câu thơ:

Ước chi được hoá thành ngọn gió
Ðể được ôm trọn vẹn nước non này
Ðể thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Ðể mát rượi những mái nhà nắng lửa
Ðể luôn luôn được trở lại với đời

Giữa lúc ấy, tai nạn ập đến. Mười hai tập thơ đã dàn ra chưa kịp viết đầy. Ðau xót qua rồi không nói lại. Cái gì đáng còn sẽ mãi mãi. Khen chê cũng có thể đổi thay. Ðiều gì anh tin anh cứ tin. Kinh nghiệm đời anh anh vùi trong những câu thơ, hôm nay chúng ta soi lại, mỗi người thể nghiệm với riêng mình. Tôi viết những dòng này để trò chuyện với anh, trân trọng những gì anh tặng lại chúng ta. Ðòi hỏi gì ở anh bây giờ cũng vô nghĩa.

4-1989

VŨ QUẦN PHƯƠNG

TRÍCH tác phẩm:

… Mắt của trời xanh

Tóc của đêm dài, mắt của trời xanh
mắt của phương xa, tay của đất nâu lành
người yêu như lửa và như lụa
bản nhạc ngày xưa, con tàu xứ lạ
Nắng cuối mùa đông, hoa chớm thu…

Bánh xe lăn bờ biển cát bao la
con ve xanh mưa rào ướt đẫm
đôi mắt to nóng bỏng
nói chi lời tàn nhẫn để anh đau?

Ru em bên bờ sâu
lòng đêm rừng thăm thẳm
mặt trời – chiếc mũ vàng chói sáng
nghiêng một ngày xuống ngủ ở vai em

Anh muốn làm cánh cửa để em quên
ngọn gió nhỏ trên trán em kiêu hãnh
làm cốc nước em cầm trưa nắng gắt
làm con đường quen thuộc để em qua

Vì em, anh viết những bài thơ
gương mặt ấy không gì thay được cả
mặc ai bảo tình yêu giờ đã cũ
như vầng trăng như ngọn thủy triều…

Anh vẫn dựng ngôi nhà theo quy luật của tình yêu
chẳng cần những lâu đài lạnh giá
chỉ tin nơi nào có em đến ở
chỉ sống bằng hơi thở của em thôi.

Tiếng Việt

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thỏi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chữ chưa viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa
ÓNG TRE NGÀN VÀ MỀM MẠI NHƯ tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý âm thầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồn lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bể thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình…

Em vắng

Cốc nước trên bàn
quyển sách gập giữa trang
tấm gương soi vào khoảng trống
ngọn đèn soi gian phòng vắng
tấm áo em trên thành nghế im lìm
chiếc thìa con, lát chanh mỏng úa vàng
vài sợi tóc đen
vương trên chiếc lược…
những đồ vật lung linh dấu vết
của dịu hiền thân thuộc ngón tay em.

Chuyến xe ca lầm lũi bánh đầy bùn
một người đàn bà lên xe, ba-lô cũ bạc
tình yêu của anh ở sau cửa kính
tình yêu của anh đi với mùa hè

Anh về nhà, không có ai chờ
chiếc chìa khóa quay trong ổ khóa
chiều đã tắt thành đêm
người đã xa thành nhớ
vùng núi mây bao lá trắng xóa
mưa dài cỏ rậm thảo nguyên cao
Con đường về nơi ấy biết đâu
bây giờ thành khoảng cách
chợt thức dậy biết em không ở cạnh
Anh ra đường, thành phố không em
kẻ lẻ loi còn được lặng yên
anh như đứng trên gai, đi trên lửa
không đủ sức sướng vui hay buồn khổ
chỉ còn lại bậc cửa đợi chờ em.

Gió bồn chồn nhắc gọi bước chân quen
Em như thời khắc của anh
như dáng hình như trí nhớ
Phải xa em anh chẳng còn gì nữa
Chẳng còn gì, kể cả nỗi cô đơn.

… Và anh tồn tại

Giữa bao la đường sá của con người
Thành phố rộng, hồ xa, chiều nổi gió
Ngày chóng tắt, cây vườn mau đổ lá
Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài
Chỉ một người ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi
Khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới
Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương
Người ấy chỉ vui khi anh hết lo buồn
Anh lạc bước, em đưa anh trở lại
Khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi
Em là sớm mai là tuổi trẻ của anh
Khi những điều giả dối vây quanh
Bàn tay ấy chở che và gìn giữ
Biết ơn em, em từ miền gió cát
Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng
Anh thành người có ích cũng nhờ em
Anh biết sống vững vàng không sợ hãi
Như người làm vườn, như người dệt vải
Ngày của đời thường thành ngày – ở – bên – em
Anh biết tình yêu không phải vô biên
Như tia nắng, chúng mình không sống mãi
Như câu thơ, chắc gì ai đọc lại
Ai biết ngày mai sẽ có những gì
Người đổi thay, năm tháng cũng qua đi
Giữa thế giới mong manh nhiều biến đổi
“Anh yêu em và anh tồn tại”.

Em của anh, đôi vai ấm dịu dàng
Người nhóm bếp mỗi chiều, người thức dậy lúc tinh sương
Em ở đấy, đời chẳng còn đáng ngại
Em ở đấy, bàn tay tin cậy
Bàn tay luôn đỏ lên vì giặt giũ mỗi ngày
Ðôi mắt buồn của một xứ sở có nhiều mưa
Ngọn đèn sáng rụt rè trên cửa sổ
Ðã quen lắm, anh vẫn còn bỡ ngỡ
Gọi tên em, môi vẫn lạ lùng sao.

1976

Bài hát ấy vẫn còn là dang dở…

Nắng đã tắt dần trên lá im
Chiều đã sẫm màu xanh trong mắt tối
Ðường đã hết trước biển cao vời vợi
Tay đã buông khi vừa dứt cung đàn
Gió đã dừng nơi cuối chót không gian
Mưa đã tạnh ở trong lòng đất thẳm
Người đã sống hết tận cùng năm tháng
Sau vô biên sẽ chỉ có vô biên
Anh vẫn chưa nói được cùng em
Bài hát ấy vẫn còn là dang dở
Chưa hiểu được mùi thơm của lá
Chưa nghe xong tiếng hót của chim rừng
Yêu thương hoài vẫn chưa đủ yêu thương
Ôi nếu phải tan thành bụi cát
Thành hư vô, không khí trời, không ánh sáng
Chỉ rỗng không, câm lặng, vô hình
Sẽ ở đâu, bài hát ấy của anh
Gương mặt của hôm nay ơi, em của những ngày đang sống?

Không ôm được cả bầu trời lồng lộng
Nhưng có thể cầm một chùm quả trên tay
Có thể trồng thêm một bóng mát cho ngày
Không tới được một vì sao xa lắc
Nhưng có thể đến trong mùa cấy gặt
Làm thuyền trên sông, làm lúa trên đồng
Làm ngọn lửa hồng, làm tấm gương trong
Và nhận hết niềm vui trên cõi sống
Mũi kim nhỏ mà chiều mau tắt nắng
Có sao đâu: áo đẹp đã xong rồi
Phút cuối cùng tay vẫn ở trong tay
Ta đã có những ngày vui sướng nhất
Ðã uống cả men nồng và rượu chát
Ðã đi qua cùng tận của con đường
Sau vô biên dẫu chỉ có vô biên:
Buồm đã tới và lúa đồng đã gặt.

Lý thương nhau

Con cá rô nằm vũng chân trâu
Ðồng mưa nước trắng
Bàn tay em mát lạnh
Bây giờ đâu

Ngón tay xanh xao
Nắng chiều kẽ lá
Ngón tay gầy nhánh mạ
Anh không còn nắm nữa
Bây giờ đâu

Lý thương nhau
Câu hát chiều đông trước
Gà con cỏ ướt
Chân vang run run

Ðã trót thương em
Làm sao xa được
Thôi em đừng khóc nữa
Ðường dài nắng chang

Muốn bỏ đi tất cả
Mặc trống đánh ngũ liên
Mặc quan sai xuống thuyền
Vứt bao vàng bẻ giáo
Anh ở lại cùng em

Nếu đường đừng xa thế
Nếu em chẳng mạ xanh lá bé
Nếu anh không giếng thẳm rơi gầu

ích chi đâu
Ðành ngoảnh mặt cúi đầu
Thôi đừng thương mến nữa
Thôi tiếng hát chớ nghẹn ngào trong gió
Lý thương nhau…

(Rút trong tập “Bầy ong trong đêm sâu”, Nhà xuất bản Hội nhà văn)

Nơi ấy

Ở NƠI ẤY CÓ MỘT ĐỒI MUA TÍM
Có con đường đất mịn mát chân đi
Ở NƠI ẤY CÓ MỘT RỪNG BƯỞI chín
Có người em bé nhỏ ngóng ta về

Tia nắng hạ sáng bừng trên lá cọ
Chim chào mào ăn hạt dẻ mùa thu
Rơm khô ủ những quả hồng chín đỏ
Ngọn gió chiều, hoa sở trắng như mưa.

Ở NƠI ẤY, SUỐI THÀNH SÔNG thành lũ
Xuyên qua rừng, ngập ướt cả bờ lau
Ðèn nhựa trám tinh mơ em nhóm lửa
Sương mịt mù trước cửa, thấy em đâu

Gương mặt ấy, nụ cười bên lửa thắm
Quả doi rừng trong nón để phần nhau
Ở NƠI ẤY VỊ MĂNG VẦU CHẲNG đắng
Củ sắn lùi ống nứa vẫn thơm lâu.

Hoa chẳng sớm và trái không quá muộn
Xuân không nhanh và đông chẳng kéo dài
Mỗi khóm lá hương rừng bí mật
Nắng dong vàng thung lũng tiếng ong bay

Tôi đã đi qua đường xa tít tắp
Bao mùa đông mùa hạ đã trôi qua
Bao cửa bể, xóm thôn, thành phố rộng
Một vùng quê nơi ấy ngỡ phai nhòa

Nếu em biết những gì tôi đã sống
Những buồn vui tôi đã có trong đời
Nếu em biết bây giờ tôi khác lắm
Buổi cùng em kiếm củi ven đồi?

Người ta bảo cả em giờ cũng khác
Ðã con bồng con dắt, nhớ chi tôi…
Có sao đâu: trái mùa thu vẫn thắm
Mây mùa thu vẫn trắng những chân trời

Nếu em biết rằng tôi, tôi vẫn nhớ
Vẫn là con suối lũ của rừng xưa
Con tu hú dưới lùm hoa chuối đỏ
Ngọn lửa hồng em ủ giữa chiều mưa?

Vẫn nguyên vẹn những quả rừng thơ dại
Ðã dạy tôi biết chia ngọt sẻ bùi
Vầng trăng lớn mọc lên từ phía ấy
Ngọn gió rừng vẫn thổi giữa hồn tôi.

Bầy ong trong đêm sâu

Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Ðêm sâu quá, đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi
Mà có ngủ đâu, người ta đợi mặt trời
Ðợi lâu quá nên để cơn mơ chờ đợi vậy
Trong cơn mơ là cuộc đời thức dậy
Con ong vàng bé nhỏ đến tìm em
Con ong xanh có đôi mắt đen
Con ong trắng bơ vơ trong tổ vắng
Con ong đỏ là con ong thơ thẩn
Bay đi tìm hương nhụy mất từ lâu
Ðã chết rồi ơi chú ong nâu
Ðể hoa rụng mùa thu thương nhớ bạn

Anh là con ong bay giữa trời lận đận
Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao
Em ở đâu em ngủ ở phương nào
Môi em thở những điều gì khe khẽ?
Em, em gần hay em xa thế nhỉ
Ðến bất ngờ lóa nắng giữa lòng đau
Anh có hẹn đâu anh chả nói câu nào
Anh chỉ buồn thôi, em chỉ buồn thôi, ai biết?
Tóc em dài như một ngày mỏi mệt
Em đợi chi anh, em cần chi anh?
Anh đợi chờ em, không đợi sao đành?
Ðêm như biển không bờ bóng tối rất thẳm sâu
Ðời cũng giống như biển kia anh lại giống con tầu

Tầu anh đi đi hoài trên biển vắng
Mong tìm được một bóng hình bè bạn
Ðến bây giờ anh gặp được tầu em
Anh mở gió tâm hồn cho buồm thắm kéo lên
Ai ngờ tầu em lại là tầu cướp biển
Em cướp hết cuộc đời anh, em lấy hết
Trói anh vào cột buồm của tình yêu
Bão táp nổi lên, chớp giật, tầu xiêu
Em đứng đó hãi hùng ngơ ngác
Anh cũng thương em suốt đời trên sóng nước
Cướp được tầu anh tưởng có ngọc vàng
Ngờ đâu chỉ là ván nát sàn hoang
Còn trơ lại hồn thơ tai ác quá

Nhưng thôi em ơi đấy chỉ là lời ru trong giấc ngủ
Anh thương em đây anh lại êm đềm
Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em
Con ong xanh có đôi mắt đen
Con ong trắng là con ong thương nhớ
Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ
Còn hạnh phúc cuối cùng là tiếng hát chú ong nâu.

Vườn trong phố

Trong thành phố có một vườn cây mát
Trong triệu người có em của ta
Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật
Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra

Vườn em là nơi đọng gió trời xa
Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi

Nơi ban mai cỏ ướt sương rơi
Một hạt nhỏ mơ hồ trên má
Hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá?
Suốt cuộc đời chẳng hiểu vì sao…

Nơi đêm khuya vọng lại tiếng còi tàu
Bỗng nhớ xa xôi những miền đất nước
Nơi bài hát lên đường ta hẹn ước
Nơi góc vườn ta để quên chùm hoa…

Nơi vòm lá rì rào xáo động cơn mưa
Quả ngọt chín khi mùa ve lại đến
Những chân trời mầu hồng những chân trời mầu tím
Những ngôi sao bàng bạc cả hoàng hôn

Nơi lá chuối che nghiêng như một cánh buồm
Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc
Sẽ sẽ chứ, không cánh buồm bay mất
Qua dịu dàng ẩm ướt của làn môi.

Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài
Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa.

Ðến bây giờ đánh giặc anh đi xa
Nhìn lại mảnh vườn xưa thấp hẹp
Biết bao điều anh còn chưa nói được
Rối rít trong lòng mỗi nỗi em em.

Rừng rậm đèo cao anh đã vượt lên
Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại
Vườn không níu được bước chân trở lại
Nhưng lá còn che mát suốt đời anh.

Mảnh vườn em vẫn là mảnh vườn xanh
Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật
Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất
Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về.

1967

1- anh Luu Quang Vu- Xuan Quynh1

Thơ Lưu Quang Vũ Xuân Quỳnh – Những vần thơ sống mãi

Ngày 29/8/1988, vợ chồng thi sĩ tài danh bạc mệnh vĩnh viễn từ giã cõi đời, nhưng những vần thơ chở trái tim, nhiệt huyết của họ không bao giờ tắt.

Bàn tay em

Gia tài em chỉ có bàn tay
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen

Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cười em
Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng
Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay?

Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đường gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ
Hái rau dền, rau rệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc một mình
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ

Đường tít tắp, không gian như bể
Anh chờ em cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ

Trời mưa lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc

Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc
Tay em dừng trên vầng trán lo âu
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả

Khi anh vắng bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở…

Bàn tay em, gia tài bé nhỏ
Em trao anh cùng với cuộc đời em

Xuân Quỳnh

Lại bắt đầu

Lại bắt đầu từ những trang giấy trắng
Lại ngọn đèn, màu mực những câu thơ
Lại nhịp đập bắt đầu, tim rạo rực
Trước biết bao nao nức với mong chờ

Một con tàu chuyển bánh ngoài ga
Làn nước mới, trời xanh và mây trắng
Ngô non mướt, bãi cát vàng đầy nắng
Như chưa hề có mùa lũ đi qua.

Như chưa hề có nỗi đau xưa
Lòng thanh thản trong tình yêu ngày mới
Một quá khứ ra đi cùng gió thổi
Thời gian trôi, ký ức sẽ phai nhoà.

Những mùa sen, mùa phượng đã xa
Trên khắp nẻo lại bắt đầu mùa cúc
Rồi hoa đào lại tươi hồng nô nức
Như chưa hề biết đến tàn phai.

Tay trong tay tôi đã bên người
Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn
Vì mỗi sáng khi mặt trời hiển hiện
Là một ngày tôi lại bắt đầu yêu.

Xuân Quỳnh

Thư viết cho Quỳnh trên máy bay

Có phải vì mười lăm năm yêu anh
Trái tim em đã mệt?
Cô gái bướng bỉnh
Cô gái hay cười ngày xưa
Mẹ của các con anh
Một tháng nay nằm viện

Chiếc giường trắng, vách tường cũng trắng
Một mình em với giấc ngủ chập chờn
Thương trái tim nhiều vất vả lo buồn
Trái tim lỡ yêu người trai phiêu bạt
Luôn mắc nợ những chuyến đi, những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật
Vẫn là gã trai nông nổi của em
Người chồng đoảng của em
15 mùa hè chói lọi, 15 mùa đông dài

Người yêu ơi
Có nhịp tim nào buồn khổ vì anh?
Thôi đừng buồn nữa, đừng lo phiền
Rồi em sẽ khoẻ lên
Em phải khoẻ lên
Bởi ta còn rất nhiều dặm đường phải đi
Nhiều việc phải làm nhiều biển xa phải tới
Mùa hè náo động dưới kia
Tiếng ve trong vườn nắng
Và sau đê sông Hồng nước lớn
Đỏ phập phồng như một trái tim đau

Từ nơi xa anh vội về với em
Chiếc máy bay dọc sông Hồng
Hà Nội sau những đám mây
Anh dõi tìm: đâu giữa chấm xanh nào
Có căn phòng bệnh viện nơi em ở?

Trái tim anh trong ngực em rồi đó
Hãy giữ gìn cho anh
Đêm hãy mơ những giấc mơ lành
Ngày yên tĩnh như anh luôn ở cạnh
Ta chỉ mới bắt đầu những ngày đẹp nhất
Vở kịch lớn, bài thơ hay nhất
Dành cho em, chưa kịp viết tặng em
Tấm màn nhung đỏ thắm
Mới bắt đầu kéo lên
Những ngọn nến lung linh quanh giá nhạc
Bao nỗi khổ niềm yêu thành tiếng hát
Trái tim hãy vì anh mà khoẻ mạnh
Trái tim của mùa hè, tổ ấm chở che anh…

Lưu Quang Vũ

Mây trắng đời tôi

Những ngọn lửa vô hình chưa kịp có tên
Dòng nhựa trong cây, mùa xuân trong dòng nhựa
Cơn gió ẩn sau buồm, chân trời sau biển cả
Những nhịp cầu
Nối hạt cát với ngôi sao
Bánh ăn và giấc mộng
Đưa tôi tới những bến bờ chưa tới được
Vượt khỏi mình, tôi nhập với trăm phương

Nói lời riêng mà thấu triệu tâm hồn
Sau đêm tối, một ban mai mới mẻ
Dẫu ngắn ngủi dẫu từng tia chớp lóe
Đủ cho anh nhìn thấy mặt em rồi

Trên mái nhà, cao vút rừng cây
Trên rừng cây, những đám mây xô dạt
Trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng
Thơ tôi là mây trắng của đời tôi

Những dòng thơ thao thức khôn nguôi
Những dòng thơ người viết cho người
Trên bãi bể thời gian, tôi viết tiếp
Những dòng thơ như móng tay day dứt
Trên vỏ dưa xanh thắm của mùa hè
Cho kẻ xa nhà mái lá chở che
Cho ngưng lại nhịp đồng hồ quên lãng
Sợi dây mỏng nối liền ta với bạn
Và ban mai trong mắt những con gà…

Lưu Quang Vũ

1- anh Luu Quang Vu- Xuan Quynh1

Bí mật về chuyện tình của nhà thơ Lưu Quang Vũ

Được sự đồng ý của PGS-TS. Lưu Khánh Thơ (em gái cố nhà thơ Lưu Quang Vũ), báo Người đưa tin xin tiết lộ một phần bí mật những năm tháng cuối cùng của cố nhà thơ Lưu Quang Vũ. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn của Công lý Trái tim với chị Lưu Khánh Thơ.

Lưu Quang Vũ viết gì trong vở kịch cuối cùng?

Vở kịch cuối cùng đang viết dở có tên “Chim sâm cầm đã chết”.

Nguyễn Việt Chiến: Thưa PGS-TS. Lưu Khánh Thơ, trong số các di cảo đưa vào Trung tâm lưu trữ Quốc gia 3, có vở kịch nào của Lưu Quang Vũ hiện nay chưa được công bố không, nghe nói vở kịch cuối cùng viết trước khi mất hiện vẫn đang ở dạng bản thảo?

1- anh Luu Quang Vu- Xuan Quynh2
Ảnh vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh.

 

PGS-TS Lưu Khánh Thơ: Nói chung là kịch được công bố hết rồi chỉ còn một vở đang viết dở dang thì chưa được công bố thôi. Khoảng 50 vở kịch viết từ năm 1979 đến năm 1988. Vở đầu tiên là “Sống mãi tuổi 17” diễn ở nhà hát Tuổi Trẻ cho đến vở cuối cùng là “Chim sâm cầm không chết” thì là đang viết dở. Về vở kịch cuối cùng, đầu tiên anh Vũ đặt tên là “Chim sâm cầm đã chết”, xong đạo diễn Phạm Thị Thành bảo ghê quá toàn chết chóc, và anh Vũ đổi thành “Chim sâm cầm không chết”. Vở kịch ấy đang viết dở dang, mới viết phân vai, mới viết được mấy trang đầu thôi thì anh ấy mất. Nội dung vở kịch anh Vũ viết về khung cảnh ở Hà Nội. Em đọc, thấy mở ra là bối cảnh Hồ Tây, ngày xưa ở đấy chim sâm cầm nhiều lắm. Có một con chim sâm cầm bị thương, con chim bị vướng bẫy, sau đấy nó thoát ra, một cô bé khoảng 14-15 tuổi, nhà ven Hồ Tây nhặt được chim, mang nó về nuôi nấng, chăm sóc lành vết thương rồi thả nó về tự do. Sáng nào con chim ấy cũng bay trở về bờ hồ nơi cô bé ngóng đợi.

Nhưng có một buổi sáng không thấy con chim trở về nữa. Hình như cô bé thấy có một cái gì đấy không bình thường lắm. Có một ông già họ Bạch gặp cô bé bên bờ hồ và hỏi: “Sao cháu có gì băn khoăn mà lại đứng ở bên hồ”. Sau đó ông nói với cô bé rằng: “Trước đây ở Hồ Tây này rất nhiều chim sâm cầm, bây giờ bị đánh bắt nhiều quá nên chim không còn nữa. Đây là giống chim quý ngày xưa dùng để tiến vua. Theo lẽ đời, cỏ gấu, cỏ gà thường mọc tràn lan, còn những cái loài hiếm quý thì sẽ bị mai một, bị tiêu diệt đi, lẽ đời là thế…”. Đây là câu cuối cùng đang viết dở trong kịch bản. Đang viết dở thì anh Vũ đi Hải Phòng và bị tai nạn.

Còn di cảo về thơ thì sao, nghe nói còn khá nhiều bài thơ chưa được công bố, thưa chị?

Di cảo thơ của anh Vũ thì còn khá nhiều bài chưa công bố, trong đó có nhiều bài thơ viết về chiến tranh với cái nhìn khá hư vô, rất gần với thân phận con người và điều quan trọng – rất nhân bản. Các bài thơ ấy cũng tương tự như bài “Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn” trước đây đưa vào các tập thơ của anh Vũ mà phải sau 3 lần mới công bố được. Khi in tập thơ “Bầy ong trong đêm sâu” của anh Vũ, anh Vương Trí Nhàn biên tập, là người rất hiểu, rất thân với anh Vũ, anh Nhàn bảo bài này rất hay nhưng không thể đưa nó vào. Em bảo thôi cứ đưa nó vào đi nhưng cuối cùng vẫn không được duyệt. Mãi cho đến khi in tập “Thơ và đời Lưu Quang Vũ” mới đưa vào được. Cái bài thơ ấy mình thấy nó có cái gì đâu so với thơ bây giờ, họ còn kinh hoàng hơn nhiều nhưng mà người ta cứ sợ thế cái thời năm 1971- 1972 cuộc chiến tranh đi qua chẳng có gì cùng ta ở lại cả. Hồi đấy nghe nói cũng có người coi anh Vũ như “một nhà thơ đen”. Anh Vương Trí Nhàn bảo: “Nghe thơ Vũ vừa thích vừa sợ, thơ Vũ một mình một kiểu, một mình một giọng”.

1- anh Luu Quang Vu- Xuan Quynh1
Nhà thơ Lưu Quang Vũ và vợ – nhà thơ Xuân Quỳnh

 

Thưa chị, ngoài làm thơ, viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ còn viết truyện ngắn, hồi ký, bút ký và chân dung văn học?

Sau tập “Diễn viên sân khấu” anh Vũ định viết một cuốn sách về các đạo diễn sân khấu nữa, anh ấy là người rất hiểu nghề, hiểu người. Đã có lúc anh Vũ đình tạm dừng viết kịch để hoàn thành tập sách “Chân dung đạo diễn”, viết về khoảng 15 đạo diễn. Anh Vũ bảo là mình rất hiểu các đạo diễn vì mình đã cộng tác nhiều lần với họ, cụ thể như họ đã từng thực hành trên vở diễn của mình vậy, vì từ phong cách của cá nhân người viết kịch mà hiểu biết được cái phong cách của các đạo diễn là điều anh Vũ rất tâm đắc. Anh Vũ bảo đã tích lũy được kinh nghiệm của người sáng tác từ người làm báo, và trước khi viết một cuốn sách, có lẽ phải dừng lại mấy năm để tâm tư lắng lại rồi mới viết.

Có nhuận bút kịch bản đổi bằng mấy bao tải lạc

Xin chị cho biết về sự gắn bó của nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ với các đoàn kịch cách đây gần 30 năm. Thời ấy, có giai thoại về một số đoàn kịch phải”cơm nắm muối vừng” chầu trực nhiều ngày để chờ đợi kịch bản của Lưu Quang Vũ?

Anh Vũ có một cá tính khá hay là rất hay vì nể. Thời ấy, đúng là có chuyện các đoàn kịch cứ đứng chầu trực, rình mò, từ 4-5h sáng ở khu nhà gia đình bố mẹ em. Sớm ra, cứ mở cửa là đã thấy 2-3 ông ngồi chờ ở cầu thang, ngồi trông khổ lắm. Anh Vũ bảo mình cứ cố gắng viết xong kịch bản này cho họ vì có kịch dựng thì họ sẽ nuôi sống được thêm bao nhiêu con người. Hôm mới rồi, em cùng Lưu Quang Định (em trai Lưu Quang Vũ) xuống xem Đoàn chèo Hải Phòng dựng lại vở kịch “Ông vua hóa hổ” của anh Vũ cách đây hơn 25 năm. Đoàn kịch cho biết, họ trân trọng và biết ơn anh Vũ lắm, vì cái thời bao cấp đói khổ ấy, đoàn chèo đã sống được là nhờ mấy vở của anh Vũ, đầu tiên là vở “Muối mặn đời em” sau đó là vở “Linh hồn của đá” đến vở “Ông vua hóa hổ”, coi như là xông xênh diễn một ngày hai ba buổi, đi về các địa phương lên cả vùng sâu vùng xa diễn mà bán vé rất là rẻ.

Trưởng đoàn chèo Hải Phòng ngày ấy là diễn viên kể lại: “Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ ngày giỗ anh Vũ, giỗ tôi chẳng có gì cả, tôi chỉ thắp hương và có một bàn thờ nhỏ nhỏ ở sau đoàn trong một cái phòng nho nhỏ, mua một gói thuốc lào và một cái điếu cày đặt lên bàn thờ, khi anh Vũ làm việc anh ấy chỉ có thuốc lào và điếu cày cho nên tôi rất nhớ! Khi mà tôi đang diễn vở “Ông vua hóa hổ” ở Thủy Nguyên thì nghe tin anh Vũ mất trên đường đi từ Hải Phòng về, thế là chúng tôi vừa ra diễn, kể cả những vai hề, ra sau sân khấu thì tất cả đều khóc. Khi diễn chúng tôi vẫn nhớ đến anh Vũ và tri ân lắm”. Có một chuyện kể ra cũng thật là khôi hài. Có hôm, một số người hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ em kháo nhau “ Anh Vũ viết kịch được nhiều tiền thật, có đoàn họ mang cả bao tải tiền lên nhà!”.

Đầu đuôi câu chuyện thế này, đoàn kịch Thanh Hóa lên gặp anh Vũ để đặt kịch bản, ông phó đoàn vác lên nhà một bao tải lạc, nói “Đoàn ở Thanh Hóa bị lũ bão, không có tiền, không có gì cả nhưng mà rất cần vở để diễn, nên chúng tôi mang bao tải lạc vỏ để biếu gia đình”. Sau đó, khi vở kịch dựng xong, đoàn kịch Thanh Hóa lại mang hai bao tải lạc vỏ lên cảm ơn, cả nhà em ngồi bóc lạc suốt đêm đến đau cả tay, mỗi bao tải bóc ra chỉ được khoảng 5kg lạc thôi, mẹ gọi em đến cho nửa bao, nhưng hồi đấy lạc cũng quý. Sau đó, hàng xóm mới biết chuyện kịch của anh Vũ được trả nhuận bút bằng lạc. Nhưng đấy cũng là chuyện hy hữu thôi, vì nhiều đoàn kịch “ăn nên làm ra” trả nhuận bút kịch bản cho anh Vũ thời điểm ấy cũng được 1-2 chỉ vàng một vở. Nếu vào thời điểm bây giờ mà viết kịch với tốc độ như anh Vũ ngày ấy thì chắc sẽ giàu to!

1- anh Luu Quang Vu- Xuan Quynh3
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Lưu Quang Vũ sau đêm diễn.

 

Thưa chị, có phải anh Vũ cho rằng mối quan tâm trăn trở nhất của cuộc đời anh ấy chính là thi ca ngay cả khi những vở kịch thành công thời đổi mới đã đưa anh ấy lên hàng kịch tác gia đương đại nổi tiếng nhất?

Vâng đúng như vậy, thơ luôn luôn là điều anh ấy tâm niệm từ lúc trẻ đến khi mất. Anh Vũ nói phải viết kịch vì đấy là vì nhu cầu của xã hội, của công chúng sân khấu và cũng phải viết để sống nhưng mà được sống cho mình, khao khát cho mình nhất vẫn là thơ. Anh ấy nói công khai mà như một cái tuyên ngôn, rất là thương. Khi em thu thập các bản thảo của anh Vũ, thấy những kịch bản sân khấu viết bằng loại giấy rất là xấu, như là giấy nhặt ở đâu đấy, thậm chí là giấy lai cảo.

Chị Quỳnh biên tập thơ ở đâu đấy, thơ lai cảo của báo Văn Nghệ thì mặt sau bản thảo thơ bỏ đi thì anh Vũ viết kịch. Anh ấy có một thói quen trong sáng tác, khi nào viết kịch thấy mệt mỏi, căng thẳng quá thì anh chuyển sang làm thơ và viết thơ vào giữa những trang bản thảo kịch. Cho nên, lúc xử lý bản thảo, ai không biết sẽ tưởng bài thơ đó là viết cho vở kịch. Vì chỉ khi nào mang kịch bản đi đánh máy thì anh Vũ mới gạch bài thơ ấy đi. Ví dụ trong bản thảo vở kịch “Cô gái đội mũ nồi”, ở đoạn anh Vũ viết về ông kiến trúc sư đang vẽ thiết kế cho một ngôi nhà, bỗng dưng xuất hiện bài thơ “Mây trắng của đời tôi”. Đấy là trong lúc viết kịch bản, anh Vũ chợt nảy ra một ý thơ, một tứ thơ và lập tức anh ấy chuyển từ viết kịch sang làm thơ ngay. Nói thế để thấy, anh Vũ luôn coi thơ là miền đất sáng tạo văn học tâm đắc nhất của mình. Và rất nhiều lần anh Vũ nói với em, phải đến 2 năm trước khi mất, anh ấy tâm sự: “Sẽ phải dừng lại, không viết kịch nữa bởi vì nó cứ ào ào và kéo mình đi, nên phải lắng lại, dành thời gian cho thơ và những sáng tác khác”.

Bóng hồng cuối đời

Tình yêu của hai nhà thơ Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh có điều gì đó giống như một huyền thoại, ngay cả khi phải ra đi họ “vẫn tay trong tay, ở bên nhau”đến phút cuối cùng. Chị Lưu Khánh Thơ có thể cho độc giả biết thêm về chuyện này, vì nghe nói trong 2 năm cuối đời, đã có “một bóng hồng” khác trong cuộc đời thi sĩ của Lưu Quang Vũ và chị Xuân Quỳnh cũng mong manh biết chuyện ấy, sự thật ra sao khi trong một số bài thơ tình viết cuối đời, dường như Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh vẫn dành cho nhau sự thương yêu nồng nàn?

Anh Vũ em là một người rất tài hoa, đa tình và phải công nhận có nhiều cô gái phải lòng anh Vũ và anh ấy yêu cũng khá nhiều người. Sau này, khi em đọc thư của anh Vũ và chị Quỳnh, em mới biết, lần đầu khi anh Vũ (đang sống độc thân và có một con riêng) đến tỏ tình với chị Quỳnh (cũng đang sống độc thân và có một con riêng) là chị ấy từ chối ngay, không phải vì chị không yêu mà chị ấy biết là không lâu bền được. Lúc đó, chị Quỳnh bảo chị chẳng có gì cả, chị không tin là ông Vũ yêu chị ấy. Chị Quỳnh nghĩ anh Vũ thương hại chị vì thời gian rất ngắn sau mối tình đổ vỡ của chị Quỳnh với một ông nhà thơ khác.

Về sau này, chị Quỳnh có kể lại với em về mối tình đổ vỡ ấy, chị hận nhất là ông nhà thơ kia đã lừa dối, bảo chị bỏ chồng, rồi ông ấy sẽ bỏ vợ để hai người lấy nhau. Sau đó, chị Quỳnh bỏ chồng thật, còn ông nhà thơ kia chẳng chịu bỏ vợ, nên chị Quỳnh rất uất ức. Chị Quỳnh rất cực đoan, đã yêu là phải lấy, không có chuyện cặp bồ, cái thời đấy nó thế với cả cái tính chị ấy cũng thế. Rồi sau đó, chị Quỳnh yêu anh Vũ, một tình yêu thật đặc biệt. Khi biết chuyện anh Vũ, chị Quỳnh yêu nhau, mẹ em phản đối lắm. Lúc đó, một số người, trong đó có nhà văn Nguyễn Đình Thi (có thời là cấp trên của mẹ em ở NXB Tác phẩm mới) đến gặp mẹ em để thuyết phục, ông nói: “Chị ạ, hai người đều có tài, thôi chị ủng hộ đi”. Sau đó, mẹ em mới đồng ý cho anh Vũ lấy chị Quỳnh và hai người sống với nhau rất hạnh phúc trong 15 năm cuối đời.

Mẹ em sống với vợ chồng anh Vũ, chị Quỳnh với thằng cháu, còn em cứ đi đi về về thôi. Anh Vũ mà đi công tác là anh ấy lại gọi thì em lại về nhà ở với mẹ em. Chị Quỳnh hồi đấy hay bị ốm, những năm cuối đời thì chị ấy bị bệnh tim rất nặng, anh Vũ nói với em là bác sĩ bảo chị Quỳnh bị nặng lắm, phải có chế độ chăm sóc đặc biệt. Anh Vũ nói với mẹ em đừng tiết kiệm quá, mẹ em cũng là người quản lý sau khi chị Quỳnh đi nằm viện. Anh Vũ bảo: “Mẹ đừng tiết kiệm, con cũng kiếm được tiền”. Tam thất hồi đấy còn hiếm, cứ bảo em lên Lãn Ông mua về hấp với quả tim cắt ra để cho chị Quỳnh ăn. Bác sĩ bảo Quỳnh giỏi lắm cũng chỉ sống được 2-3 năm thôi. Chị Quỳnh không hề biết. Sau khi điều trị ở bệnh viện về thì chị thấy có đỡ hơn. Anh Vũ dặn mẹ với em, những lúc chị Quỳnh đi viện về thì chăm sóc nhưng giấu chị, chỉ nói là bị bệnh nhẹ thôi, và bảo chị đừng có tham công tiếc việc, đừng thức đêm thức hôm, phải nghỉ ngơi.

Trong mấy năm cuối đời, đúng là có “một bóng hồng” trong tình yêu của anh Vũ. Thật ra, chị Quỳnh có tính ghen khá mạnh mẽ. Trong chuyến đi nghỉ cuối cùng ở Hải Phòng, lúc bấy giờ dẫu anh Vũ có gàn không cho chị Quỳnh đi thì sợ chị lại nghĩ ngợi, nên anh Vũ cũng vì nể. Em nghĩ nó như định mệnh ấy. Hay là thơ của hai người cũng thế. Bài “Lại bắt đầu”-Xuân Quỳnh viết: “Tay trong tay tôi đã bên người/Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn/ Bởi sớm mai khi mặt trời hiển hiện/Là một ngày tôi lại bắt đầu yêu”. Có một cái câu sau này mình đọc mình thấy sợ “Tay trong tay tôi đã bên người/Tôi chẳng nói điều chi về vĩnh viễn”.

Em nói thật, cái chết này với chị Quỳnh là một sự giải thoát bởi vì chị ấy yêu anh Vũ kinh khủng, chị là người vô cùng thông minh, chị Quỳnh ý thức được cái giới hạn của chị ấy. Trong con người của anh Vũ, cái phát triển về tài năng, về con người, về thể chất, chị Quỳnh rất biết và chị là người ghen tuông khủng khiếp. Cái năm sau, cái năm mà chị Quỳnh ốm đau thì chị ấy không ghen tuông nữa mà chị ấy rất đau đớn vì chị ấy ý thức được cái bất lực, cái giới hạn của mình. Trước hay sau thì anh Vũ cũng vẫn là người rất tình nghĩa, rất thương chị Quỳnh nhưng em biết anh ấy có chuyện nọ chuyện kia. Phải nói, chị Quỳnh là người rất có lòng tự trọng, chị ấy không thể nào sống giả vờ, nếu anh Vũ yêu người khác thì chị Quỳnh sẽ phải chia tay, chị ấy sẽ chủ động.

Chị Quỳnh là người quyết liệt lắm, chị ấy yêu là phải lấy. Khi mà chị Quỳnh cảm thấy sống không còn tình yêu nữa thì chị ấy sẽ không chịu giả vờ làm một “mô hình gia đình hạnh phúc” đâu, chị sẽ chủ động chia tay. Chị Quỳnh là người quyết liệt lắm, sống đến tận cùng với tất cả tình cảm. Chị rất yêu anh Vũ nhưng chị ấy không chấp nhận được anh Vũ có cô này cô nọ. Có thể là anh Vũ vẫn đưa tiền cho chị ấy, vẫn tử tế, tình nghĩa, thương và biết ơn nhưng tình yêu thì nó khác. Đàn ông ai chả thế. Chị ấy biết thế mà. Từ khi anh Vũ, chị Quỳnh mất em cũng thay đổi rất nhiều, em làm khổ ông Vũ cũng nhiều. Chị Quỳnh cứ kể mọi chuyện với em, còn em cứ gạt đi bảo chị đừng nghĩ anh Vũ tầm thường như thế, anh ấy là một người nghệ sĩ và anh ấy yêu chị.

Chị Quỳnh chua xót bảo: “Không! Thơ đừng nghĩ là chị coi thường anh ấy, chị không nghĩ đấy là xấu mà là con người anh ấy thế, bản năng con người nó là thế, đó là chuyện rất bình thường của con người!”. Và chị Quỳnh đau đớn chấp nhận cái điều ấy, chị không trách móc gì nữa nhưng chị ấy rất đau. Sau này em nghĩ: Nếu mà không chết chắc gì được bền, có khi lại chia tay mà đối với chị Quỳnh thì đó là điều sống rất què quặt, chị ấy không chịu nổi. Cho nên với chị Quỳnh đó là sự giải thoát, trước cái chết này. Chỉ có đau là anh Vũ, nếu như có định mệnh thì em cho là chị Quỳnh lôi đi đấy, chị ấy không thể chấp nhận anh Vũ vào tay ai. Chắc lúc đấy anh Vũ có yêu người khác, chị Quỳnh lại bệnh tật. Những câu thơ chị Quỳnh viết ngày ấy, đọc xong thấy đau đớn, gần như cái di chúc của chị ấy “Trái tim em nay mỗi phút mỗi giờ/Chỉ có đập cho mình em đau đớn/Trái tim nay chẳng còn có ích/Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”. Chị Quỳnh rất cô đơn. Người bị bệnh tim như thế mà ôm một nỗi đau như thế thì không thể chịu đựng được. Đó là cái chết giải quyết mọi nỗi đau, có lẽ cũng toại nguyện với chị ấy.

Lúc đó anh Vũ yêu một cô diễn viên trẻ vừa cói tài vừa có sắc, chị Quỳnh biết chuyện. Khi anh Vũ mất khoảng 1 tuần hay 10 ngày thôi, em tìm gặp cô diễn viên ấy. Không gặp được cô ấy, em có để lại mấy chữ. Sau đó, cô ta đến cơ quan em, em mời ra quán café, em nói là: “Việc anh Vũ với chị Quỳnh mất như thế, Thơ biết là anh Vũ với em có tình cảm gắn bó”. Việc này chỉ có em với ông anh trai biết thôi, chính em cũng chưa nghĩ ra đâu, ông anh trai bảo phải gặp cô gái đó càng sớm càng tốt kẻo không nó đang hoang mang. Em nghĩ cô ấy còn trẻ thế, bây giờ may mà còn giữ được giọt máu của anh mình thì quý hóa quá.

Em bảo: “Thứ nhất là anh Vũ mất rồi thì mình thay mặt gia đình, nếu em còn giữ được giọt máu của anh Vũ thì mình sẽ thay mặt gia đình có trách nhiệm với em”. Cô ấy bật khóc, quán café thì vắng nên người ta cứ nhìn. Người nó cứ run bần bật lên, mình cũng khóc, vừa mừng vừa sợ, chắc là đúng rồi. Cô ấy khóc 5 phút xong thì bảo “Chị ơi, tiếc là không có, nếu mà có thì không cần gia đình, em cũng sẽ giữ gìn và nuôi nấng”. Chứng tỏ cô ấy cũng rất yêu anh Vũ. Năm đấy anh Vũ có làm một cái lịch. Anh Vũ rất có khiếu hội họa. Năm nào anh ấy cũng vẽ một cái tranh rồi dán lên cái lịch và ở dưới là cái lốc. Trên cái lịch năm ấy, trong bức tranh anh Vũ vẽ, có nét của cô gái này, nét vẽ rất siêu thực…

dat-nuoc

Bài giảng Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm

I. Tìm hiểu chung

1. Tiểu dẫn

a. Tác giả:

– Nguyễn Khoa Điềm: Sinh năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Hoà Phong, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên -Huế.

– Quê gốc ở An Cựu, Thuỷ An, Thành phố Huế.

– Ông đựợc tặng Giải thưỏng nhà nước về Văn học và nghệ thuật năm 2000.

b. Tác phẩm: Đoạn trích “Đất nước” từ trường ca”Mặt đường khát vọng”.

– Hoàn thành năm (1971) và in lần đầu ở miền Bắc (1974).

II. Đọc hiểu:

1. Đọc.

2. Tìm hiểu đoạn trích:

*Bố cục: đoạn trích chia làm hai phần:

* Đại ý: thể hiện tư tưởng: Đất Nước này là “Đất nước của Nhân Dân” Từ đó thức tỉnh tuổi trẻ Miền Nam hoà hợp vào cuộc đấu tranh hướng về nhân dân đất nước.

a. Đất nước của nhân dân: được cảm nhận ở những góc độ khác nhau = >Từ đó nhà thơ thức tỉnh tuổi trẻ hướng về nhân dân đất nước.

-Tác giả nhìn nhận đất nước trên phương dịên của ca dao thần thoại:


“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thưòng hay kể

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”

=> Đất Nước có từ rất xa – Đất Nước không chỉ bắt nguồn từ đời sống lam lũ, lo toan hàng ngày mà còn bắt nguồn từ đời sống tình cảm:

“Cha mẹ thương nhau
Và Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm mát
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi ta đánh rơi chiếc khăn trong buổi nhớ thầm”

=> Tình yêu đôi lúa cũng làm nên gương mặt tinh thần của Đất Nước.

=>Tác giả cảm nhận Đất Nước trên nhiều bình diện, phát hiện nhiều điều mới mẻ. Đất Nước là sự thống nhất hoà hợp của nhiều phương diện văn hoá phong tục truyền thống cả ca dao thần thoại có những chuyện thuộc đời thường hàng ngàycũng có những cái thuộc về vĩnh hằng.Trong đời sống con người có cả cộng đồng,vì thế giọng thơ chuyển từ trữ tình sang chính luận.

b. Đất Nước của nhân dân đã quy tụ cái nhìn đưa đến những phát hiện mới mẻ, sâu sắc về lịch sử, địa lí:

– Tư tưởng “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân” đã quy tụ mọi cách nhìn mới mẻ Tác giả đã nhìn nhận về Đất Nước trên các bình diện về địa lí, lịch sử, văn hoá.

– Những địa danh dòng sông (Cửu Long, Chín Rồng), đến tên núi “Vọng Phu”, những tên đất gắn với tên người (Ông Đốc, Ông Đen, Bà Đen, Bà Điểm) đến gò, đầm, bãi, những danh lam thắng cảnh (Hạ Long) đã gắn liền với dân tộc, gắn với cuộc sống con người. Từ đó lời thơ như thăng hoa, đúc kết thành triết lí sâu sắc:


Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

– Tác giả cất lên tiếng gọi: “Em ơi em”

Sau tiếng gọi ấy là sự giãi bày:


Có biết bao người con gái con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

– Vai trò của nhân dân toả sáng trong sáu câu thơ triết lí.

– Nhà thơ nhằm mục đích thức tỉnh, lay động về nhận thức của tuổi trẻ miền Nam, cả nước nói chung, của tuổi trẻ các thành phố, đô thị trong vùng tạm chiếm nói riêng

c. Bốn câu kết đoạn
:

“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát thì chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”

=>Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã có từ truyền thống chỉ đến văn học hiện đại nó mới được nâng lên thành đỉnh cao vì chỉ khi nào nhân dân thực sự làm chủ đời mình thì mới làm chủ đất nước.

dat-nuoc-nguyen-khoa-diem

Phân tích 9 câu đầu bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu. Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về mình mẹ lặng im…Cứ mỗi lần nghe lại bài hát này lòng tôi xốn xao da diết. Nhớ những ngày bé thơ đến lớp, cô giáo dạy tôi viết hai chữ “Việt Nam” và gọi đó là Đất Nước. Tôi mơ hồ chả hiểu, chỉ biết rằng đó là cái gì lớn lao và thật quý báu lắm ! Thời gian trôi qua nhanh, mang tuổi thơ bé bỏng của tôi đi xa. Cho đến hôm nay, qua bao nhiêu vần thơ đọc được tôi đã thấm thía hai tiếng thiêng liêng “Đất Nước”.. Trong những vần thơ mến yêu dạt dào cảm hứng ấy, tác phẩm “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là nổi bật hơn cả.., bằng trải nghiệm tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cách mạng và cả bằng vốn tri thức được đào tạo bài bản từ mái trường xã hội chủ nghĩa, tạo nên chiều sâu của hình tượng Đất Nước, hoà mạch thơ chính luận – trữ tình.
dat-nuoc-nguyen-khoa-diem
Hình minh họa
Đất nước, 2 tiếng ấy thật thiêng liêng,tự hào.nó trở thành đề tài muôn thuở trong thơ ca chỉ có điều các nhà  thơ nhà văn hay dùng những hình ảnh mang tính biểu tượng để viết về đất nc hay tự tạo ra một khoảng cách để chiêm ngưỡng.còn tong tho NKD.đất nước không phải là 1 khái niệm trừu tượng mà rất gần gũi đối với mỗi người.Trả lời cho câu hỏi: “Đất Nước là gì? Đất Nước từ đâu ra?”, mỗi ng đều có cáh cảm nhận , lí giải riêng của mình.vói NKD ddc cảm nhận ở các phương diện lsu địa lý vhoa …nen tg tự hào mà nói rằng ” khi ta lớn lên đất nc đã có rồi”
nhà thơ đã bắt đầu bằng những kí ức tuổi thơ để hình dung ra một sự tồn tại của Đất Nước trong nhận thức và tình cảm tự nhiên nhất của c on người. Những vẻ đẹp được khơi lên từ mạch tâm tình, thấm đẫm hơi thở ca dao dân ca, huyền tích sử thi của dân tộc. Cái hay của phần mở đầu chương Đất Nước chính là sự xuất hiện của hàng loạt những hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng nhưng rất gần gũi:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc… …
Giọng thơ thủ thỉ,chân thành mà sâu lắng ấy đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Nhân Dân – Đất Nước. Đất Nước đã có từ lâu,rất lâu rồi. Khi ta oa oa cất tiếng khóc chào dời, lớn lên và trưởng thành thì đất nước đã có rồi.Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại : “Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”giờ còn đọng lại trong tiềm thức với cô Tấm ngoan hiền, với sự tích bánh chưng bánh dày, bà tiên nhân hậu hay mụ dì ghẻ độc ác,…Hình ảnh Đất Nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi ,vừa thiêng liêng sâu lắng bởi nó gắn với thế giới tâm hồn con người ,được nuôi dưỡng từ thưở thơ bé và truyền lại cho muôn đời sau”ngày xưa” chỉ với hai từ mà bao kỉ niệm tuổi ấu thơ lại lùa về.
“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Trong kho tàng văn học dân gian ,nhà thơ đã chọn ra hai câu chuyện để khắc hoạ hình ảnh đất nước bằng chính những cảm nhận sâu sắc của mình . “Đất Nước bắt đầu” một câu thơ lí giải sự hình thành đất nước gắn liền với câu chuyện cổ tích cầu trau. Đó là câu chuyện cổ tích ngợi ca nghĩa anh em và tình vợ chồng gắn bó keo sơn . “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu có nghĩa là Đất Nước được hình thành trong lối sống tình nghĩa. “Miếng trầu bây giờ bà ăn” bắt nguồn từ thưở xa xưa _đó là truyền thống tốt đẹp. “Miếng trầu bắt đầu câu chuyện”. Đất Nước được sinh ra và nuôi dưỡng trong truyền thống đạo lí tố đẹp của dân tộc đó là lối sống nghĩa tình . Đất Nước được hình thành trong tình yêu nhưng lại lớn mạnh và trưởng thành nhờ nhữmg cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc . “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Câu thơ gợi nhắc truyền thuyết “Thánh Gióng” Làm ta nhớ đến một cậu bé lớn nhanh như thổi để lên đường đanh giặc Ân cứu nước.Một câu chuyện ngợi ca sức mạnh của tình yêu dân tộc và hình ảnh kì vĩ thánh gióng.Và đất nước ta cũng trưởng thành khi mọi người cùng nhau đồng lòng chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi.Với Nguyễn Khoa Điềm, ông đã nhìn thấy sự trưởng thành của Đất Nước trong đau thương , thử thách nhờ công cuộc đấu tranh và lòng yêu nước của dân tộc. Qua lịch sử, truyền thống ấy đã trở thành truyền thống yêu nước thiêng liêng.
“Tóc mẹ thì búi sau đầu” Trong muôn vàn truyền thống đẹp ,nhà thơ chọn ra một hình ảnh thật giản dị nhưng rất tinh tế đặc sắc :hình ảnh người phụ nữ Việt với mái tóc bới sau đầu _hình ảnh thật gần gũi ,thân quen in sâu trong nếp nghĩ ,gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống lam lũ vất vơ nhưng vẫn duyên dáng, tần tảo ,đảm đang. Hình ảnh ấy qua bao năm tháng vẫn không thay đổi ,vẫn gợi suy ngẫm về cái đẹp giản dị mà thiêng liêng .
Và hình ảnh Đất Nước hiện lên qua chính mĩ tục ấy. Đất Nước còn hiện lên trong sự gắn liền với một lối sống đẹp“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Câu thơ gợi từ một ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Ý thơ giản dị mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc .Tình yêu được sinh ra và nuôi dưỡng từ trong khó nghèo, từ trong những hoàn cảnh đầy thử thách thật đáng trân trọng, đáng quý. Đó là lối sống trọn nghĩa ,trọn tình,thuỷ chung đã trở thành một truyền thống thiêng liêng được lưu truyền qua bao đời . Và sự sinh thành, phát triển của Đất Nước song hàmh cùng với sự lưu truyền và phát triển của truyền thống tốt đẹp ấy. “Cái kèo, cái cột thành tên” Đất Nước được gắn liền với những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc”cái kèo, cái cột”nhưng chính những thứ đơn sơ, mộc mạc ấy đã tạo nên một mái ẫm gia đình,làng xóm, quê hương, đất nước. Nói cách khác, nõ chính là tế bào của đất nước.
ĐN hiện lên qua cuộc sống lao động sinh hoạt : ”Hạt gạo phải một nắng hai sương xay ,giã ,giần ,sàng” Sự hình thành và phát triển của Đất Nước là một quá trình lâu dài ,nhờ bàn tay lao động xây dựng của con người từ thưở sơ khai ,khi con người tạo dựng những cái đơn giản nhất với nỗ lực một nắng hai sương .Con người lao dộng đã biết “xay ,giã ,giần,sàng” để tạo nên hạt gạo ,tạo nên những giá trị vật chất để xây dựng Đất Nước no ấm. Cách sử dụng từ ngữ “một nắng hai sương” và chon lọc hình ảnh “xay ,giã ,giần , sàng”cùng nhịp điệu lan toả gợi sự suy ngẫm liên tưởng ,hình ảnh Đất Nước hiện dần nhờ bàn tay lao động cần cù ,sáng tạo của con người ,hình ảnh ấy hiẹn dần trong nhịp điệu gạo rơi trên sân ,trong tiếng chày ,trong máy xay với cuộc sống lao động bền bĩ dù vất vả ,lam lũ .Qua đó ta nhận ra nét đặc trưng riêng của nền văn học Việt_văn hoá lúa nước. Hình ảnh Đất Nước hiện lên trong cuộc sống sinh hoạt là một Đất Nước cần cù, sáng tạo trong lao động.
Cũng chính trong cuộc sống lao động sinh hoạt, nhà thơ còn khám ra sự hình thành, phát tiển ngôn ngữ dân tộc gắn liền với nguồn gốchình thành và phát triển của ĐN : Khi con người biết lao động tạo dựng cuộc sống chính là khi họ biết đặt tên cho những sự vật hình tượng gần gũi nhất “cái kèo ,cái cột”,và trong quá trình lao động ,trong sự tìm tòi khám phá ,sáng tạo nên những giá trị vật chất như hạt gạo ,họ đã sáng tạo nên những ngôn từ ghi lại quá trình lao động ấy “xay ,giã ,giần ,sàng”.Đây là kết tinh tinh tuý linh hồn của dân tộc . ĐN hình thành và phát triển cùng với sự hình thành tiếng mẹ thiêng liêng ấy. Khám phá Đất Nước ở phương diện văn hóa sinh hoạt ,Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu nhận thức của mình như lối định nghĩa độc đáo ,một cách lí giải không hề mang tính áp đặt mà đầy sức gợi , sức thuyết phục bằng những câu chuyện ,chọn lọc chi tiết giàu ý nghĩa giúp ta nhận ra Đất Nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất ,gần gũi nhất, nhưng bền vững đến muôn đời.
Trong đoạn thơ trên tg sủ dụng nhiều các yếu tố ca dao dân ca tục ngữ truyền thuyết cổ tích ko chỉ đem đến sự gần gũi mà còn biểu hiện ý thức tự tôn tự hào dtooc.từ “đất nc” ddc viết hoa và lặp lại 5 lần thể hiện sự thành kính.Với chín dòng thơ 85 chữ ,không hề có một từ hán việt ,Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên những vần thơ tự do dạt dào cảm xúc, kết hợp với chất giọng thủ thỉ tâm tình như một điệu ru dễ đi vào lòng người .Nhưng chuyển tải mạch cảm xúc ấy là một lối lập luận chặt chẽ :tổng -phân -hợp. Chính sự kết hợp hài hoà giữa trí tuệ và cảm xúc bay bổng đã làm sáng lên lối thơ tữ tình chính luận _ phong cách độc đáo riêng của Nguyễn Khoa Điềm.
Qua những dòng thơ trăn trở và suy tư về một khái niệm tưởng chừng như đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân Việt ,qua chiều sâu văn hoá, sinh hoạt Nguyễn Khoa Điềm đã có một phát hiện ,một cảm nhận vô cùng sâu sắc: Đất Nước hiện lên trong thế giới tinh thần của cộng đồng người Việt ,trong cuộc sống sinh hoạt từ bao đời . Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quán với lối sống,nếp nghĩ qua kho tàng văn học dân gian ,qua bản sắc văn hoá ….Đó là một Đất Nước không trừu tượng mà cụ thể ,chứa đựng mơ ước,khát vọng ,quan niêm về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc. Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sống động ,lung linh: trong cuộc sống, trong lao động và trong chiến đấu.
dat-nuoc-nguyen-khoa-diem

Bài văn mẫu – Phân tích đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Qua bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm anh chị hãy làm sang tỏ quan điểm Đất nước là của nhân dân

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ như Lê Anh Xuân, Bằng Việt, Nguyễn Mĩ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… Nguyễn Khoa Điềm nổi tiếng với hai tác phẩm là trường ca “Mặt đường khát vọng” và bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”.
Nguyễn Khoa Điềm cũng như một số nhà thơ hàng đầu của thế hệ ông đã cảm nhận sâu sắc thời điểm lịch sử trang nghiêm nên đã để tâm huyết vào chủ đề lớn của thơ ca là đất nước. Và tất nhiên để phù hợp với nội dung phong phú, rộng lớn đó, phải có một hình thức có dung lượng lớn là trường ca. Cho nên nhiều trường ca đã ra đời trong giai đoạn văn học này mà nổi tiếng hơn cả là ba trường ca “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo, “Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh và “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm.
“Đất nước” là một đoạn trích thuộc phần đầu chương V – chương trọng tâm của trường ca “Mặt đường khát vọng”, (chương năm), là chương trong tâm của tác phẩm. Tác giả tập trung trong chương thơ này là những cảm nhận và suy nghĩ sâu sắc về đất nước: “Đất nước này là Đất Nước Nhân Dân”.
Nhận thức mới mẻ ấy cũng chính là sự lựa chọn, ý thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối
với đất nước và dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà.
Nguyễn Khoa Điềm kết hợp giữa trữ tình và chính luận, lối kết hợp này trong thơ giống Chế Lan Viên (thường các nhà thơ tự sáng tác những bài thơ dài và trường ca đều kết hợp giữa trữ tình và tự sự). Trữ tình – Chính luận phát huy đựơc mặt trí tuệ, thể hiện sự uyên bác với những kến thức sách vở triết lí, nếu biết khéo léo kết hợp với xúc cảm, với tri thứ nhỡn kiến thì sẽ tạo ra sự hấp dẫn lạ lùng cho thơ.
Ta có thể hình dung chính luận trong khúc trường ca này như một sợi dây: Đất nước trường
tồn trong chiều dài thời gian, trong chiều rộng không gian, trong phong tục tập quán, trong tâm hồn và tính cách của người Việt. Bằng sợi dây dẻo dai ấy, những hạt cườm trữ tình óng ánh, lung linh được xâu lại thành chuỗi cườm “Đất Nước muôn đời”.
Ta hãy xem nghệ thuật xâu cườm dẻo dai, cần mẫn, khéo léo của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Điệp ngữ “Đất Nước” vọng lên khúc nhạc thiêng liêng. Thiêng liêng về thời gian thăm thẳm “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, thiêng liêng với cổ tích, thiêng liêng với “miếng trầu bây giờ bà ăn”, thiêng liêng với sự trưởng thành về ý thức bảo vệ Tổ quốc:

“Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”

Nhờ “sợi chỉ” chính luận mà những “hạt cườm” của đời sống vật chất (miếng trầu, cây tre, tóc, cái kèo cái cột, hạt gạo…) và đời sống tinh thần (chuyện cổ tích, cha mẹ thương nhau…) được xâu lại tạo ra hết bất ngờ này đến bất ngờ khác:

“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Tác giả chuyển từ những câu kể sang những câu đẳng thức, từ những chi tiết xa xôi đến những chi tiết gần gũi đậm đặc trữ tình. Ca dao thấm trong từng lời:

“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
“Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”

Nếu thời gian hiện lên trong “chuỗi cườm” trữ tình – chính luận thật là thiêng liêng thì không gian hiện lên thơ mộng, hùng vĩ:

“Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
… Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”

Để mở rộng khái niệm đất nước, tăng cường bề dày, bề sâu của khái niệm này, tác giả điệp lại kiểu câu đẳng thức “Đất là…”, “Nước là…” nhưng các hình ảnh của xúc cảm, của ý tưởng đều mới, giống như những biến tấu trong âm nhạc vừa nhấn mạnh chủ đề, vừa mở rộng chủ đề gây ấn tượng mới lạ.
Luận lí của mạch chính luận là từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoài vào trong, từ cộng đồng đến cá nhân:

“Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”

Những suy nghĩ về đất nước trong mỗi cá nhân càng sâu sắc thì giọng điệu trữ tình càng thống thiết:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”

Để dẫn đến những suy luận về sự trường tồn của đất nước, nhà thơ đã huy động vốn kiến thức của sách vở, của đời sống, của lịch sử, địa lí, của truyền thuyết, của ca dao, của phong tục tập quán… Mỗi chi tiết đều có tính thẩm mĩ và được nuôi dưỡng trong xúc cảm của nhà thơ, cho nên suy luận thơ của tác giả vừa có sức thuyết phục về trí tuệ lại vừa truyền cảm.
Sang đoạn hai, nhà thơ phát triển và mở rộng chủ đề Đất Nước để dẫn đến chiều sâu của
khái niệm này là “Đất Nước Nhân dân”.
Vẫn là mạch trữ tình – chính luận, nhưng trên sợi chỉ chính luận, ta nhận ra những hạt cườm có màu sắc và hình dạng khác. Trên kia là những hình ảnh của “Đất Nước đã có rồi” và đây là những hình ảnh của con người các thời đại “góp cho Đất Nước”. Phẩm chất thi sĩ biểu hiện ở sự lựa chọn những “hạt cườm” để xâu vào sợi dây chính luận ấy.
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên”

Hồi đó đất nước còn đang bị kẻ thù chia cắt, nhà thơ viết trường ca “Mặt đường khát vọng” ở chiến trường, nhưng trong tư duy của nhà thơ là một đất nước thống nhất. Những tên đất, tên núi, tên sông, sự tích, những truyền thuyết đều gắn bó máu thịt trong một cơ thể thống nhất. Vừa mới thấy “những núi Vọng Phu” đâu như ở Bình Định (mà núi Vọng Phu trên đất nước ta nơi nào chẳng có) đã thấy “hòn Trống Mái” ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), vừa mới thấy “gót ngựa của Thánh Gióng” suốt dọc đường từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn đã thấy “những con rồng” xanh thẳm ở Nam Bộ (sông Cửu Long). Những “núi Bút, non Nghiên” ở xứ Quảng, những “con cóc, con gà” ở Hạ Long, nhưng “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm” đều góp phần tạo ra “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”. Đất nước thống nhất trong máu thịt, trong xương tuỷ, trong tình cảm, trong ước vọng như thế, kẻ thù nào chia cắt được!
Nhưng đó chỉ là một khía cạnh tư tưởng chủ đề của khúc trường ca này. Những dòng khái quát sau đây mới là dòng mạch chính của chủ đề tác phẩm:

“Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…”

Rồi nhà thơ chuyển từ bút pháp sử thi sang giọng điệu trữ tình, nhà thơ tâm tình với “em” mà tìm sự đồng cảm của hết thảy chúng ta:

“Em ơi em Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con…”

Càng nhìn sâu vào “bốn nghìn năm Đất Nước”, nhà thơ càng thấm thía với công lao xây dựng, vun đắp, bảo vệ đất nước. Đặc biệt là lớp người tuổi trẻ, những “con gái, con trai bằng tuổi chúng ta” đã làm cho nhà thơ xúc động mãnh liệt. Có lẽ đây là trực cảm của nhà thơ đối với lớp thanh niên trong thời kì chống Mĩ cứu nước:

“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”.

Chính những người anh hùng vô danh ấy đã “giữ và truyền” cho ta từ hạt lúa đến ngọn lửa, từ ngôn ngữ đến hành động:

“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân”

Như vậy là theo mạch chính luận và suy tưởng, tác giả đã dẫn dắt đến chiều sâu chủ đề khúc trường ca. Nhưng tác giả không dừng ở phát hiện “Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân” mà còn muốn cho khái niệm này ngân vang lên trong thần thoại, trong cổ tích, trong ca dao dân ca. Khúc trường ca không bị khô khốc trong triết lí mà trở nên hồn nhiên, tươi mát, huyền ảo:

“Đất Nước của Nhân Dân,
Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu…”

“Đất nước” là một trích đoạn hay trong bản trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm. Bằng trữ tình – chính luận, tác giả đã khéo léo dẫn dắt đến chủ đề sâu sắc là Đất Nước Nhân Dân. Xúc cảm trực tiếp, mãnh liệt từ cuộc chiến đấu sinh tử của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ mà tác giả đã huy động tình cảm, trí tuệ, kiến thức về địa lí, lịch sử, văn học, đặc biệt là văn học dân gian để diễn tả sức mạnh thần kì của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Một “Đất Nước Nhân Dân” tươi đẹp và thần kì như thế sẽ chiến thắng bất kì kẻ thù xâm lược nào.

dat-nuoc-nguyen-khoa-diem1

Phân tích đoạn trích đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

I . ĐẶT VẤN ĐỀ .

Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng muôn thuở, muôn nơi và của bao triệu trái tim con người . Đất nước đi vào đời chúng ta qua những lời ru ngọt ngào êm dịu, qua những làn điệu dân ca mượt mà và những vần thơ sâu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớp thi nhân . Ta bắt gặp một hình tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lên ý chí đấu tranh trong trang thơ Nguyễn Đình Thi đồng thời cũng rất dịu dàng ý tứ trong thơ Hoàng Cầm . Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm , ta bắt gặp một cái nhìn toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một đất nước của nhân dân . Tư tưởng ấy đã qui tụ mọi cách nhìn và cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước . Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, nhà thơ muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm chống Mĩ cứu nước .

II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

Mở đầu đoạn trích là giọng thơ nhẹ nhàng , thủ thỉ như những lời tâm tình kết hợp với hình ảnh thơ bình dị gần gũi đưa ta trở về với cội nguồn đất nước .

Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái ngày xửa
ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu abây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết
trồng tre mà đánh giặc .

Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người . Đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ … gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược . Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc.

Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa , giầu tình yêu thương gắn bó với mái ấm gia đình . Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn . Gừng tất nhiên là cay, muối tất nhiên là mặn . Tình yêu cha mẹ mãi mãi mặn nồng như chính chân lí tự nhiên kia . Hình ảnh thơ khiến ta rưng rưng nhớ về một lời nhắc nhở thiết tha về tình nghĩa của một ai đó hôm nào : Tay bưng dĩa muối chén gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau .

Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa :

Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay,
giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó .

Ở đây Đất nước không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản gị biết bao . Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân” .

Vẫn bằng lời trò chuyện tâm tình với mỗi nhân vật đối thoại tưởng tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn giải khái niệm đất nước theo kiểu riêng của mình :

Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nươc là nơi em đánh rơi chiếc
khăn trong nỗi nhớ thầm .

Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từ rừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người, không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương . Ý nịêm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó . Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh .

Đất mở ra cho anh một chân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền . Cùng với thời gian lớn lên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn . Không những thế, đất nước còn người bạn chia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu . Đất và nước tách rời khi anh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta . Chiếc khăn – biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng : “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, một lần nữa lại khiến lòng người xúc động, bồi hồi trước tình cảm chân thành của những tâm hồn yêu thương say đắm.

Đất Nước còn là nơi trở về của những tâm hồn thiết tha với quê hương . Hình ảnh con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi mang phong cách dân ca miền Trung, thẫm đẫm lòng yêu quê hương cả tác giả . Đất Nước mình bình dị, quen thuộc nhưng đôi khi cũng lớn rộng, tráng lệ và kì vĩ vô cùng, nhất là đối với những người đi xa . Dù chim ham trái chín ăn xa, thì cũng giật mình nhớ gốc cây đa lại về . Gia đình Việt Nam là như thế, lúc nào cũng hướng về quê hương, hướng về cội nguồn .

Đất Nước trường tồn trong không gian và thời gian : Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông để mãi mãi là nơi dân mình đoàn tụ, là không gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ . Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ , về truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ tổ . Nhắc lại Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dân tộc . Dù bôn ba chốn nào, người dân Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đến dòng giống Rồng Tiên của mình .

Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở :

Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Cảm hứng thơ của tác giả có vẻ phóng túng , tự do nhưng thật ra đây là một hệ thống lập luận khá rõ mà chủ yếu là tác giả thể hiện đất nước trong ba phương diện : trong chiều rộng của không gian lãnh thổ địa lí, trong chiều dài thăm thẳm của thời gian lịch sử, trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc .

Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi , nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ .

Và cụ thể hơn nữa , gần gũi hơn nữa , Đất nước ở ngay trong máu thịt của mỗi chúng ta :

Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần đất nước

Đất nước đã thấm tự nhiên vào máu thịt, đã hóa thành máu xương của mỗi con người, vì thế sự sống của mỗi cá nhân không phải là riêng của mỗi con người mà là của cả đất nước . Mỗi con người đều thừa hưởng ít nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước, phải giữ gìn và bảo vệ để làm nên đất nước muôn đời .

Từ những quan niệm như vậy về đất nước, phần sau của tác phẩm tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng : Đất nước của nhân dân, chính Nhân dân là người đã sáng tạo ra Đất nước .

Tư tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lí, về những danh lam thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước . Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên … không còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân , sự hóa thân của những con người không tên tuổi :
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái” , “Người học trò thắng cảnh” . Ở đây cảnh vật thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân . Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi , dòng sông . Từ những hình ảnh, những cảnh vật , những hiện tượng cụ thể, nhà thơ qui nạp thành một khái quát sâu sắc :

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước,
một lối sống ông cha
Ôi ! Đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu
ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta .

Tư tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối cách nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước . Nhà thơ không ca ngợi các triều đại, không nói đến những anh hùng được sử sách lưu danh mà chỉ tập trung nói đến những con người vô danh, bình thường, bình dị . Đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người vô danh bình dị đó .

Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất nước

Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ đã giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau các giá trị văn hóa, văn minh, tinh thần và vật chất của đất nước từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, câu tục ngữ, ca dao . Mạch cảm xúc lắng tụ lại để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm nổi bật lên tư tưởn cốt lõi của cả bài thơ vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo :

Đất nước này là Đất nước nhân dân
Đất nước của Nhân dân, Đát nước của
ca dao thần thoại

Một định nghĩa giản dị, bất ngờ về Đất nước . Đất nước của ca dao thần thoại nhưng vẫn thể hiện những phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, của dân tộc : Thật đắm say trong tình yêu, biết quí trọng tình nghĩa và cũng thật quyết liệt trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm .

Những câu thơ khép lại tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sắc quê hương với một tâm hồn lạc quan phơi phới . Tất cả ào ạt tuôn chảy trong tâm trí người đọc những tí tách reo vui …

III . KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm thành công cho mảng thơ viết về Đất nước . Từ những cảm nhận mang tính gần gũi, quen thuộc, Đất nước không còn xa lạ, trừu tượng mà trở nên thân thiết nhưng vẫn rất thiêng liêng . Đọc Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm ta không chỉ tìm về cội nguồn dân tộc mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc trong mỗi con người Việt Nam trong mọi thời đại

dat-nuoc-nguyen-khoa-diem

Phân tích bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Trong số các nhà thơ thế hệ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm là người rất thành công với giọng thơ trữ tình chính luận thể hiện rõ những tâm tư của thế hệ trẻ đô thị miền Nam. Trường ca “Mặt đường khát vọng” (1971) là tiếng vọng tâm tình của một hồn thơ hòa cùng mạch cảm xúc của dân tộc đứng trước dòng thác lũ thời đại, trong đó chương V “Đất nước” đã gói ghém trọn vẹn tâm tình của thế hệ chống Mỹ:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc…”

Giọng thơ thủ thỉ đã chuyển tải suy ngẫm của nhà thơ về Nhân Dân – Đất Nước, tiếp nối mạch suy tưởng của thi ca giai đoạn trước.

Đất Nước là một chủ đề xuyên suốt bao trùm lên các tác phẩm trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Các nhà thơ nhà văn bằng tình cảm công dân đã có nhiều phát hiện mới mẻ độc đáo về Tổ quốc, nhân dân. Tổ quốc thường được soi chiếu từ bình diện lịch sử chống ngoại xâm, được khái quát bằng những hình tượng kỳ vĩ, khai thác triệt để chất sử thi hoành tráng. Trong dòng chủ lưu ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn lựa cách thể hiện riêng của mình, bằng trải nghiệm tuổi trẻ, bằng nhiệt tình cách mạng và cả bằng vốn tri thức được đào tạo bài bản từ mái trường xã hội chủ nghĩa, tạo nên chiều sâu của hình tượng Đất Nước, hoà mạch thơ chính luận – trữ tình.

Trả lời cho câu hỏi: “Đất Nước là gì? Đất Nước từ đâu ra?”, nhà thơ đã bắt đầu bằng những kí ức tuổi thơ để hình dung ra một sự tồn tại của Đất Nước trong nhận thức và tình cảm tự nhiên nhất của con người. Những vẻ đẹp được khơi lên từ mạch tâm tình, thấm đẫm hơi thở ca dao dân ca, huyền tích sử thi của dân tộc. Cái hay của phần mở đầu chương Đất Nước chính là sự xuất hiện của hàng loạt những hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng nhưng rất gần gũi:

Tóc mẹ thì búi sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng

Đất Nước có từ ngày đó…

Sức gợi từ những hình ảnh đã dựng lên cả một không gian văn hoá truyền thống, mang theo hơi thở tâm tình của ca dao “gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” thấm thía tình nghĩa thủy chung. Mạch nguồn ấy tiếp tục với quá trình trưởng thành của từng cá nhân, từ thuở cắp sách đến trường đến khoảnh khắc rung động đầu đời. Tất cả đều xuất phát một cách rất tự nhiên, nôn nao ngọt ngào kỷ niệm:

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…

Đan xen với khoảnh khắc thời gian không gian hiện tại là sự thức tỉnh của ký ức cộng đồng, với sự tổng hoà những vẻ đẹp trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt. Vẻ đẹp quê hương đất nước được tái hiện trong những lời ca dao toát lên lòng tự hào về non sông gấm vóc, về Cha Rồng Mẹ Tiên, gắn với lòng biết ơn tổ tiên đã ăn sâu vào tiềm thức từng người Việt :

Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”

Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”

Thời gian đằng đẵng

Không gian mênh mông

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào mình trong bọc trứng…

Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đã được nhà thơ lý giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mỹ và hàm chứa mối quan hệ Đất Nước – con người Nhân Dân không thể tách rời. Thời gian lịch sử, không gian văn hoá hoà quyện trong mạch thơ đầy ân tình đã phác hoạ rõ nét dần tượng đài Đất Nước. Không chỉ tiếp cận hình tượng trong huyền sử, trong hiện thực đời sống, trong mối quan hệ cá nhân – cộng đồng, Nguyễn Khoa Điềm còn dẫn dắt độc giả trở về với hiện thực trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nói lên tiếng nói đầy trách nhiệm của cả một thế hệ chống Mỹ thật sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm :

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Ý thơ thật giản dị, không hề gượng ép tình cảm, khi từ mối quan hệ riêng tư để hướng về với quan hệ cộng đồng, dân tộc. Tứ thơ độc đáo chính là từ sự mở rộng từ thế giới của “anh và em hôm nay” đến với “mọi người”. Vẻ đẹp Đất Nước được phát hiện thêm với những vẻ đẹp “hài hoà nồng thắm” và “vẹn tròn to lớn”. Đó cũng là sự kết hợp hài hoà của lý trí và tình cảm con người thời đại chống Mỹ. Hơn thế nữa, những câu thơ này còn cắt nghĩa cho vẻ đẹp tình yêu của thế hệ trẻ chống Mỹ không hề mất đi vẻ lãng mạn, khi khoảnh khắc cầm tay hiện tại đã nghĩ về thế hệ tương lai, về một ngày thanh bình và sự phát triển của Đất Nước với “tháng ngày mơ mộng”. Không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục đi sâu vào mối quan hệ Đất Nước với tâm hồn của từng con người. giọng thơ tâm tình thấm thía:

Em ơi em

Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời.

Nguyễn Khoa Điềm viết nên những câu thơ này bằng tất cả sự trải nghiệm của một người lăn lộn trong phong trào tranh đấu của thanh niên đô thị miền Nam. Nhà thơ đã thay mặt thế hệ mình để phát biểu tâm tư với tinh thần công dân, với nhiệt tình tuổi trẻ. Đó cũng là lời đáp cho câu hỏi mang tính chính luận về sự trường tồn của Đất Nước. Đất Nước bất tử chính nhờ ở tinh thần của những con người sẵn sàng dâng bầu máu của tuổi thanh xuân, biết sống có trách nhiệm với thời đại và đầy khát vọng về tương lai trường tồn của Đất Nước.

Phần mở đầu của chương Đất Nước được cấu tứ trên cơ sở gắn bó giữa các vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo và giàu sức biểu cảm để làm nên vẻ đẹp chung tổng hoà thành hình tượng Đất Nước kỳ vĩ và giàu sức thuyết phục với bạn đọc. Nhà thơ đã trữ tình hoá vấn đề mang tính chính luận, nhằm trả lời những câu hỏi lớn mà dân tộc đang phải tìm lời đáp trong cuộc chiến đấu vì lý tưởng độc lập tự do, cuộc chiến đấu của lương tri chống lại thế lực bạo tàn.

Những vần thơ rất đẹp trong Đất Nước đã vượt qua thử thách của thời gian, tiếp tục toả sáng, giúp thế hệ học sinh hôm nay hiểu hơn về thế hệ cha ông trong những ngày tháng hào hùng nhất của dân tộc. Trong thời đại mới, những giá trị của ngày hôm qua góp phần khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm, tình cảm cho mỗi con người trong khát vọng đưa Đất Nước đi xa đến những tháng ngày mơ mộng./