All posts by Đọc sách online

Sách hay: Mắt Sói

Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ.

Năm 2005, “Mắt sói” – bản dịch ra tiếng Anh của Sarah Adams, đã nhận được Giải Marsh Award (Anh) cho bản dịch

Sách hay: Mắt Sói

Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của tác giả Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ. Cả hai đăm đắm nhìn nhau bằng một mắt từ ngày này qua ngày khác. Và diệu kỳ thay, mỗi con mắt  là một con đường đưa người kia trở lại với quá khứ của bạn mình. Từ những ngày lang thang qua Châu Phi Vàng, Châu Phi Xám, Châu Phi Xanh của cậu bé Phi Châu tới những cuộc trốn chạy triền miên trước bọn săn trộm của gia đình Sói Xám tại quê hương Bắc cực, tất cả đều hiện lên sống động, ly kỳ. Ở cuối mỗi con đường nhiều buồn hơn vui ấy, họ gặp lại gương mặt của nhau, bởi lẽ, họ đã trở thành bạn thân, và cùng nhau mở to mắt để ngắm nhìn những người thân yêu đang xum vầy.

Nét đặc sắc nổi bật  của Mắt sói là cách kể chuyện đầy sáng tạo của Pennac : ý tưởng mới lạ, cốt truyện lồng ghép, sự di chuyển điểm nhìn, văn phong trong sáng. Bên cạnh đó, có thể nói Mắt sói là câu chuyện của những đối cực, vừa hài hước, ngộ nghĩnh, nhẹ nhàng vừa sâu sắc, đau đớn, mất mát. Có lẽ vì vậy mà nhiều người tin rằng đây sẽ là cuốn sách có thể ru trẻ ngủ nhưng cũng khiến người lớn phải ngỡ ngàng vì chiều sâu triết lý..

Nhận định về tác phẩm, có độc giả cho rằng, Daniel Pennac” đã dệt nên một câu chuyện kỳ diệu, bí ẩn và chắc chắn không dễ quên…một câu chuyện độc đáo về tình bạn đầy xúc động, cam đảm và ngày càng sâu đậm giữa một con sói trong vườn thú với một chú bé lang thang có tên Phi Châu. Đồng thời, đây còn là câu chuyện về sức mạnh của việc kể chuyện và những câu chuyện

 

Sơ lược về tác phẩm
Năm 2005, “Mắt sói” – bản dịch ra tiếng Anh của Sarah Adams, đã nhận được Giải Marsh Award (Anh) cho bản dịch
Mắt sói là tác phẩm mới nhất viết cho thiếu nhi của Daniel Pennac. Cuốn tiểu thuyết dày hơn 100 trang kể về cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Sói Lam và Phi Châu tại một vườn bách thú nọ. Cả hai đăm đắm nhìn nhau bằng một mắt từ ngày này qua ngày khác. Và diệu kỳ thay, mỗi con mắt  là một con đường đưa người kia trở lại với quá khứ của bạn mình. Từ những ngày lang thang qua Châu Phi Vàng, Châu Phi Xám, Châu Phi Xanh của cậu bé Phi Châu tới những cuộc trốn chạy triền miên trước bọn săn trộm của gia đình Sói Xám tại quê hương Bắc cực, tất cả đều hiện lên sống động, ly kỳ. Ở cuối mỗi con đường nhiều buồn hơn vui ấy, họ gặp lại gương mặt của nhau, bởi lẽ, họ đã trở thành bạn thân, và cùng nhau mở to mắt để ngắm nhìn những người thân yêu đang xum vầy.
Nét đặc sắc nổi bật  của Mắt sói là cách kể chuyện đầy sáng tạo của Pennac : ý tưởng mới lạ, cốt truyện lồng ghép, sự di chuyển điểm nhìn, văn phong trong sáng. Bên cạnh đó, có thể nói Mắt sói là câu chuyện của những đối cực, vừa hài hước, ngộ nghĩnh, nhẹ nhàng vừa sâu sắc, đau đớn, mất mát. Có lẽ vì vậy mà nhiều người tin rằng đây sẽ là cuốn sách có thể ru trẻ ngủ nhưng cũng khiến người lớn phải ngỡ ngàng vì chiều sâu triết lý.
********
Nhận định
  Nếu như Phi Châu là có tài kể chuyện cho ngừơi ta mơ ước thì Daniel Pennac có tài viết văn khiến người đọc, đặc biệt là các em nhỏ biết tin và yêu hơn cuộc sống quanh mình. “Mắt sói” thực sự  là câu chuyện đầy xúc động về tình cảm gia đình, tình anh em cũng như sự cưu mang đùm bọc không toan tính giữa người với người. Tất cả được thể hiện bằng một văn phong trong sáng, giàu chất thơ và lối kể chuỵện giản dị, lôi cuốn của Daniel Pennac. Mong rằng, mỗi cuốn “Mắt sói” sẽ  là một cậu bé Phi Châu ngày ngày hiện hữu trong  nhà bạn để kể chuyện cho bạn nghe, giúp bạn biết mơ ước, biết nhìn nhận, suy ngẫm và tin yêu.
– Nhã Nam

“Trí tưởng tượng kỳ diệu và sự thay đổi điểm nhìn trần thuật rất phù hợp với những người sành văn, một cuốn sách để lại nhiều dư âm.”

– Amazone.com

 “Sự cộng hưởng giữa tính hài hước, xúc động và triết lý gợi nhớ tới “Hoàng tử bé”, câu chuyện của Daniel Pennac như một tấm thảm diệu kỳ được dệt nên từ những sự kiện của hai số phận.”

Candewick.com

  “Daniel Pennac” đã dệt nên một câu chuyện kỳ diệu, bí ẩn và chắc chắn không dễ quên…một câu chuyện độc đáo về tình bạn đầy xúc động, cam đảm và ngày càng sâu đậm giữa một con sói trong vườn thú với một chú bé lang thang có tên Phi Châu. Đồng thời, đây còn là câu chuyện về sức mạnh của việc kể chuyện và những câu chuyện.”

Lời nhận xét của hội đồng nghệ thuật giải Marsh Award

“Ngôn ngữ kể chuyện có sự kết hợp giữa tính độc đáo và nhuần nhuyễn như được khơi nguồn từ tài kể chuyện của chú bé Phi Châu”
literacyconnections.com
“ Một cuốn sách mới nhưng cho bạn cảm giác như chuyện kể của ông bạn, và người đọc thấy mình giống một đứa trẻ”
James Neal Webb
“Sự hy sinh của động vật trước sự xâm lấn của con người là lời thông điệp đầu tiên trong rất nhiều thông điệp về môi trường trong tác phẩm”
James Neal Webb
“…Tác phẩm để lại trong ta ám ảnh nhức nhối về việc con người sẽ gặp nguy hiểm vì những gì nó từng gây ra.Tuy nhiên, bằng giọng văn nhẹ nhàng, tác giả cho ta thấy sự hoà hợp vẫn có thể tồn tại trong thế giới này”
James Neal Webb
 “…Điều đáng ngạc nhiên của “Mắt sói” đó là nó đã dung hoà được cả hai yếu tố thần thoại và hiện đại  để tạo ra một kiểu truyện đồng thoại mới”
James Neal Webb
Amélie Nothomb - nhà văn ăn khách và lập dị

Amélie Nothomb – nhà văn ăn khách và lập dị

38 tuổi, viết 56 cuốn tiểu thuyết nhưng chỉ mới xuất bản 14 tác phẩm, Amélie Nothomb hiện là một tiểu thuyết gia ăn khách tại Bỉ. Cô nhận được hàng tá thư của độc giả và thường xuyên bị “đeo bám” khi xuất hiện trên đường phố. Nhưng ý định ra sách chỉ đến với Nothomb khi cô bị đồng nghiệp tại một công ty lớn ở Nhật Bản làm bẽ mặt.

Christina Patterson –

Amélie Nothomb sinh năm 1967 tại Kobe, Nhật Bản, cô là con gái của một nhà ngoại giao Bỉ. Thuở nhỏ, Nothomb từng sống qua nhiều quốc gia như Trung Quốc, Mỹ, Bangladesh, Burma và Lào. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Libre de Bruxelles, cô quay về Nhật làm thông dịch viên trong một tập đoàn lớn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của cô Hygiene de l’Assasin ra mắt năm 1992. Từ đó đến nay, đều đặn mỗi năm cô xuất bản một cuốn.

Amélie Nothomb thường xuyên cảm thấy đói nhưng cô không muốn ăn và thích để cho cơ thể mình bị đói. Bữa sáng của nhà văn chỉ đơn giản là một tách trà đen. Giải thích cho thói quen này, Nothomb cho biết: “Tôi cần phải giữ được tình trạng luôn luôn đói. Đó là điều cần thiết để tôi có thể viết tốt. Thường thì tôi chỉ ăn về đêm, thật tuyệt, bữa ăn đó như là một cuộc chè chén vậy”.

Chi tiết đời tư này đặc biệt có ý nghĩa đối với cuốn tiểu thuyết mới – The Life of Hunger (Cuộc đời Người đói) – của cô. “Nếu Nietzsche nói về siêu nhân thì tôi đề cập đến người Siêu đói. Tôi không phải là siêu nhân, tôi đói hơn bất cứ một ai khác”.

The Life of Hunger đã bán ra được 250.000 bản tại Pháp. Cùng với những cuốn tiểu thuyết được dịch ra 30 thứ tiếng và giải thưởng Grand Prix du Roman de l’Académie, Nothomb trở thành thần tượng của giới trẻ. Cô bị bạn đọc đeo bám trên đường phố và quấy quả tại nhà riêng. Người hâm mộ gửi cho cô hàng tá thư dài, đầy yêu thương, thậm chí là quá khích. Bạn đọc lấy tên cô đặt cho con mình, ngay cả với những đứa bé trai.

Amélie Nothomb - nhà văn ăn khách và lập dị

Tác giả Amélie Nothomb. Ảnh: Independent

Là một độc giả tham lam, Nothomb cho biết, cô lớn lên trong một gia đình, “mà ở đó, văn chương được coi như là ngôi đền thiêng”. Trong khi chị cô Juliette đã tập tọng viết lách từ thuở ấu thơ, Amélie vẫn nghĩ mình là kẻ “không thể nào đặt chân được vào ngôi đền đó”. Nhưng năm 17 tuổi, khi đọc Letter to a Young Poet (Thư viết cho những nhà thơ trẻ) của Rainer Maria Rilke, Nothomb đã thay đổi hẳn suy nghĩ. “Tôi nhận ra rằng, băn khoăn của mình không phải là ‘Tôi có đủ khả năng viết văn không?’ (bởi lúc đó, câu trả lời là không) mà câu hỏi chính là ‘Tôi có thể sống mà không viết không?’. Đó là vấn đề duy nhất”.

“Tôi chưa bao giờ mơ mình sẽ trở thành một nhà văn vì tôi không cho phép mình mơ như vậy. Dù khi còn là một đứa trẻ, tôi vô cùng tham vọng. Tôi tưởng tượng mình sẽ trở thành một cái gì đó thật vĩ đại: một nữ thần, một tổng thống, một người đoạt giải Nobel. Ai cũng có một tuổi thơ tràn đầy những mơ mộng như vậy. Nhưng những ảo tưởng sẽ nhanh chóng vỡ tan cùng thời gian”.

Năm 19 tuổi, Nothomb vào làm việc cho một công ty Nhật tại Tokyo. Những gì được coi là tình yêu tột bậc của cô dành cho Nhật Bản đã nhanh chóng biến thành ác mộng khi các đồng nghiệp phát động hẳn một chiến dịch làm nhục cô. Vào những ngày tháng cuối cùng của hợp đồng lao động với công ty, Nothomb đã thực sự phải làm việc trong toilet. Công việc của cô là đảm bảo đủ “giấy lau” cho đồng ngiệp. Kỷ niệm đau đớn này đã được Nothomb kể lại trong cuốn tiểu thuyết Fear and Trembling (Run rẩy và lo sợ).

Nhưng đây cũng chính là biến cố đẩy Nothomb đến con đường trở thành nhà văn chuyên nghiệp. “Tôi tự nhủ với bản thân mình: ‘Cô gái già ơi, mày sẽ làm gì với cuộc đời mày bây giờ?’. Tình yêu dành cho nước Nhật của tôi đã bị bội bạc. Ngoài việc nói thứ ngôn ngữ của đất nước này, tôi chẳng thế làm gì được nữa. Nếu không có sự cố đáng buồn ở công ty, có lẽ tôi đã không bao giờ đủ dũng khí viết sách để xuất bản. Vì sau sự kiện đó, tôi nghĩ, sẽ chẳng có gì có thể tệ hơn thế nữa”, Nothomb tâm sự.

Amélie Nothomb bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đầu tay L’Hygiene de l’assassin ngay khi trở về châu Âu. Đến nay, cô đã hoàn thành 56 cuốn sách nhưng chỉ mới xuất bản 14 tác phẩm. Cô viết chậm nhưng chắc và không bao giờ sửa chữa. “Đó là một biểu hiện của lòng tin”, cô giải thích.“Điều này cũng giống như khi mang bầu, bạn không thể sửa chữa, đứa con của mình, dù nó không hoàn thiện, hay thậm chí là rất xấu”.

Cuốn tiểu thuyết Fear and Trembling kết thúc với một loạt con số chỉ ngày tháng, trùng khớp với những sự kiện trong cuộc đời Nothomb. Loving Sabotage, cuốn sách về những ngày tháng tuổi thơ ở Trung Quốc của một đứa trẻ, đã khép lại bằng một lời bạt, khẳng định, cuốn tiểu thuyết “là câu chuyện có thật của chính tôi. Tôi không bịa đặt điều gì hết, ngay cả những cái tên của nhân vật”. Điều này nghe có vẻ lạ thường, bởi tác phẩm văn học thường là một món trộn từ những trải nghiệm được vay mượn từ cuộc đời người khác. Liệu những chi tiết này có đúng là chuyện thật?

“Không phải là tất cả, nhưng độc giả thường xuyên hỏi tôi câu đó. Họ bị ám ảnh. Khi viết tiểu thuyết, tôi chợt nhớ Virginia Woolf từng nói: “Chẳng có gì xảy ra hết nếu như bạn không viết ra”.

“Năm 2000”, nhà văn kể, “điều kỳ diệu đã xảy ra với tôi. Tôi có tên trong từ điển tiếng Pháp: ‘Amélie Nothomb, nhà văn, sinh năm 1967′. Nhưng nó nhanh chóng trở thành một tai họa vì (kể ra điều này tôi thấy rất xấu hổ) thỉnh thoảng tôi vẫn mở từ điển ra để xem tên mình có còn ở đó không. Tôi túm lấy cuốn từ điển và nhẹ nhõm thốt lên “vẫn còn”. Không ít lần, tôi còn ra hiệu sách và tra tên mình trong từng quyển một, quyển thứ nhất, thứ hai, rồi thứ ba. Liệu tôi có điên không nhỉ?”

Tất nhiên, Amélie Nothomb không điên nhưng rõ ràng là một kẻ lập dị. Cô là người bỏ đói mình suốt ngày rồi lại ngốn hết vô khối chocolate Bỉ; là người phụ nữ xinh đẹp nhưng luôn khăng khăng mình sẽ vô cùng xấu xí nếu không đội mũ; một người chỉ ngủ 4 tiếng mỗi đêm nhưng lại bỏ ra 4 tiếng mỗi ngày để trả lời thư độc giả… Nhà văn tâm sự, cô không đành lòng nếu không hồi âm độc giả. “Bây giờ tôi có rất nhiều bạn, nhiều người yêu mến, tôi thích điều đó, nhưng thỉnh thoảng cũng cảm thấy sợ hãi”.

Thanh Huyền lược dịch

(Nguồn: Independent)

Hẹn em ngày đó

Hẹn em ngày đó

Tất cả chúng ta đều từng đặt ra ít nhất một lần câu hỏi này: nếu như có may mắn được quay lại, chúng ta sẽ thay đổi điều gì trong cuộc đời mình?

Guillaume Musso –

Tên sách: Hẹn em ngày đó
Tác giả: Guillaume Musso
Dịch giả: Hương Lan
Nhà xuất bản Văn học

Thông điệp ấy của Guillaume Musso dẫn dắt độc giả tìm đến những điều day dứt nằm ẩn khuất trong ngõ vắng của cảm xúc, và có lúc như đã chạm đến tầng sâu kín nhất trong mỗi con người.

henem


Diễn biến phần lớn của câu chuyện khám phá giấc mơ ấy với phần sắp xếp của vô số những tình tiết ly kỳ, tạo cảm giác hồi hộp tột độ đối với độc giả. Không giấu diếm niềm khắc khoải, quãng thời gian quá ngắn còn lại buộc Elliottt phải gấp gáp trong cuộc kiếm tìm này. May mắn có được những viên thuốc màu nhiệm, ông đã trả giá đắt sau 9 chuyến đi dài về quá khứ trong những khoảnh khắc ngắn ngủi. Niềm ân hận vùi sâu bấy lâu giờ chực bật ra với hoài vọng về một mối tình mong manh đầy ám ảnh. Ông luôn cảm giác mình có lỗi. Khi còn nhỏ, Elliottt chứng kiến cảnh chà đạp của người cha nghiện rượu, bà mẹ khổ đau đã tự tử bằng cách cứa vào cổ tay. Lúc lớn lên, Elliottt không dám có con và điều tệ hại nhất là sự ra đi quá đột ngột của Ilena, khi anh chưa cảm thấy mình mang lại niềm vui thực sự nào cho cô.Bạn đang cùng bước vào một câu chuyện tình, thật đẹp nhưng nặng trĩu buồn và tưởng như đã bị chôn chặt theo thời gian. 30 năm về trước, trong lúc không thể rời giường bệnh bởi ánh mắt u buồn của một bệnh nhân, bác sĩ Elliottt đã để vuột mất người yêu sau một tai nạn giao thông. Năm 60 tuổi, dấu hiệu tuổi già và bệnh ung thư trong kỳ di căn dường như sắp sửa quật ngã ông. Và giữa khoảnh khắc mong manh ấy, Elliottt đã bật lên ước muốn lớn nhất trong cuộc đời mình: gặp lại một người, Ilena.

Hình ảnh một bản sao già cả, bệnh tật và rầu rĩ, bên một Elliottt tràn trề sinh lực của tuổi 30 gieo vào người đọc những nỗi niềm day dứt bên trong, tự giày vò chính mình. Sống vốn đã chẳng dễ dàng nhưng để quay lại, đối diện với lỗi lầm còn nặng nề gấp bội. Hai con người ấy – Elliottt 60 tuổi và Elliottt 30 tuổi – đã hợp sức cùng nhau để thay đổi quá khứ, bằng chính thôi thúc khó lý giải của con tim. Một người đánh đổi bằng tất cả sức lực yếu ớt còn lại. Một người đánh đổi bằng điều quý giá nhất trong cuộc đời mình. Tưởng mạnh mẽ nhưng mà chông chênh, tưởng như với tới niềm vui song hóa ra lại đón nhận kết cục chua chát. Nhưng không một ai muốn dừng lại, vì tình yêu, vì Ilena.

Câu chuyện tình yêu ấy đan xen giữa thực và ảo mộng. Điều này cứ chòng chành lặp đi lặp lại trong suốt hơn 300 trang sách, vừa tạo nên sắc màu lãng mạn, vừa như chạm tới tầng sâu kín nhất trong tâm hồn. Musso khiến bạn có thể gợi nhớ đến những giấc mơ của Marc Levy (Nếu em không phải một giấc mơ, Gặp lại, Kiếp sau, Bảy ngày cho mãi mãi), nhưng anh không bị trộn lẫn trong đó. Dường như chất liệu thực tế được anh ghìm chặt hơn, bằng cách ghi chú cẩn thận trong mỗi chương sách: Ngày tháng năm, tuổi của nhân vật, mỗi lần gặp lại quá khứ. Không bắt buộc tất cả nhân vật cùng trở lại giấc mơ, với Musso, đó thực sự là nơi chỉ dành cho những ai thực sự cô đơn, thực lòng khao khát được quay về. Anh cũng không quá tô hồng sức mạnh của những giấc mơ, song lại không cưỡng lại khát vọng nhìn thấy thành quả của mình, rằng rốt cuộc con người ta phải đạt được điều gì đó mà họ đã trót để vuột mất, như hình ảnh Elliottt và Ilena gặp nhau khi cả hai đều đã già bên chiếc cầu Cổng Vàng. Người ta đã nhận định về anh với những cuốn sách đầu tiên: Skidamarik, Rồi sau đó, Cứu lấy em, Gặp em ngày đó, “Hãy ghi nhớ cái tên này, Guillaume Musso hứa hẹn một tài năng văn chương nở rộ”.

Những chương sách dạt dào xúc cảm được thể hiện cô đọng, như những giấc mơ ngắn ngủi của nhân vật chính Elliottt, nhưng diễn biến thời gian được tác giả cố ý duy trì liền mạch. Có đủ cả 10 lần trở về của 10 viên thuốc. Có đủ hết những năm Elliottt lâm cảnh gà trống nuôi con, được đánh số lần lượt từ 1986 đến 2007… Có thể nói, Musso như không muốn hướng độc giả dành quá nhiều sự quan tâm trong hành trình “hẹn lại” của mình. Để tránh ấn tượng về cảm xúc viển vông, anh sắp xếp những cuộc hẹn đó lọt thỏm như chỉ là một góc nhỏ, của riêng một cá nhân, giữa một xã hội ăm ắp sự kiện: nào là tin trên CNN một học sinh vừa nã súng vào 12 bạn học khác trước khi nã súng vào mình ở trường trung học Columbine ở Litttletown, John Lennon bị ám sát ở New York bởi gã tâm thần Mark Chapman, sự kiện 11/9/2001 tại World Trade Center… Tất cả tạo nên sự dồn nén tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn độc giả.

Tác giả Guillaume Musso sinh năm 1974 tại miền Đông nước Pháp, hiện là giáo viên chuyên ngành kinh tế. Từ một chuyến du lịch trải nghiệm tới New York năm 1993, trải qua nhiều công việc như bán kem, ở trọ cùng với người lao động đến từ các quốc gia khác nhau, anh trở về với đầy ắp những ý tưởng mới cho niềm đam mê sáng tác. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh với tựa đề Bởi vì yêu đã ra mắt độc giả tháng 5/2007, hiện có mặt trên danh sách best-seller của những kênh phát hành sách lớn nhất nước Pháp.

Ngọc Mai

Bạn tôi tình tôi

Bạn tôi tình tôi

Câu chuyện hài hước về hai anh chàng gà trống nuôi con sẽ lôi cuốn độc giả dõi theo diễn biến tiếp theo trong cuốn sách.
Marc Levy –

Tên sách: Bạn tôi tình tôi
Tác giả: Marc Levy
Dịch giả: Hiệu Constant
Nhà xuất bản: Đà Nẵng và công ty Nhã Nam

Gặp lại một Marc Levy thân quen với lối hành văn dí dỏm trong giọng điệu hết sức nhẹ nhàng, giàu xúc cảm. Câu chuyện về hai người đàn ông vốn là bạn nối khố từ 15 năm trước, giờ chung cảnh gà trống nuôi con. Mỗi người giữ trong lòng nỗi đau kín bưng sau vụ đổ vỡ tình cảm, chẳng ai nói ra.

Bạn tôi tình tôi

Trang bìa cuốn sách.
Dẫu mỗi người một tính nết – Antoine trầm lặng và hay cáu kỉnh, Mathias nồng nhiệt và lắm lời – nhưng cả hai có chung một tình yêu vô bờ bến với những đứa con của mình, tự tay chăm sóc chúng bằng sự yêu thương và bao bọc, với ý thức và trách nhiệm sau lục đục trong hôn nhân.

Song hơi trái khoáy khi hai anh chàng ngoài băm lăm này quyết định dỡ bức tường ngăn cách giữa hai nhà, để họ không còn là hàng xóm nữa. Các quy định tới tấp được đặt ra dưới mái nhà chung: không có baby-sister; không có đàn bà trong nhà; hạn cuối cùng trở về nhà là 0h30… Dù hòa khí không hẳn lúc nào cũng tồn tại giữa 2 ông bố khó tính, trái nết song trong một khoảnh khắc nào đó, họ nhận ra không gian êm đềm qua nét mặt hân hoan khó tả. Và họ đã nghĩ, cuộc đời rồi mãi cứ trôi với ngôi nhà có hai người đàn ông và tiếng cười lảnh lót của hai đứa trẻ.

Không ít người sau khi gấp cuốn sách này sẽ đôi chút cằn nhằn, sao mà chỉ thấy toàn là người tốt sống với nhau như vậy? Từ một đôi bạn tình cao tuổi – bà Yvonne và ông John Glover – níu giữ nhau trong khúc quanh bấp bênh khắc nghiệt của thời gian. Từ cô chủ hàng hoa Sophia xinh đẹp và duyên dáng kiên nhẫn đợi chờ. Từ lá thư thấm đẫm yêu thương trước lúc người cha bị xử bắn gửi lại cho con gái. Từ cô phóng viên Đài Truyền hình Audrey cá tính không chấp nhận sự rơi tự do trong tình yêu. Từ hai đứa trẻ thật nhạy cảm, Emily và Louis…

Nhưng không hẳn thế. Cuộc sống đang diễn ra ấy đâu có thiếu nỗi đau và cả bao giọt nước mắt tuôn rơi. Một Antoine hoàn toàn thu mình và dường như đông cứng về mặt tình cảm. Một Mathias quay quắt buồn. Một Audrey với hơn 3 năm long đong theo đuổi cuộc tình với người đàn ông đã có vợ. Một Yvonne cô đơn mà không thể trải lòng mình với người bạn già…

Sự trong trẻo qua nỗi đau là một trong những thông điệp của Marc Levy và dường như, chúng là đề tài xuyên suốt trong các cuốn sách của ông. Niềm hân hoan trên khuôn mặt của Mathias, khoảnh khắc sung sướng của Antoine chưa chắc gọi tên là hạnh phúc, nếu nó chưa tìm ra một điểm đích và giải quyết những xung đột vốn được giấu nhẹm trong lòng. Khi mà cả hai vẫn đương đánh vật với những mâu thuẫn của chính mình, không đủ tự tin và bản lĩnh để vượt qua trở ngại.

Các trang sách viết về phụ nữ trong Bạn tôi tình tôi thật dịu dàng, như thể sứ mệnh của họ là hàn gắn nửa rời rạc từ thế giới của những người đàn ông ấy. Nó khiến người đọc không khỏi dõi theo với sự bối rối, liệu những bóng hồng này có thực sự xuất hiện trong cuộc sống hiện tại không, hay chỉ là một giấc mơ nhẹ nhõm và xa vời? Có lẽ, từ những câu hỏi day dứt ấy mà độc giả sẽ tìm hiểu kỹ hơn về thế giới trong trẻo mà vô cùng tinh tế của Marc Levy. Biết đâu, chính bạn sẽ tìm ra lời giải đáp, điều gì khiến những câu chuyện tình lãng mạn của nhà văn Pháp lại được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt như vậy?

Huỳnh Mai Liên

Kiếp sau – Marc Levy

“Thực ra Kiếp sau không hay bằng Nếu em không phải một giấc mơ cũng của Marc Levy nhưng tôi chọn Kiếp Sau đơn giản bởi nếu so sánh thì một mối tình truyền kiếp vẫn thú vị hơn là mối tình của một con người với một con ma” – Tiki cực kỳ thích nhận xét thú vị này của một độc giả và đồng tình với ý kiến có vẻ hơi “ngông” hơi “thiên vị” một chút này.

Ngoài nội dung lãng mạn, cảm giác ngờ ngợ, cứ nhớ nhớ quen quen trong suy nghĩ “đã từng gặp” xuyên suốt cuốn sách. Điều Tiki cảm thấy khá thú vị khi đọc Kiếp Sau ở cách trình bày 2 hành động: Đọc 1 lá thư trước tiên và nhận một lá thư sau cùng. Có lẽ chi tiết này nhỏ nhoi quá, bé quá đi và chẳng qua cũng chỉ là điểm nhấn phụ thôi, nhưng điều này gây ấn tượng đặc biệt với Tiki. Chúng ta vẫn yêu cả một con người vì người ấy có một nụ cười “răng khểnh”, hoặc đôi mắt “hí”, hoặc chỉ đơn giản là một cái bĩu môi đáng yêu đó thôi. Và Tiki xin phép được thiên vị một chút 🙂

©

Đi tìm một bức tranh bí ẩn, Jonathan đã gặp Clara.
Cả hai nhận ra họ đã gặp nhau ở đâu đó.
Nhưng ở đâu, khi nào?
Ở London,cách đây hơn một nửa thế kỷ…
Khi nàng chính là cô gái trong tranh…
Một chuyện tình lãng mạng nữa của Marc Levy, để chứng minh cho sự bất tử của tình cảm con người. Một câu chuyện đã mang ta từ Saint-Péterbourg tới Boston, từ London tới Florence rồi Paris, nơi mà tình yêu và những bí ẩn của nó đã thách thức cả thời gian, khi những đôi tình nhân chết đi, rồi tái sinh và tìm ra nhau, trong kiếp sau…

“Một câu chuyện duyên dáng, kì bí diễn ra trong không gian nghệ thuật” ( L’Express )
“Đây chính là những gì mà một tiểu thuyết cần đạt tới – một cuốn sách tuyệt vời để ta đọc trong những ngày cuối tuần có mưa… Một câu chuyện kì diệu đã đưa người đọc đi từ nước Mỹ sang Châu Âu rồi ngược lại, đã giữ gìn sự hồi hộp của ta cho tới trang cuối cùng.” ( Le Temps )

 

Kiếp sau ( Marc Levy)

Cuốn sách là “phần thưởng” cho một buổi chiều lành lạnh, dũng cảm rời chăn ấm chỉ để đi mua sách. Là ý tưởng đột xuất nảy sinh trong đầu nên tôi cũng không có dự định trước là sẽ mua cuốn gì ( thường thì tôi hay mua theo dự định từ trước – tức là sau khi đã tìm hiểu khá kỹ mới quyết định mua )

Tình cờ lướt qua, và thấy trên giá sách một cuốn khá nổi bật (bạn nhìn hình chắc cũng đồng tình với tôi điều đó) vẫn phong cách design bìa khá quen thuộc, và tôi chẳng nhầm lẫn vào đâu được, chộp ngay lấy khi đã chắc chắn nhìn thấy cái tên Marc Levy. Qua 2 cuốn “Nếu em không phải một giấc mơ” và “Gặp lại” tôi dường như hình thành phản xạ như vừa rồi: tức là, chộp ngay lấy, chẳng cần suy nghĩ !

Cái tên Marc Levy như một “thương hiệu” đảm bảo cho một cuốn tiểu thuyết không quá nặng nề, nhưng vẫn đủ để suy tư, nhẹ nhàng, lãng mạn và tinh tế; đảm bảo cho những đoạn đối thoại hóm hỉnh và thông minh, luôn khiến bạn phải bật cười thích thú. Và đảm bảo cho một cốt truyện lạ thường, bất ngờ và cuốn hút vô cùng.

Thật lạ là trước đây tôi chẳng hề đọc tiểu thuyết, ko thích. Tôi cũng chẳng ngờ là có những cuốn tiểu thuyết nho nhỏ, và xinh xắn như những cuốn của Marc Levy – để tôi có thể nhanh chóng đọc xong, song cảm xúc mà nó để lại, thì không tan biến nhanh chóng như lúc nó đến!

Dài dòng thế đủ rồi (hị hị, chẳng bao giờ mình dài dòng thế này – có điều kết ông Marc Levy quá rồi hay sao í, hie hie) Và bây giờ vào câu truyện chính Tôi vừa đọc xong rồi, cuốn truyện có tên là

Kiếp sau

Ngay khi cầm cuốn sách lên, tôi lật ra bìa sau,

và tôi đọc những dòng này các bạn ạ:

Câu truyện diễn ra trong một không gian nghệ thuật chuyên nghiệp. Jonathan là một nhà thẩm định tranh có tiếng, bạn anh, Peter – người luôn theo sát và ủng hộ anh (hình như trong các cuốn truyện của Marc Levy, nhân vật chính luôn có những người bạn thân thiết rất tuyệt vời – tôi tự hỏi không biết có phải đó là hình ảnh một người bạn ngoài đời nào của ông hay không ) – là một chuyên gia đấu giá các tác phẩm nghệ thuật.

Say mê nghiên cứu về danh hoạ người Nga Vladimir Radskin, và mong muốn tên tuổi của nhà hoạ sĩ được đặt ở vị trí xứng đáng với tài năng của mình, Jonathan bỏ lại cô vợ sắp cưới, vội vã đến London khi nghe tin về khả năng có thể tìm thấy bức hoạ cuối cùng của ông- bức hoạ bí ẩn – từ lâu anh đã có mơ ước được chạm vào, và cũng là vật có thể giúp anh hoàn thành tâm nguyện khẳng định tài năng của Radskin, giúp bạn anh, Peter vực dậy công việc đang gặp khó khăn của mình.

Và, ở London, anh gặp Clara. Thật lạ, họ đều cảm thấy như đã từng gặp nhau ở đâu đó -cảm giác đó cứ vấn vương, ám ảnh cả hai người – nó kéo hai người lại gần nhau, nhưng, khi họ chạm vào nhau – điều kỳ lạ đã xảy ra…

Em có tin rằng, người ta yêu nhau đến mức cái chết cũng không xoá được ký ức không ? Em có tin rằng, tình cảm sẽ tồn tại vĩnh cửu và mang lại sự sống cho con người không ? Em có tin rằng thời gian có thể mãi mãi tái hợp những người yêu nhau mãnh liệt đến độ không bao giờ mất nhau ?…

Tất nhiên, câu truyện không phải toàn những điều kỳ lạ, những điều kỳ lạ chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc. Câu truyện là những bước đi khám phá, khám phá ra những bí mật ẩn dấu sâu trong quá khứ, khám phá ra sự thật, khám phá những âm mưu được ẩn giấu nham hiểm. Và kết cục… tất nhiên, tôi mong các bạn sẽ tự khám phá ra nó

Bìa cuốn sách trên Amazon.com

Sẽ là một cuốn sách thú vị để đọc dịp cuối tuần, nếu bạn thử, hãy kể cho tôi biết cảm giác của bạn nhé

Gặp lại – Marc Levy

Sơ lược về tác phẩm

Tiếp nối một cách xuất sắc mạch truyện còn dang dở, mạch văn còn nồng nàn chưa dứt từ Nếu em không phải một giấc mơ,Gặp lại của Marc Levy kể nốt cho độc giả câu chuyện tình yêu kỳ diệu của Lauren và Arthur.

Sau khi hứa hẹn với Lauren một ngày sẽ kể cho cô về tất cả vừa qua, Arthur quyết định rời xa thành phố thân yêu sang Pháp vừa cho một dự án quan trọng, vừa để cố quên đi người con gái định mệnh đó. Anh không muốn để cho cô phải đau lòng vì gia đình và người thân đã từng có ý định kết thúc sự sống của cô vào giây phút quá tuyệt vọng. Hơn thế, anh sợ sẽ phá vỡ sự toàn vẹn, bởi lẽ Lauren đã trở lại với người tình cũ của cô. Nhưng không thời gian hay khoảng cách nào khiến Arthur quên được Lauren, anh lại trở về thành phố. Lauren tỉnh dậy, tất nhiên cô không thể nhớ thời gian hôn mê đã đi qua như thế nào, nhưng có một trực cảm kỳ lạ khiến cô mãi nhớ chàng trai đã chăm sóc mình những ngày cuối trên giường bệnh, rồi ra đi với một lời hứa. Nhưng không ai kể cho cô về Arthur cả.
Họ sẽ không thể gặp lại nhau nếu không có định mệnh và tấm lòng nhân ái. Arthur bị một tai nạn nhỏ nhưng va chấn đã khiến anh rất có thể sẽ bị mù. Một tay bác sỹ vô tình của một bệnh viện khác tiếp nhận Arthur rồi bỏ mặc anh. Lauren, nhận được lời nhờ của Paul – người bạn thân nhất của Arthur, đã bất chấp tất cả đánh cắp bệnh nhân đưa về bệnh viện của mình chữa trị. Họ tìm lại được cuộc sống, và rồi tìm được lại nhau. Paul cũng có một tình yêu thật sự. Vị thanh tra tốt bụng Pilguez với người bạn đời sẽ có những ngày hạnh phúc nhất. Một kết thúc mỹ mãn ngọt ngào, tràn ngập cảm động trong tình yêu, tình bạn, tình người.

Nhận định

“Gặp lại một lần nữa cho thấy phong cách trữ tình của tác giả…Đơn giản là một cuốn sách tuyệt vời, mang lại cho ta niềm sảng khoái!”
– Le Courrier Picard

“Độc giả đông đảo của Marc Levy, những người đang nóng lòng đón đọc phần tiếp theo của câu chuyện tình Nếu em không phải giấc mơ… sẽ được thỏa nguyện với phần hai dưới nhan đề Gặp lại – cuốn sách đang thống trị trên các bảng xếp hạngbest-seller của nước Pháp.”
– Le Figaro

“…với những tình tiết xâu chuỗi chặt chẽ được nhào nặn từ dòng cảm xúc tuôn trào.”
– Lire

Gặp lại – Marc Levy

Những độc giả từng bị cuốn hút theo câu chuyện tình lãng mạn của Arthur và Lauren trong Nếu em không phải một giấc mơ, tiểu thuyết đầu tay của nhà văn, kiến trúc sư Marc Levy, hẳn sẽ cảm thấy hài lòng với phần hai cuốn sách dưới nhan đề Gặp lại. Cũng giống như phần một, Gặp lại vừa phát hành đã trở thành cuốn sách “thống trị” trên các bảng xếp hạng best seller của Pháp.

Trong Gặp lại, bóng hình người mẹ của Arthur cùng câu chuyện tình bùi ngùi của bà được đẩy xa. Không gian mở rộng hơn với chàng kiến trúc sư ngập tràn nỗi thất vọng vì rơi vào cuộc sống đơn phương sau khi hồn của Lauren trở về với thân thể của cô như có phép lạ. Arthur phải ra nước ngoài làm việc một thời gian để lấy lại thăng bằng trước khi tiếp tục sống cuộc sống đơn lẻ tại San Francisco. Và, lại một giấc mơ xảy đến khi số phận đưa hai nhân vật chính gặp lại nhau trong những hoàn cảnh hết sức trớ trêu: người thì đổ bệnh vì quá yêu, người lại bâng khuâng với một xúc cảm len lỏi đâu đó. Họ va chạm nhiều lần mà không hiểu nhau, giống như một trò đuổi bắt nhưng lại vấn vương sự ngậm ngùi của chàng Arthur đa tình.

Và lần này họ lại hoán đổi vị trí cho nhau. Thay vì Lauren nằm triền miên trên giường bệnh là Arthur. Một vụ tai nạn do chiếc mô tô điên loạn gây ra tưởng vô hại với anh. Ngay cả Lauren trong ca trực cũng không thể phát hiện tĩnh mạch con nằm phía sau bộ não của Arthur đã bị tổn hại ở thời điểm xảy ra cú va đập. Anh được cho ra viện nhưng nhanh chóng xảy ra hiện tượng máu chảy trong não, chèn ép màng não, gây ra sự ngừng các chức năng sống, khiến Arthur rơi vào trạng thái bất tỉnh. Anh được Paul đưa tới cấp cứu ở một bệnh viện khác để tránh gặp lại Lauren, không ngờ lại gặp phải một tay bác sĩ hạng xoàng khiến tính mạng Arthur mong manh nghìn cân treo sợi tóc. Tới lượt Lauren bởi những thôi thúc vô hình, không cầm lòng đã chấp nhận vi phạm pháp luật, tham gia vào vụ cướp bệnh nhân, bằng mọi giá níu giữ sự sống cho Arthur…

Họ lại rơi vào hoàn cảnh giống như trước đây. Chỉ khác ngồi bên cạnh Arthur là sự hiện diện của Lauren với những thắc mắc không ai giúp cô giải thích. Một sức hút mãnh liệt khiến cô chẳng thể rời xa anh được lâu. Cho tới một ngày, cô đã sánh vai anh đi dạo chơi tới cây cầu Golden Gate, tới chỗ đê chắn sóng Pier 39, cùng tham gia ngày hội mở đầu mùa câu cua biển ở Ghirardelli Square… trong khi ở bệnh viện, Arthur đang gặp tai biến nhỏ sau phẫu thuật, phải nối vào máy để theo dõi. Lauren không thể hiểu nổi điều gì đã dẫn tới điều cô đang trải nghiệm vừa rồi. Trên đường đi tìm ra sự thật, cô chợt nhận ra mình đã có tình cảm sâu đậm với người bệnh nhân xa lạ ấy… Liệu họ có còn cơ hội gặp lại nhau thực sự trong đời?

Nếu em không phải là một giấc mơ, Marc Levy

Tóm tắt tác phẩm

Một câu chuyện tình yêu kì lạ và huyền ảo như một giấc mơ tại thành phố San Francisco. Lauren – người nữ bác sĩ nội trú – đã phải nằm trong phòng hậu phẫu của bệnh viên bởi cơn hôn mê kéo dài sau một tai nạn trên đường đi làm. Sáu tháng sau, Arthur – người kiến trúc sư trẻ thuê lại căn hộ của cô đã nhìn thấy linh hồn cô gái đang ngồi say sưa theo điệu nhạc trong tủ áo. Arthur ban đầu không thể nào tin được câu chuyện, nhưng dần dần anh đã thấy được linh hồn cô gái này đang bơ vơ, khao khát có được một người bạn, một người lắng nghe những tâm sự của mình. Cùng với thời gian, sự đồng điệu tâm hồn đã khiến cho hai người trở nên gắn bó và tình yêu đến như một lẽ tự nhiên. Nhưng cuộc sống yên bình của họ đã bị ngăn cản khi những người thân của Lauren đã quyết định để cho cô ra đi mãi mãi sau những tháng dài bất tỉnh trên giường bệnh. Arthur đã quyết định làm một việc liều lĩnh: đánh cắp thân thể của Lauren khỏi bệnh viện và đưa cô trở về ngôi nhà cũ của anh. Họ sống cạnh nhau như trong một tuần trăng mật đầy hạnh phúc. Khi bị một thanh tra cảnh sát phát hiện ra việc làm của mình, Arthur đành đưa cơ thể Lauren trở lại bệnh viện và như có phép màu, cô gái đã tỉnh lại.

Nhận định

Nếu em không phải một giấc mơ là một câu chuyện hấp dẫn trước hết bởi tình huống truyện độc đáo: một linh hồn và một người bình thường yêu nhau. Nhưng độc giả sẽ không chỉ say mê theo dõi những sự kiện sẽ xảy đến với mối quan hệ đó mà họ sẽ được tiếp nhận dần dần những suy ngẫm của tác giả – một con người từng trải – về cuộc sống, về tình yêu, gia đình. Và chúng ta có thể nhận thấy, hơn tất cả tình yêu sẽ là sức mạnh giữ con người sống mãi, ngay cả khi bạn đã bước tới ranh giới của sự sống và cái chết hay đã vĩnh viễn bước ra khỏi thế giới. Những bài học nhân sinh đó không bị biến thành những lời lẽ giáo điều khô khan mà đã được thể hiện một cách khéo léo thông qua những câu chuyện, những mẩu đối thoại, những hồi tưởng, những lá thư được đan cài một cách uyển chuyển trong nhau. Nếu em không phải là một giấc mơ là cuốn sách lãng mạn được viết ra bằng một giọng văn giản dị, dịu dàng như một bài thơ và khiến người đọc không thể nào quên.

– Nhã Nam

“Đơn giản là một cuốn tiểu thuyết kì diệu”
– New York Post –

“Một vở kịch gợi cảm, được xây dựng chặt chẽ như một bộ phim Hollywood”
– Cosmopolitan –

“Đây là một cuốn sách mà tác giả của nó, một kiến trúc sư người Pháp ở San Francisco, đã khiến Hollywood sôi sục”
– Publisher Weekly –

“Một câu chuyện quyến rũ về tình yêu sẽ vượt qua tất cả, kể cả cơn hôn mê khiến hồn lìa khỏi xác…”
– School Library Journal –

“Một câu chuyện tình ấm áp, không thể nào quên, lay động trái tim độc giả từ đầu đến cuối”
– Audio File –

“Với những nhân vật được xây dựng kĩ càng, và một cuộc hành trình cảm động đi qua những bài học của cuộc đời, Marc Levy đã sáng tạo một câu chuyện tình đặc sắc”
– Booklist –

“Một tiểu thuyết đầu tay, một best-seller ở Pháp, một biến thể của chuyện-tình-yêu-sau-cái-chết đã khiến phim Hồn ma trở nên xiết bao nổi tiếng”
– Kirkus Review –
*****

Trích đoạn tác phẩm

Cô gái nhắc lại, đối với cô, việc được người khác nhìn thấy là cả một phép lạ. Cô thổ lộ với anh rằng cô rất cảm động thấy mình được miêu tả đẹp đẽ như vậy, và mời anh sang ngồi cạnh. “Những gì tôi sắp nói với anh thật khó tin, khó chấp nhận, nhưng nếu anh chịu lắng nghe câu chuyện của tôi, nếu anh có thiện ý cho rằng tôi nói thật thì có thể là cuối cùng anh sẽ tin đấy, và anh có tin hay không là một việc rất quan trọng vì anh là người duy nhất mà tôi có thể chia sẻ điều bí mật này, mặc dù anh không hề hay biết.”
Arthur hiểu rằng mình không có sự lựa chọn nào khác, mình không có cách nào khác là phải nghe những gì mà cô gái này muốn nói với anh, và mặc dù lúc này chỉ muốn đi ngủ nhưng anh vẫn đến ngồi bên cô để nghe một câu chuyện lạ lùng nhất chưa từng thấy bao giờ.

Cô tên là Lauren Kline, bác sĩ nội trú, và cách đây sáu tháng, cô đã bị một tai nạn giao thông rất nghiêm trọng do mất lái. “Từ đó đến nay, tôi bị hôn mê sâu. Đừng, đừng suy luận vội, anh để tôi giải thích xong đã.” Cô không nhớ gì về vụ tai nạn. Cô tỉnh lại trong phòng hậu phẫu, sau ca mổ. Khắp người rần rật những cảm giác rất lạ, cô nghe thấy tất cả những gì người ta nói xung quanh, nhưng cô không sao cử động được, không sao mở miệng được. Lúc đầu, cô tưởng đó là hậu quả của thuốc mê. “Tôi đã lầm, thời gian trôi đi, thế mà tôi vẫn không sao tỉnh được về mặt thể xác.” Cô vẫn cảm nhận được mọi việc nhưng không có khả năng tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Tưởng rằng mình bị bệnh liệt tứ chi, cô đã phải trải qua nỗi sợ hãi khủng khiếp nhất trong đời. “Anh làm sao hiểu được tôi đã phải trải qua những gì. Tôi đã bị giam vĩnh viễn trong thể xác mình.”

Cô đã cầu mong được chết, cô cầu mong hết sức, nhưng không nhấc nổi một ngón tay thì làm thế nào được. Mẹ cô túc trực ngày đêm bên giường. Cô tập trung hết tinh thần thầm van xin bà úp gối vào mặt cô để cho cô được chết ngạt quách đi cho xong. Thế rồi một bác sĩ đi vào, cô nhận ra giọng người ấy, đó chính là giáo sư đỡ đầu cô. Bà Kline hỏi ông giáo sư xem con gái bà có nghe được những gì người ta nói không. Ông Fernstein đáp là ông không chắc lắm, nhưng một số công trình nghiên cứu đã cho biết rằng những người hôn mê như cô có thể cảm nhận được tín hiệu từ bên ngoài, và mọi người xung quanh người bệnh cần chú ý giữ gìn lời ăn tiếng nói của mình. “Mẹ tôi muốn biết tôi có tỉnh lại được nữa không.” Ông giáo sư điềm đạm trả lời là ông không thể nói trước được, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải hy vọng, dù chỉ còn một phần nghìn tia hy vọng, đã có trường hợp người bệnh tỉnh lại sau nhiều tháng hôn mê sâu, hiện tượng này không phải là phổ biến nhưng đã từng xảy ra rồi. “Mọi khả năng đều có thể, giáo sư nói tiếp, chúng tôi không phải là thần thánh, chúng tôi không thể biết được hết mọi chuyện.” Rồi ông kết luận: “Hiện tượng hôn mê sâu vẫn là một bí mật mà y học cần phải nghiên cứu thêm.” Lạ lùng thay, nghe ông nói thế, Lauren thấy nhẹ nhõm hẳn đi, như vậy là người cô vẫn còn nguyên vẹn. Chẩn đoán của giáo sư chưa làm cho cô yên tâm lắm nhưng ít nhất cũng không phải là một lời tuyên án cuối cùng. Lauren giải thích cho Arthur hiểu: “Chứng liệt tứ chi thì không bao giờ hồi phục được, anh ạ. Nhưng trường hợp hôn mê sâu thì vẫn có hy vọng, dù là rất ít.” Hết tuần này đến tuần khác trôi qua, cô cảm thấy thời gian sao mà dài thế, dài lê thê, càng ngày càng dài. Cô nằm bất động nhưng ý nghĩ của cô thì phiêu diêu về quá khứ, về những địa điểm khác. Một đêm, trong lúc tưởng tượng về cuộc sống ở ngoài kia, phía sau cánh cửa phòng bệnh, cô bỗng nhìn thấy rất rõ toàn bộ dãy hành lang, các cô y tá đi đi lại lại, tay ôm hàng chồng hồ sơ bệnh án hay đẩy xe lăn, các đồng nghiệp vào hết phòng này đến phòng khác thăm bệnh…

– Thế rồi lần đầu tiên, một chuyện lạ đã xảy ra: tự nhiên, tôi thấy mình đang ở ngoài, ở chính dãy hành lang mà tôi cứ tưởng tượng hoài ấy. Thoạt tiên, tôi cho rằng trí tưởng tượng đang chơi khăm mình, bởi vì tôi làm việc ở bệnh viện, tôi đã biết rõ từng ngóc ngách. Nhưng sao khung cảnh lại làm tôi xúc động như là thực thế không biết. Tôi nhìn thấy được toàn bộ nhân viên xung quanh, tôi nhìn thấy Betty mở tủ thuốc, lấy bông gạc ra rồi khép cánh cửa lại, Stephan thì vừa đi qua chỗ tôi đứng vừa gãi đầu. Anh ấy gãi đầu đã thành thói quen, mỗi khi bồn chồn, anh ấy lại làm như vậy.

Cô còn nghe thấy tiếng cửa thang máy khép mở, ngửi thấy mùi thức ăn mà người ta mang cho nhân viên trực. Không ai trông thấy cô cả, người ta đi đi lại lại qua mà không tìm cách tránh, hoàn toàn không ý thức được cô đang có mặt. Người đã thấm mệt, cô bèn nhập lại vào thể xác của mình.

Những ngày tiếp theo, cô đi lại trong bệnh viện đã có kinh nghiệm hơn. Chỉ cần nghĩ đến nhà ăn là lập tức cô đến được đó, chỉ cần nghĩ đến khu cấp cứu hay bất cứ đâu là lập tức cô có mặt ở đó. Sau ba tháng tập luyện kiểu như vậy, cô đã ra được cả ngoài phạm vi bệnh viện. Thế là cô có dịp được dự bữa tối với một cặp người Pháp tại một trong những hiệu ăn ưa thích của mình, được xem đoạn cuối một bộ phim trong rạp, được lang thang vài giờ trong căn hộ của mẹ mình. Lauren kể với Arthur: “Sau đó, tôi không lặp lại việc này nữa, tôi thấy rất buồn là ở bên cạnh bà mà không tiếp xúc được với bà.” Chỉ có con Kali cảm nhận được sự hiện diện của cô, nó cứ rên ư ử và sục sạo vòng quanh nhà, lồng lộn như phát điên. Thấy thế, cô đã trở lại nơi này, dù sao thì đây cũng là nhà cô, và ở đây, cô mới thấy dễ chịu. “Tôi sống trong nỗi cô đơn tuyệt đối. Anh làm sao mà tưởng tượng nổi, cảm giác không nói chuyện được với ai, cảm giác mình hoàn toàn trong suốt như không khí, không được tồn tại trong cuộc đời bất kỳ ai là như thế nào đâu. Nếu tưởng tượng được, anh sẽ hiểu tại sao tôi lại sửng sốt và thích thú như thế khi anh nói chuyện được với tôi tối nay, lúc tôi ngồi trong tủ quần áo ấy mà, và khi tôi nhận thấy là anh nhìn thấy tôi. Tôi không hiểu tại sao chỉ có anh mới nhìn thấy tôi, nhưng tôi mong là việc này sẽ kéo dài thật lâu để có thể nói chuyện với anh hàng giờ, tôi cần nói chuyện biết bao, tôi có hàng trăm câu sẵn sàng trong đầu để trao đổi với anh đây.” Nói xong những lời lẽ mãnh liệt ấy, cô nghẹn ngào một lúc lâu. Mắt đẫm nước, tay đưa lên vuốt từ má sang mũi mình, cô nhìn Arthur đăm đăm. “Chắc anh cho tôi là một con điên nhỉ?” Arthur đã bớt bực bội và căng thẳng. Không những thế, lời lẽ thống thiết của cô gái còn làm anh rung động tận đáy lòng, đồng thời anh cũng thấy bán tín bán nghi vì câu chuyện mà anh vừa được nghe quả thật quá kỳ quặc, quá hoang đường.

Cánh đồng bất tận (phần cuối) phần 4

Tôi bắt đầu hối hận vì đã cứu chị và mang chị đi cùng. Có cảm giác chúng tôi nắm tay kéo chị lên khỏi một vũng lầy để đẩy chị vào một vũng khác, cũng sâu.

Nguyễn Ngọc Tư –

7.

Chị xuất hiện không đúng lúc. Cha tôi có dấu hiệu mệt mỏi. Đàn bà, với cha, càng trải nghiệm càng chán chường. Càng gieo rắc càng đau. Vết thương cũ mở miệng toang hoác, không da thịt nào có thể lấp đầy. Cha không chấp nhận cả những người phụ nữ mà ông kỳ công chiếm đoạt (của người khác), thì sao ông có thể tin tưởng ở sự hiến dâng?

Vậy đó, cuối cùng chị hiểu được tại sao cha tôi lại phớt lờ mình. Tôi và Điền buộc phải kể câu – chuyện – của – chúng – tôi để chị không phải ray rứt gì với thân phận làm đĩ. Những ký ức chắp vá, đứt đoạn được chúng tôi kể khá chậm, một phần vì đã lâu không dùng cách giao tiếp bằng lời, một phần do vài chi tiết khiến chúng tôi phải dừng câu chuyện lại, vì thấy nhói ở đâu đó hay đợi chị thôi khóc. Thí dụ như cái đoạn kể về kỳ kinh nguyệt đầu tiên của tôi. Máu chảy giữa hai đùi không tạnh được, tôi thụp xuống, bụm chỗ ấy lại. Máu từ từ chảy qua kẻ tay, tôi thấy mình rỗng ra, tái nhợt, chết dần. Thằng Điền vói bứt đọt chuối, tọng vào miệng nhai ngốn ngấu, điên dại, để lấy bả rịt lại chỗ máu. Thuốc gò nghe nói cầm máu rất tốt, cũng chẳng ăn thua. Hai đứa nhìn nhau khóc, tôi đã mơ thấy ngôi mộ của mình, như chiếc giường giữa bốn bề đồng nước… Chị mếu máo vít đầu tôi vào lòng, “Trời ơi, tội hôn. Lúc đó cha mấy cưng ở đâu?”. Tôi ngơ ngác, không biết, nhưng dù cha có ở gần ngay đấy thì chúng tôi cũng chẳng thể cầu cứu.

Đã nói là chị em chúng tôi phải tự học đủ thứ rồi mà. Những gì không biết, chúng tôi thử. Những gì không hiểu, chúng tôi chất thành khối trong lòng. Nhiều khi thấu đáo được một điều nào đó, chúng tôi phải trả giá cao.

Có lần chúng tôi thả vịt nghỉ khúc kinh có bóng cây. Bỗng nỗi xấu hổ vì mình là con người xộc lên mũi sặc sụa, khi tôi phát hiện ra chúng chẳng bao giờ cưỡng đoạt và gạt gẫm nhau. Khoảng thời gian trước khi con trống trèo lên con mái rất thật, mềm mại, êm đềm… Tuyệt không có gì là thô tục. Tôi sửng sốt. Thằng Điền sửng sốt. Trời ơi, khác với những gì chúng tôi biết (qua cha tôi, má tôi), trong sự hoan lạc (của những con vịt) đầy ắp thứ gọi là tình – yêu. Điền chới với, nghi hoặc lan ra như một vòng sóng. Và khi chị xuất hiện, thì trong nó chỉ còn nỗi ân hận giày vò.

Điền yêu chị, nhưng tình yêu đó khiếm khuyết mất rồi. Sau giấc ngủ dài, bản năng nó đã không trở dậy. Trái tim nó chỉ là hòn than nhỏ, không thể hâm nóng lại cơ thể ngã màu tro. Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít mất, đường đứt, cầu gãy…

Mà, kiểu yêu tinh thần để nhìn nhau, để nắm tay, vuốt tóc, để nín nhịn và hy sinh chỉ tồn tại trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư. Chị cần nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất cả đàn ông trên thế gian này. Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần, sự chung đụng của thể xác làm chị nghiện. Thằng Điền tuyệt vọng.

Tôi cảm giác sự đổ vỡ khi Điền đuổi theo chị, và chị thì chạy theo cha.

Một cuộc đua rã rượi, chẳng đến đâu. Chúng tôi còn phải dành sức cho cuộc mưu sinh dưới nắng như tát lửa. Cha quyết định bán bầy vịt đi. Ba người, mỗi lần xách vài ba con, chúng tôi chia nhau đi dài xóm để bán lẻ. Nhưng cách ấy chẳng cho kết quả nhiều, nắm con vịt ốm nhằng trong tay, xương ức gò ra bén ngót cũng đã đoán được. Thêm nữa, mùa giáp hạt kéo dài, nhiều nhà chạy gạo còn gay, thịt vịt trở nên xa xỉ. Tivi thì vẫn đang ra rả về dịch cúm, những người biết chút đỉnh, rụt đầu, “Ăn vịt đặng lây bệnh chết à?”.

Chúng tôi mang lũ vịt trở về, con đường dẫn lên đồng rập rờn hoa mua tím. Cũng theo lối này, vài hôm sau, ông trưởng ấp dẫn theo một cán bộ xã xồng xộc đến chỗ chúng tôi.

Tôi vừa sợ, vừa biết ơn những người như thế này. Họ làm cho chúng tôi cảm thấy bớt hoang dã, họ làm chúng tôi hiểu rằng, ngay cả trên những cánh đồng hoang liêu nhất thì chúng tôi vẫn bị ràng buộc bằng hàng vạn luật lệ. Nhưng đồng thời họ luôn mang tai họa đến. Dường như sự trừng phạt đang núp sau hai khuôn mặt bị nướng dưới mặt trời, bóng nhẫy, tươm mỡ. Họ phơ phởn nói bằng thứ ngôn ngữ buồn cười (bọn chăn vịt chúng tôi chẳng khi nào dùng những chữ chỉ thị, loại trừ tận gốc hay giải quyết dứt điểm…). Thật đơn giản, khi nói “các người phải huỷ bầy vịt”. Cha tôi cáu kỉnh gật đầu. Tôi và Điền kêu lên một tiếng buốt, ôi, những bạn – bè của chúng tôi sắp bị chôn sống nữa rồi.

Cái nhìn chị chảy theo nước mắt của thằng Điền, chị khẽ bảo, không sao đâu, mấy cưng. Chị đon đả, chèo kéo hai người đàn ông lạ về phía mình, “Mấy anh thương em với, nỡ nào để cả nhà em chết đói”. Một người càu cạu:

– Ở trên lịnh xuống tụi tui cãi sao được.

Nụ cười đong đưa, tung tẩy trên khoé mắt, thì em có bảo mấy anh cãi ai đâu, mấy anh giả đò không biết, không nhìn thấy bầy vịt của em là được rồi. Dễ ợt… Thằng Điền bệu bạo cắn răng, nó tự kìm nén bằng cách siết vai tôi đau nhừ. Cách đó năm bảy bước, giọng nói của chị vẫn lướt như một dòng gió đầy hơi nước, thấm dịu lại hai khuôn mặt (cố tỏ ra) cứng đơ. Một người nuốt nước miếng, ánh nhìn ham muốn như mũi kim thò ra khỏi bọc, lơ láo. Mắt ông ta lột trần chị, và toan tính một thoáng. Người còn lại có vẻ thú vị, háo hức như sắp được xem một vở cải lương hay. Chị thấu hiểu đàn ông đến nỗi, ngay lập tức chị ngó về phía chúng tôi, ngầm báo, cuộc thương lượng (về một sự đổi chác) đã kết thúc rồi.

– Hai anh cứ về trước, chút nữa, em lựa mấy con vịt tơ đem lại cho các anh lai rai. Nhà anh Năm đây em biết chớ sao không, đi tới đâu, em cũng coi mặt thổ địa trước chớ…

Nụ cười chị chợt mỏi mê mỏi nhừ. Có một chút tàn nhẫn, một chút man rợ trong cuộc thương lượng này. Hai người đàn ông quay vào xóm, không quên vói lại một câu, nửa đe nẹt, nửa xuề xòa, “tụi tôi nể vợ anh…”. Cha tôi cười hết sức độ lượng, ôi những thằng trẻ con…

Chị vò đầu thằng Điền, bảo “chuyện nhỏ thôi mà, đi bắt vịt dùm chị, nhỏ cưng”. Và hướng cái nhìn sâu nhói về phía cha tôi, rất chậm rãi, chị thay áo, lấy nón, xỏ dép… Thời gian dằng dặc. Tôi biết chị chờ, hy vọng. Tôi biết, đi một quãng xa, chị vẫn còn dõng tai đợi một tiếng gọi, “quay lại đi, Sương”. Nhưng chỉ gió ngêu ngao xoi mói vào mảng thịt sau tà áo người phụ nữ đang xiên xiên trên bờ cỏ rập rờn.

Chị về khi trăng rạng rỡ trên đầu (mãi sau này, tôi vẫn còn ghê sợ cái màu trăng ấy). Ống quần quệt vào cỏ ướt đẫm sương. Hơi rượu quyện với mùi thuốc lá làm tôi chạo chực. Nhác thấy hai chị em tôi ngồi thù lù, chị kêu lên, trời đất, hai cưng chờ chị chi vậy. “Chị… làm đĩ quen rồi, mấy chuyện này nhằm bà gì mà mấy cưng buồn?”. Rồi khom người nhìn vào chòi, chị chắc lưỡi tấm tắc, ” Coi nè… Trời ơi, bữa nay bộ gió mát sao mà người ta ngủ ngon dễ sợ”. Chao, tiếng ngáy của cha tôi sao mà đều, sao mà thơ thới. Tôi chực khóc, ngay lúc này đây, dường như chị – đang – chết. Chị lẹ làng lấy tay quệt lên mắt, mảng nước nhoè nhoẹt bên màng tang, bết cả vào mớ tóc mai.

Sáng sau, gặp ở quây vịt, cha tôi cười, hơi giễu cợt, “Sao, hồi tối vui không? Chắc họ tưởng cô là vợ tôi nên hứng thú lắm hả? Cứ để họ nghĩ vậy… “. Chị ngó trân vào cha, rồi day qua tôi, chị để rớt từng lời:

– Má cưng ác một, nhưng người cha này của cưng ác tới mười.

Nói rồi, chị quay đi. Chân vướng dấp dúi vào cỏ. Con đường nhỏ dầm chan trong màu hoa mua tím. Tôi đắng đót thầm trong lòng một cái vẫy tay. Bóng người khuất trong vườn. Thằng Điền xách nước về, nó cuồng lên hỏi chị đâu. Tôi chỉ con đường kinh xao xác hoa cỏ dại. Em tôi chạy hồng hộc về phía đó.

Điền, cũng không trở lại.

Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm gọi vậy) một trời sao. Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa cho cả bốn người. Cha tôi rất khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trải khủng khiếp. Đi qua những xóm kinh chộn rộn ánh đèn, tôi thường ngóng lên bờ mong có thể gặp được thằng Điền và chị. Không biết em tôi có đuổi kịp chị, hay vẫn tiếp tục kiếm tìm. Không biết nó đã đánh thức được bản năng, đã tìm thấy nhục cảm, đã biết thèm muốn chưa. Không biết tối nay thằng Điền có được mệt nhoài úp lên chị, hay vạ vật ở đâu đó, bên vách buồng (hay một tấm ghi-đô bằng vải), đau vật đau vã nghe hoan lạc chảy thành những dòng rên xiết, kêu thét. Không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng giọt như máu tươi.

Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng – loại (và tôi là đồng – loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một người nghe được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết rồi), và nhớ một người che chở (công việc này, đáng lẽ là của cha, má tôi). Tôi biết ơn Điền, từ một gói băng trắng mà Điền mang về hôm tôi mười bốn tuổi, bảo thứ này dùng khi có kinh nguyệt, nó sẽ ngăn không vấy máu ra quần. Điền đi hỏi ai đó, nó nói, máu không cầm được cho đến khi nào tự nó ngưng chảy. Điền xót xa khi thấy tôi trổ mã con gái, “Đẹp làm chi dữ vậy, Hai? Ở cái xó quê này, có đẹp mai mốt cũng phải lấy chồng, đẻ một bầy con nheo nhóc, cũng ra ruộng ra vườn làm lụng đến hết đời, xẹp lép như xác ve. Đẹp, mắc công giữ…”. Điền dặn tôi đừng xoắn quần quá cao, đừng mặc áo quá rộng cổ… Với bọn đám thanh niên lúc nào cũng kiếm cớ lảng vảng, Điền giang tay bọc lấy tôi, nó giễu cợt, “Anh kia, lượm con mắt lên, anh nhìn vậy, chị tôi mòn còn gì”. Đám người cụt ngòi, tẽn tò dạt ra. Ngay cả khi Điền bỏ đi cùng chị, nó cũng để lại cho tôi một món quà lớn.

Cha bắt đầu có một chút quan tâm với tôi. Dường như chỗ trống của thằng Điền nhắc cha nên quý những gì còn lại. Bắt đầu từ một đêm, cha đứng đằng xa, bảo, “Nương, ngủ sớm đi!”, tôi nghe mắt mình cay, ngợp như ai đó tọng một đám khói vào mặt. Mắc cười, câu nói chẳng ý nghĩa gì lớn lao, những người cha người mẹ nói với con họ hàng ngàn lần, đến phát bực mà tôi lại xốn xang.

Tôi ước gì có thể chếnh choáng thật lâu, nhưng nó mau chóng tắt rụi vì một ý nghĩ kỳ lạ. Dường như không còn kịp nữa, để hàn gắn sự đổ nát, để sắp xếp những mảnh vỡ lạo xạo trong lòng.

Chúng tôi tập nhìn nhau, điều đó khó khăn biết bao. Nhất là với cha, tôi cảm nhận được sự cố gắng lớn. Mỗi lần ngó về phía tôi, ông phải trợn trạo nuốt nghẹn những cảm xúc, vì tôi giống má khủng khiếp.

Không cần gương, tôi thấy hình bóng má trong mắt người đối diện. Trước ánh nhìn của cha, tôi cảm giác mình soi xuống dòng nước đêm. Với những người đàn ông khác, tôi bị rực lên như đứng trước mặt trời. Bằng mắt, họ sờ soạng khắp người tôi. Ánh mắt giống bàn tay của ông xẩm mù mà tôi từng gặp, đụng chỗ nào cũng dừng lại, vuốt vuốt bóp bóp (chắc là cho dễ hình dung), rồi lần dò tới một chỗ khác, rờ nắn mê miết. Và tôi đón nhận một cách hằn học, cục cằn.

Hôm bán bầy vịt, cha tôi sắm một chiếc nhẫn vàng, ông đẩy nó về phía tôi, ngượng ngập như sắp chết giấc, “Để dành khi đi lấy chồng…”. Tôi sặc ra một bụm cười, trời ơi, tôi biết lấy ai bây giờ?

Suốt những tháng năm sống tù đọng trên đồng, tôi có biết ai ngoài những người đàn ông quê mùa cũ kỹ. Tôi biết lấy ai trong số đó? Lấy một người cắm mặt xuống đất, mệt nhừ với vườn ruộng để mỗi khi giáp hạt, tôi nghe tiếng cạo cháy của con, tiếng muổng dừa vét gạo dưới đáy thạp mà rát bỏng trong lòng? Hay tôi sẽ chọn một người chăn vịt, mê mỏi với chuyến đi xa, sống cuộc sống hờ hững tạm bợ, thấp thỏm với rủi ro, và đến một lúc nào, tôi ôm con nghe đêm của mùa gặt thật dài với tiếng rúc rích của chồng cùng cô điếm già nua. Tôi lấy ai bây giờ, một người thợ gặt? Một anh chạy đò? Ý nghĩ mình là bản sao của má làm tôi sợ. Tôi không chắc mình có đủ kiên nhẫn sống cuộc sống nghèo túng, nhàm chán ấy suốt đời, hay nửa chừng bỏ dỡ. Và bi kịch chất đống lên những người ở lại.

Cha tôi hơi hoảng. Vậy đó, chỉ cần để ý một chút, là có thể nhận ra, xót xa vì sự quái dị, khác thường của tôi. Cha tôi vừa kịp nhìn thấy điều ấy, bối rối đến mức không biết diễn tả sự đau lòng như thế nào, bằng mặt, hay chỉ âm thầm trong lòng. Mà có đau, dường như cũng trễ…

Cái ý nghĩ đã muộn màng, trễ tràng, không còn kịp nữa như một cái rốn nước sâu hoáy, điên cuồng hút tôi vào, cảm thấy mọi nỗ lực của cha trở nên vô nghĩa, tôi nghĩ vậy. Tôi nghĩ đến sự trừng phạt, sự báo ứng bất chấp trời im ắng như đã nguôi quên chuyện cũ rồi. Bây giờ, đang vào mùa đẹp nhất trong năm.

8.

Bây giờ, gió chướng non xập xoè trên khắp cánh đồng Bất Tận (tên này tôi tự dưng nghĩ ra). Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa. Rất thính nhạy, (như kên kên ngửi được mùi xác chết), đám thợ gặt đánh hơi kéo đến, những người nuôi vịt chạy đồng lục tục ở đằng sau.

Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi. Và hình ảnh đó thật đến nỗi, tôi bất giác lùi lại vì một đứa đang nhìn trân trối vào mình, ngạo nghễ “Tao không thích học, chừng nào lớn, tao đi chăn vịt. Má tao (hoặc ba tao) dặn, phải đánh chết tụi chăn vịt kia”.

Tôi giễu cợt, không biết mày có kịp lớn không. Và nó nhăn nhở cười trước khi tan mất vào vũng đêm.

Tôi không mất nhiều thời gian để hiểu được cái cười ấy.

Đơn giản là ngay bây giờ, trên cánh đồng này, cũng đang lảng vảng những thằng Hận, chúng lớn hơn, cũng thất học, hung hãn. Bọn người này cướp vịt ở các bầy khác (trong đó có của chúng tôi) bằng cách lén phết sơn đen lên đầu những con vịt và phơ phởn đến nhận chúng là của mình, hiển nhiên mang đi. Bắt đầu xảy ra vài cuộc xô xát trên đồng, người ta đem hết những bản năng hoang dã của mình ra để giành lại miếng ăn.

Cha biểu tôi đứng ở đằng xa. Chờ đợi. Rốt cuộc, bầy vịt của chúng tôi vẫn mất ngót một nửa. Chúng tôi ra về. Cha tha thểu đằng trước với một thân xác nhừ bùn sau cuộc đánh nhau. Cố đi tụt lại phía sau, tôi giấu nỗi vui đang thổn thức, cồn cào. Sẽ không ra gì nếu một đứa gái tỏ ra mừng rỡ khi cha nó bị đánh tả tơi, nhưng rõ ràng là cha tôi đang thay đổi, đang sống lại những cảm xúc bình thường nhất. Tôi thích ông như thế này.

Sau này, tôi luôn hối tiếc là tại sao ngay lúc ấy không chạy đến và cùng sóng bước cùng ông, tại sao tôi không nhìn ông và mỉm cười. Để khi đám người kia đuổi kịp, tôi đã không còn cơ hội.

Ba người họ quây lấy tôi, quần áo vẫn đẫm bùn, mặt mũi sưng sỉa. Họ hơi ngỡ ngàng, khi nhìn thẳng vào tôi, một đứa gầy trạc thằng Điền lau dãi ròng rãi trên khoé miệng, thảng thốt, “con nhỏ đẹp quá, mày”.

Tôi coi đó là lời phán quyết cho mình. Giọng điệu của hắn giống như đang tấm tắc trước một món hàng ngon mắt.

Và món hàng bị ghì ngửa trên mặt ruộng bì bỏm nước. Tôi ngạc nhiên thấy bầu trời im sẫm. Mênh mông. Không biết đã tắt nắng hay mặt trời không vói được ánh sáng đến nơi này? Hay những khuôn mặt nghèo đói, dốt nát tăm tối đã che khuất nó? Ngoái nhìn về phía cha và thấy ông lầm lũi đằng xa, tôi mong ông đừng quay mặt lại. Sau đó thử chống cự một lần, rồi thôi, sự vùng vẫy chỉ kích thích lòng ham muốn. Tôi không muốn bị đè nghiến, bị vùi nghẽn trong bùn.

Bọn chúng hơi khó chịu trước một đứa con gái yếu ớt và câm lặng. Sự hưng phấn giảm đi ít nhiều, đến nỗi, chúng tỏ ra đờ đẫn, nghi hoặc khi bóc trần tôi ra. Tôi nhìn chúng, cười cợt, “Chúng mày có lột bỏ có trăm có ngàn, tầng tầng lớp lớp những vỏ bọc, cũng chẳng bao giờ thấu đến tận tao”. Ý nghĩ đó làm tôi bớt nhói cho nông nỗi này.

Vậy thì, cha ơi, quay lại làm gì, tôi than thầm khi nghe tiếng chân ông nôn nả, giận dữ lỏm thỏm trên mặt nước. Cha tôi gầm gừ nắm cổ một tên bật ngửa ra đằng sau như một người cố cất cái vó sông nặng nề, đẫm nước. Tôi khóc. Vì thấy ông đã kiệt sức, hoàn toàn. Và tôi buộc miệng thất thanh: “Điền! Điền ơi!” trước khi một tên ghí đầu ông dập xuống bùn.

Tiếng gọi ấy làm cha đau đến sững sờ, ông rướn ngước mặt về phía tôi, miệng há hốc. Tôi chực hiểu, ngay lập tức hối hận tràn đầy, trong ý thức cầu cứu, một bản năng đơn giản nhất, đứa con gái đã quên mất người cha.

Thằng Điền thì ở xa. Tôi biết rằng, không có cái gì làm cho cuộc chiếm đoạt này dừng lại. Ước gì cha có thể hiểu và chấp nhận điều đó. Ông liên tục vùng vẫy và chống trả. Một tên côn đồ bụm lấy mắt, vừa kêu rên vừa chửi bới ngậu xị. Không đánh trả, nó có cách trừng phạt khác, nó đè nghiến, giữ cho mặt ông hướng về phía tôi. Và bọn chúng thay phiên nhau, giữ cho cha chỉ một tư thế đó.

Mắt cha tôi ầng ậc nước, tôi không rõ là phèn hay máu nhoèn nhoẹt. Ước gì cha tôi hiểu, để mà thanh thản, xưa rày, cái gì không biết hai chị em cũng đã thử, đó là một cách tự học để sống. Chỉ có sự giao tiếp giữa thân xác là tôi chưa từng trải qua.

Nhưng lúc này, cảm giác thật đơn điệu. Đầu tiên là sự xé toạc, và từ rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giải thoát, chúng bò rân khắp thân thể, tôi thấy mình đang chết. Rồi ký ức ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi cái hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau nhói. Tôi tiếc mình không hiểu điều đó sớm hơn.

… Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ. Ai đó vãi từng chùm chim én lên cao, chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá. Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời. Dường như đứa con gái đang chết, chỉ đôi mắt là rưng rức chớp mở không thôi. Câu đầu tiên nó hỏi:

– Không biết con bị có con không, hả cha?

Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăng quăng đang vui sướng, ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường… Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn./.

Cánh đồng bất tận (phần 1)

Cánh đồng bất tận (phần 2)

Cánh đồng bất tận (phần 3)

Cánh đồng bất tận (phần 4)

Cánh đồng bất tận (phần 3)

Mùa khô năm tôi mười ba tuổi, bầy vịt lăn ra chết gió. Để kiếm sống, cha tôi quay lại với nghề thợ mộc. Cha nhận đóng giường, tủ cho một vài nhà trong xóm Bàu Sen, chúng tôi neo ghe lại đó dài ngày.

Nguyễn Ngọc Tư –

5.

Cái cảm giác đang ở xóm cũ (có ngôi nhà cũ) vây riết lấy chúng tôi (chữ “chúng tôi” tôi không kể cha vào). Những trưa xế ngồi ngoài hàng ba một nhà trong xóm, tôi tước lá dừa thắt cào cào châu chấu, Điền ngó nắng rưng rưng ngoài sân, nói “sao gió ở đây giống hệt gió nhà mình”. Hai đứa tôi muốn khóc.

Chị chủ nhà ngần ngại nói với cha, “Ngó mặt hai đứa con anh thấy thương quá, thấy… không bình thường”. Cha tôi cười nhẹ, “Vậy hả ? Ờ ờ…”.

Đứa con gái chị chủ nhà trạc tuổi thằng Điền, rủ chúng tôi vào nhà chơi. Nhưng nó luôn nhận được những cái lắc đầu. Chúng tôi sợ quá cái bồ lúa trong nhà, hình ảnh nó làm cả hai chị em ngạt thở. Thật lạ làm sao, khi mà chúng tôi đã quen dần với những – hình – ảnh – giống – mình (tức là bị bỏ giữa đời chơi vơi), thí dụ như nhìn một chiếc đũa gãy, cái nắp nồi vỡ, hay bầy gà con lạc mẹ nhao nhác… Nhưng không quên được, cái bồ lúa ngai ngái mùi cứt trâu, giữa nó và vách nhà là một khoảng hơi tối nhưng rất thu hút trẻ con. Chúng hay giả bộ đó là nhà của riêng chúng, để bày biện, nấu nướng, đóng vai chồng vợ, vai má con. Để lúc bị đòn, chúng cũng chui tọt vào đó, khóc một mình, nhiều khi ngủ quên luôn (và người lớn thì hãi hùng, sao không thấy đứa nhỏ đâu, nó bỏ đi về ngoại, nội? hay đã vô ý trợt chân té xuống đìa?). Cái kẹt bồ lúa, cũng đã từng là thiên đường mơ mộng của hai chị em tôi, bẻ trái trứng cá làm cơm, muổng dừa là chén, giả đò “ăn” no, giả đò tối rồi, đi ngủ, một bữa kia chơi chán lăn ra ngủ thiệt, thức dậy bỗng thấy cuộc đời mình thay đổi quá trời đất, như đã sống qua một kiếp rồi. Nhưng chín mười tuổi đã đủ để gọi là một kiếp người chưa?

Chúng tôi chẳng phải những đứa trẻ bình thường, cuối cùng nhỏ con chị chủ nhà cũng nhận ra, nó bỏ mặc. Nó là một đứa trẻ xinh đẹp nhưng hỗn hào, cáu kỉnh, nó chẳng khi nào kêu má ơi má à, khi cần, nó chỉ cộc lốc bảo, tui đói bụng quá bà ơi. Người mẹ phân bua với cha tôi, “Tại ba nó mê theo vợ bé nên không ai dạy…”.

Chị cũng bận rộn, te tái cắp nón đi suốt, tìm ông thầy này, bà cốt kia, để thỉnh bùa chú cho ông chồng quay lại. Và mỗi khi thất bại, chị lại quả quyết là bùa của tình địch mạnh hơn. Nói như vậy dường như để cho tâm bớt đau trước sự thay lòng. Chị có cả một kho tàng về chuyện đồng cốt, những người có khả năng thấu đáo cõi âm, cõi trời và cõi người. Họ biết chữa bệnh (có thể lấy từ bụng ta ra một nùi tóc với cái lưỡi dao cạo, hay dùng hột gà luộc lăn trên da thịt ta, sau đó bẻ cái trứng ra cho ta coi một nhúm lông… chó mực), cũng biết dùng những tấm bùa được vẽ bằng máu… lưỡi để ếm chết người và cuối cùng, họ đem được người ta yêu trở lại. Chỗ này khá mắc cười, bởi tấm bùa có linh nghiệm thiệt thì người quay về cũng không phải của – mình. Những săn sóc nâng niu, những lời nói ngọt ngào… tất cả đều không thật (mình biết tỏng tòng tong là nhờ bùa ngãi chớ thương yêu gì). Và cái cười dịu dàng kia, ánh mắt ấm áp kia, nụ hôn ngọt ngào kia, vòng tay nồng nàn kia… cũng vậy. Đó là chưa kể phải thoi thóp lo âu một ngày bùa thiêng hết tác dụng, thằng đàn ông rùng mình một cái, ngơ ngác hỏi ủa, sao hai đứa mình nằm chung giường vậy, xin lỗi nghen, chắc tại hồi hôm tui xỉn quá nên chui ẩu vô mùng bà. Rồi ông ta nhìn vẻ mặt đau đớn của mình, kinh hoàng: “Trời đất ơi, bộ tui đã làm gì bậy bạ sao ?”. Tất cả sẽ chấm dứt ở đó, ông nọ phủi sạch những ngày tháng mặn nồng. Với ký ức trống trơn, họ phơi phới ra đi, còn mình thì nhớ hoài, đau hoài…

Nhưng chẳng tin vào bùa thì còn biết làm gì nữa, chị cũng đã lặn lội tới nhà tình địch, đã xé quần áo của cô ta, xởn tóc, lôi xểnh ra biêu riếu giữa chợ rồi, chị kể. Bằng cái giọng rộn rã, giòn tan chỗ cao trào, rồi chị hết sức chậm rãi, tỉ mỉ, tả cái đoạn chị dùng dao rạch mặt cô ta và xát muối ớt vào (những người quê mình vẫn thường làm chuyện đó rất bình thường, sẽ buồn cười khi có ai đó nói làm vậy là vi phạm điều X chương Y luật hình sự, họ cãi ngay, “Ủa, nó cướp chồng tui thì tui phải đánh cho tởn chớ”, với vẻ mặt tự hào ngút ngất, tỉnh bơ, ngây thơ, tựa như một người đi qua trận địa cũ và nói với ông bạn mình, hồi năm bảy hai tui bắn thằng lính cộng hòa ở chỗ này, óc nó nát như chao, con mắt văng ra xa cả thước. Ông bạn chẳng ớn, nói tôi cũng cắt cổ thằng Mỹ ở đây chớ đâu)

Sau đận đó, chồng chị bỏ ngay cô nhân tình này và trớ trêu, anh ta chạy theo… cô khác. Ba mùa lúa rồi chị ra đồng một mình. Một mình nuôi con. Một mình nhìn gương, tự ve vuốt và yêu lấy mình…

Cái sàn lãn sau nhà đã ba năm vắng bóng đàn ông. Một chiều chúng tôi đến, xẻ mấy cây đố xong, cha ra đó tắm. Nước chảy re rắt trên khuôn mặt lạnh lùng, nước mỏng tang tràn qua những thớ thịt đỏ au của cha tôi. Chị chợt giật thót người, cài vội chiếc nút áo bung ra vì không chịu nỗi đôi vú căng tức.

Ngay lập tức, tôi có cảm giác câu chuyện về những lá bùa vẽ nhì nhằng chị giấu trong áo gối, ém dưới chiếu, hay kẹt giường… không còn ý nghĩa gì hết. Chị cũng sửng sốt khi nhận ra điều đó. Giường đã làm xong, đáng lẽ chúng tôi phải dời đi, nhưng chị chủ nhà muốn đóng thêm hai cái tủ nữa. Chị thuê hàng xóm xuống ao mò lên những thân gỗ đã ngâm lâu và chở tới xưởng cưa. Rõ ràng là chị không chuẩn bị trước, rõ ràng chị muốn giữ cả nhà chúng tôi lại.

Chúng tôi được đối xử rất tử tế, ngoài hai bữa cơm, buổi trưa, chị hay đãi thêm nồi chè, hay khoai luộc. Chị nồng nhiệt bảo chúng tôi lên nhà ngủ, nhà rộng rinh như vầy không cớ gì phải ngủ ghe. Cha tôi trù trừ nhưng rốt cuộc cũng gật đầu (với một thoáng giễu cợt), thật không nỡ chối từ một tấm lòng như thế.

Tôi và Điền ở lại ghe, tôi nói, ngủ ở đây gió mát quen rồi, với lại, tụi tui phải giữ đồ. Nói tới chỗ này tôi mắc cười muốn chết, chiếc ghe tơi tả, đáng giá gì đâu mà giữ. Có mấy ông thống kê gì đó làm chứng, mấy ổng đã ngao ngán như thế nào khi thấy chỗ ở ngang mét hai dài ba mét mốt cho ba nhân khẩu, điều tra thêm thì phương tiện nghe nhìn giải trí chỉ cái radio trị giá mười bốn ngàn, nguồn nước sinh hoạt từ sông, thu nhập ờ thì vài ba triệu một năm, tuỳ vào ông trời, như năm nay, thì trắng tay…

Và ngó lại cái khạp da bò nứt, trong rổ úp vài cái chén sành, một thùng giấy chứa quần áo cũ… thấy mình lấy cớ giữ đồ hơi vô căn cớ. Nhưng chị chủ nhà không để ý, chị đang ưng bụng, ngây ngất tràn trề trong mắt. Và cha tôi lên đó, một mình.

Tôi ôm quắp thằng Điền nghe những con sóng nhỏ lách tách vỗ vào mũi ghe, nói, Hai nhớ trường học quá à, cưng (Ôi cái trường xiêu dựng trên khu vườn chùa đầy cây thuốc, có ông thầy trẻ tuổi hay vò đầu tôi và xao xuyến hỏi, má khoẻ hôn con?). Thằng Điền hỏi lại, “Mắc gì mà nhớ? Lãng òm…”. Tôi không biết, tôi đã ngưng nhớ nó từ khi sống cuộc sống trên đồng, nhưng đêm nay, sao tôi lại nghĩ tới, cả chuyện kiếm tiền để chữa mắt cho Điền (tôi vẫn nghĩ, sự xuất hiện của nước mắt chỉ có ý nghĩa khi người ta khóc). Đêm nay, tôi sao thế này? Vì nhìn thấy niềm hy vọng ư?

Và tôi ngủ trong nỗi xốn xang.

Lúc thức dậy thì hy vọng cũng thức theo, sáng hôm đó, tôi thấy cha trút bỏ vẻ lầm lũi thường ngày, mắt ông hay rực lên, nói cười rất lạ, dường như cha bừng tỉnh nhận ra giá trị của mình, tìm thấy con đường sẽ đi. Những suy nghĩ cồn cào làm cho vẻ mặt cha lung linh như bầu trời nhiều mây và gió. Thoắt quang đãng thoắt âm u, thoắt khoái trá, thoắt đau đớn…

Chị chủ nhà cũng thất thường, đang tươi hơn hớn bỗng bần thần khi thấy cha đóng xong một cái tủ nữa rồi. Chiếc tủ chén này, cha mất năm ngày mới hoàn thành, nhưng không sớm hơn được, vì chị chủ nhà lúc thì bưng nước ra, lúc lại kêu nghỉ tay ăn bánh, anh thợ à. Nhiều lúc chơi ngoài hàng ba, nghe tiếng bào trượt trên ván ọt ẹt ngừng lại, buổi trưa im phắc. Và đống dăm bào bị dẫm tạo ra âm thanh lạo xạo lao xao lào xào. Chúng tôi biết chị đang ở ngay chỗ cha.

Không hiểu sao tôi lại nghĩ chị chủ nhà chính là hy vọng để chị em tôi trở về cuộc sống bình thường với một người – cha – bình – thường. Chúng tôi luôn tạo cơ hội, khoảng trống cho chị gần gũi với cha. Cực nhất là phải rủ rê lôi kéo nhỏ con chị chơi với chúng tôi, thằng Điền khó chịu, “đồ con nít…”. Tôi cười, “thôi, kệ nó…” mà lòng nghĩ, biết đâu mai mốt con nhỏ này với mình là một gia đình. Biết đâu đó là một mối tình dài.

Nên tôi thấy hơi lo khi cha sắp hoàn thành chiếc tủ áo cuối cùng. Buổi chiều, cha xin những mảnh cây ván vụn đắp vá lại mui ghe. Nghĩa là chúng tôi sẽ tiếp tục đi. Chị chủ nhà ủ ê, suốt buổi chị giằm đũa vào chén cơm nguội ngắt. Cha nhìn chị, cười nhẹ, rồi hỏi khẽ khàng:

– Cô đi với cha con tôi nghen?

Như chờ đợi chỉ có thế, chị gật đầu, mặt tở mở và rạng rỡ, gần như không suy nghĩ gì (Má tôi cũng đã từng chọn lựa nhanh như thế sao?). Tôi bất giác ứa nước mắt, rồi nhận thấy cha đang nhìn mình, tôi bệu bạo cười, “cắn trúng cái lưỡi đau quá trời”.

Chị chủ nhà bắt đầu sống với những giây phút bồn chồn, chị loay hoay, te tái tới lui. Chị kiếm lủ khủ giỏ xách, những muốn gói ghém thật nhiều đồ đạc nhưng nhận ra chiếc ghe chẳng chứa nổi, nên quăng phẹp một bên. Cuối cùng, chị đưa nhỏ con về chơi bên ngoại, và trong lòng chị em tôi bùi ngùi tiễn nó đi như đưa tiễn một cuộc đời. Mai nó vẫn sống, nhưng mà sống khác. Rồi chị quay lại, ra bực sông, ngồi đắm đuối nhìn ngôi nhà của chúng tôi, “những ngày sắp tới của mình ra làm sao, ta?”.

Dễ hình dung lắm. Như chỗ cái sạp xỉn màu tôi đang giặt vải lau đây sẽ là nơi chị sẽ ngủ, sáng ra chị vẫn không phải rời chỗ ấy, vì chỉ cần ngồi dậy, day mặt ra phía sau là đụng bếp, là có thể nhen lên một lọn khói buồn teo. Mấy đêm đầu có lẽ không quen, vì phải nằm chèo queo, ghe thì chao sóng. Mấy đêm đầu chắc chị hơi ngại ngùng, mắc cỡ vì ở ghe không có vách ngăn, vì thế chị em tôi sẽ cố ngủ thật say, ngáy thật to để át những tiếng thở hổn hển, dìu dặt. Chị cũng sẽ mất khá lâu để thích hợp với nhiều hình ảnh mang tính ước lệ, thí dụ như mấy bụi hành ngò trồng trên cái xô bể (thay vì khu vườn cây cỏ hoa trái mênh mông), hay cái lò cà ràng nhỏ (thay vì cả một gian bếp ấm sực mùi củi lửa)… Và nghe cha tôi than, tôi chán cái nhà này quá rồi, thì cũng nên hiểu là không có cái nhà nào cả. Nhà chúng tôi là cái này, là cánh đồng nào đó, con sông nào đó… Riêng chúng tôi thì không cần chị phải yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ gì hết. Chúng tôi không hy vọng điều đó (đến con chị còn không hy vọng gì mà). Ngay lúc này đây, cứ nghĩ, một bữa trưa mai trưa mốt nào đó, có nắng hiu hiu và gió hiu hiu, vì muốn chứng minh tấm lòng của mình với cha, muốn tỏ thái độ hoà hợp với hai đứa trẻ lạ lùng này, chị bắt thằng Điền lại, xối nước kỳ cọ những mảng đất đã dính khắn trên làn da mốc meo của nó, miệng cắm cẳn, cằn nhằn hay biểu tôi ngồi để chị thắt bím tóc cho, chắc tôi thấy khó chịu vì xa lạ và buồn cười.

Nhưng tiếc rằng không có ngày mai, mốt đó. Chị bị cha tôi bỏ lại, khi vừa đi được một đoạn đường. Một đoạn đường đầy khó khăn. Chị buộc mình tin rằng sự chọn lựa này là đúng, tình yêu này xứng đáng được đánh đổi. Xóm làng, ngôi nhà, vườn tược trôi tuột lại phía sau. Và đứa con gái… Rất cố gắng, chị mới thôi thảng thốt. Cha ghé một chợ nhỏ đầu xóm kinh, biểu chị lên mua một ít củ cải muối đem theo. Người vừa khuất trong tiệm tạp hóa, cha cười. Chị em chúng tôi mãi mãi không quên cái cười đó, nó vừa dữ dội, đau đớn, hoang dã, cay đắng, nghiệt ngã. Cái cười thật dài, riết lấy khuôn mặt cha, làm mắt cha hơi lồi ra, ánh lên như có nước. Cha quăng đồ đạc của chị lên bờ vung vãi. Và nổ máy cho ghe đi.

Có ai chờ chúng tôi, trên những cánh đồng khơi?

6.

Trời đất ủ dột nhìn mưa vào mùa. Thằng Điền kiếm được mấy cây ô môi nhỏ, nó rủ tôi trồng. Chúng tôi dầm mưa, lấy mũi dao đào thành mấy lổ con con, rồi đắp đất ém gốc lại. Cái cảm giác mà cha tôi đã từ bỏ là yêu thương, che chở cho một sinh linh (yếu ớt, nhỏ bé) nào đó thật ngọt ngào. Điền biểu tôi chặt sậy cắm quanh, sợ mấy con vịt ăn trụi lá, với lại, bờ đất này rất nhiều người qua lại, không khéo là bị dẫm bẹp. Hai đứa ngồi nhìn công trình của mình, bỗng buồn, không biết mai này còn có dịp quay lại coi tụi cây này lớn lên, để trèo lên hái trái, để giăng cái võng, ngủ một giấc đã đời.

Chị em chúng tôi nảy ra nỗi thèm muốn, khao khát được trồng cây từ khi rời Bàu Sen, vì biết chẳng bao giờ quay lại sống – bình – thường. Dường như chúng tôi nhớ, nhớ cồn cào. Nỗi nhớ bao gồm được chạy chơi trên cái vuông sân mọc đầy vú sữa đất, được tự mình trồng cây gì đó, có trái, và trái ăn được, ăn rất ngon. Nhưng cái mơ ước nhỏ nhoi là nhìn nó lớn lên cũng mong manh, khi mà đến chưa nóng chỗ đã phải dời đi nơi khác. May là lần này chúng tôi ở Cỏ Úa khá lâu, chăm chút bầy vịt (mới gầy lại) “trơn lông bụng”. Thằng Điền một bữa ra coi cây bén rễ, nó bỗng chép miệng, “Ước gì đây là đất – của – mình…”.

Tôi cười, điều đó thật xa xôi. Có lần, đi qua xóm, trong một buổi chiều, chúng tôi gặp những ông già ngồi chơi với cháu, thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo, “Phải chi ông này là ông nội mình, thương đỡ chơi, hen Hai?”. Nghe câu đó tôi bỗng thấy mình nghèo rơi nghèo rớt, nghèo đến nỗi không có… ông nội để thương, thèm muốn bên đường. Tôi lắc đầu, bảo thôi, thí dụ như mình lỡ mến người ta, mai mốt dời đi, buồn dữ lắm. Mà, đã ngấm, đã xé lòng toang hoang với nỗi đau chia cắt rồi, chưa sợ sao?

Sống đời mục đồng, chúng tôi buộc mình đừng yêu thương, quyến luyến bất cứ ai, để khỏi ngậm ngùi, để lòng dửng dưng khi cuốn lều, nhổ sào đi sang cánh đồng khác, dòng kinh khác. Chúng tôi vô định hơn bất cứ người nuôi vịt chạy đồng nào. Vì những cuộc tình của cha tôi, ngày càng ngắn ngủi.

Cha tôi đã có – vẻ – bình – thường, hay nói cười, hồ hởi trong những lúc có người (chữ “người” này không tính hai chị em tôi). Nhiều lúc tôi không giấu được thảng thốt, cứ nghĩ mình đã gặp lại cha – của – ngày – xưa. Nhiều lúc tôi ngồi trông người trong xóm đi thăm lúa ghé qua chòi, lúc ấy, cha sẽ kêu, “Nương à, nướng mấy con cá khô, cha lai rai với mấy bác…”. Em tôi cũng sướng ran xách chai ra tiệm mua rượu, nó khoái chí nghe cha gọi, “Điền ơi! Điền…”. Vui được chút đó thôi, khi khuất bóng người, chị em tôi đắng đót nhìn cha hao hao người đóng tuồng vừa trút lớp. Xanh xao, lạnh lẽo đến ngơ ngác và cô đơn.

Không, lúc chỉ một mình, cha tôi đáng sợ hơn thế. Cha giống như con thú trở về tổ sau khi no mồi. Con thú nằm mơ màng nhấm nháp lại hương vị của miếng mồi, và ngẫm ngợi thòm thèm con mồi kế tiếp. Có lúc sự vật lộn làm vết thương cũ của con thú đau, nó liếm láp vết máu, và tôi hãi hùng nhận ra chỗ đau ấy cứ rộng thêm ra. Đôi khi tôi nhớ người đàn bà ở Bàu Sen, nhớ bóng người xấp xãi, ngơ ngác chạy theo chiếc ghe sáng ấy. Chắc chị đã quay lại, đón đứa con gái về, móc quần áo trở vô tủ. Có hề gì, rồi chị sẽ yêu một người khác, nhưng mãi mãi, chị không quên nỗi ê chề bị bỏ lại bên đường (bằng chứng là ba cha con chúng tôi có quên được đâu). Với những đàn bà sau này, cha tôi tính toán rất vừa vặn, sao cho vừa đủ yêu, vừa đủ đau, vừa đủ bẽ bàng, và bỏ rơi họ đúng lúc. Có người vừa bán xong cái quán nhỏ của mình. Có người vừa nói xong những lời dứt tình với chồng, con. Có người vừa phũ phàng chia xong gia sản, có cô gái sắp về nhà chồng, củi to củi nhỏ chất thành giàn ngoài chái… Hết thảy đều cun cút tin và yêu. Cha mang họ đi một quãng đường vừa đủ để người ở lại nhìn rõ chân dung của sự phản bội, sau đó người đàn bà bị hắt lên bờ. Con đường quay về bị bịt kín.

Cha không tốn nhiều công sức cho việc chinh phục (Những người đàn ông quê mùa đã tự tay đẩy người đàn bà của mình đến với cha, bằng nhiều cách. Họ thích uống say, họ thích dùng tay chân để tỏ rõ uy quyền. Mệt nhọc làm lụng trên đồng, người đàn ông đã trở nên khô cằn, có khi cả đời, họ không nói với phụ nữ một câu yêu thương tử tế. Họ không biết vuốt ve, âu yếm, khi cần, họ lật cạch người phụ nữ ra và thoả mãn, rồi quay lưng ngủ khò). Sẽ còn bao nhiêu người nữa được cha tôi cho nếm thử niềm đau kia, tôi tự hỏi mình khi nhìn người đàn ông vào tuổi bốn mươi, quyến rũ từ cái cười, từ câu nói, ánh nhìn thăm thẳm, ngọt ngào. Trời ơi, trừ chị em tôi, không ai thấy được đằng sau khuôn mặt chữ điền ngời ngợi đó là một hố sâu đen thẳm, bến bờ mờ mịt, chơi vơi, dễ hụt chân.

Nên mỗi lần cha nhìn đăm đắm và mỉm cười với một người đàn bà mới chúng tôi lại thắt thẻo. Thêm mối tình đau trước cả ngày thứ nhất (mà chị em tôi không cách nào ngăn được). Tôi có cảm giác cha quắp lấy người ấy, vùi mặt vào da vào thịt, ngấu ngiến mà lòng cha lạnh ngắt. Thằng Điền cay đắng, “Cha làm chuyện đó thì cũng giống như mấy con vịt đạp mái…”. Tôi nạt, “Đừng nói bậy…”.

Nhưng tận đáy lòng, tôi cũng nghĩ, cha hơi khác con – người. Nhạt nhẽo hơn cả việc quan hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha tôi không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm.

Cha đẩy chúng tôi trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên. Mỗi lần rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay chạy trốn. Chúng tôi đánh mất cái quyền được đưa tiễn, được xao xuyến nhìn những cái vẫy tay, được nhận vài món quà quê như buồng chuối và hương hay bó rau ngót cắt trong vườn, cùng lời dặn dò quyến luyến, “Đi mạnh giỏi nghen…”.

Chị em tôi hết sức cố gắng để sự giận dữ, chán chường của mình không bùng cháy. Chúng tôi cho vịt ăn thật xa trên đồng, vạ vật ở đó từ sáng tới chiều. Gió hoang liêu trên đồng không làm lòng hai đứa nguội lại. May ra, gió chỉ thổi khô nước mắt lúc nào cũng ri rỉ trên mặt em tôi.

Tôi không còn muốn chữa mắt cho Điền. Bởi Điền khóc suốt (giống hệt tôi), dù vẻ mặt nó rất bình thản (tôi cũng vậy, khác là nước mắt tôi khô rốc trong lòng). Hai đứa tôi đều kỳ dị, đến mức nhiều khi tự giật mình.

Có lần, hai chúng tôi ngồi trên một bờ đất, xung quanh đấy những người thợ gặt đang ăn cơm. Nắng giữa trưa nóng rát. Tôi nói, chỗ khác có nắng dữ dằn vầy không ha. Thằng Điền nói, mùi cá kho quẹt thơm dễ sợ. Ừ, tôi gật đầu, nhưng cái mùi nghèo quá. Vậy mùi gì giàu, thằng Điền hỏi vặn lại. Tôi cười, thịt kho tàu. Rõ ràng hai đứa tôi có cãi qua cãi lại, vậy mà sau đó một người thợ gặt tỏ vẻ ngạc nhiên, “Hai đứa bây ngồi chù ụ cả buổi trời, không nói câu nào, vậy mà cũng chịu nổi sao?”

Thằng Điền cười, “Ủa, tụi mình hỏng nói tiếng – người!?”. Tôi nhận ra nó không hề máy môi, tôi đọc được những ý nghĩ trong Điền. Ở đó, đang có bão tơi bời, gió quất điên cuồng vào trái tim nhỏ chi chít vết đau. Thằng Điền nổi loạn.

Dấu hiệu bắt đầu từ một bữa trong xóm đê, tình cờ ngó đôi chó nhảy nhau, thấy các chị đang phơi lúa kêu ó ré lên, tôi rủ Điền giả đò nhắm mắt (trò này cực kỳ trẻ con, vì ai cũng mường tượng mồn một tư thế động tình của hai con chó). Thằng Điền phì cười, nó kêu lớn, “Hai, coi nè…” rồi cầm đoạn cây xông đến quất đôi chó tới tấp. Hai con chó kêu la thống thiết, hoảng loạn, xà quần trong đám bụi đất. Đau đớn cùng cực, chúng rúc vào chân đống rơm, nhưng không chịu rời nhau. Con đực phục đầu sát đất, rên rỉ, nước dãi chảy ròng. Không chạy hả. Bốp. Không chạy nè. Bốp. Thằng Điền gào lên. Cây trúc giập nát. Tôi giữ tay Điền lại bảo, “Ác với tụi nó chi vậy, cưng”, thấy nước mắt bê bết trên mặt em tôi.

Ngay từ lúc ấy, tôi đã muốn chạy về và nói với cha “Thằng Điền bị sao rồi, cha ơi…”. Tôi sợ, hoảng loạn khi phải chứng kiến một mình.

Thằng Điền biết là tôi đã nhìn – thấy – cái – gì – đó, nó chua chát cúi đầu. Điền chối bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ. Nó tự kìm hãm bản năng trổi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng sự tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù. Nó phản kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm. Giãy dụa đến rã rời, nhiều bữa, nó dầm mình dưới ao đến khi người tái nhợt. Nó chạy như điên trong đêm, trên những bờ ruộng mướt cỏ đến khi mỏi nhừ, gục xuống. Rồi nằm xoãi trên đồng, tả tơi.

Không phải vậy, không phải vậy Điền ơi, tôi muốn kêu lên, tiếc là sự thất học khiến tôi không diễn đạt được bằng lời. Tôi không chắc lắm, nhưng dục tình và xác thịt không xấu xa, không đáng bị khinh bỉ, không phải là nguyên nhân đẩy chị em tôi đến cuộc sống này với những đổ vỡ này…

Điền mười sáu tuổi, nó có thể mãn nguyện nằm bên tôi, dái tai để mặc tôi mân mê. Điền đã lạnh ngắt. Nó dửng dưng nhìn những đứa con gái làm cỏ lúa, quần xoắn cao, đùi non mởn. Đôi lúc bắt gặp những đôi người quấn nhau giữa các chòi ruộng hay lùm cây, nó khinh khỉnh cười khào. Nó điềm nhiên nói cái giọng hơi run rẩy nhưng rất mỏng và dịu dàng, “Hai, thôi đi. Em đâu có sao, buồn làm chi…”.

Tôi cười, nói ờ. Nhưng muốn nghỉ buồn cũng không đơn giản. Phải rất lâu, tôi mới nhìn Điền một cách bình thường, tôi cố quên chuyện của nó, tưởng tượng bây giờ nó mới chín mười tuổi gì đó (cái hồi hai đứa như cây kiểng còi, thẳng đuột như nhau, thằng Điền hay bắt chước đái ngồi).

Và tôi chợt nghĩ, sự bất thường của Điền, chẳng qua nằm trong chuỗi rất dài của sự trừng phạt. Điều đó lý giải cho việc thiên nhiên ngày càng trở nên hung dữ hơn, khắc nghiệt hơn. Bằng những sấm chớp, gầm gừ, dường như trời đất đã nín nhịn nhiều, cuồng nộ bắt đầu rồi đây. Có lần, tôi lấy cao su gói lại mớ mùng chiếu, nhìn mưa thè cái lưỡi ướt nhão nhớt vào lều, khoái trá nếm từng tấc đất, tôi tự hỏi, không biết chỗ khác (chỗ không có chúng tôi) có mưa nhiều như vầy không. Ý nghĩ đó xuất hiện triền miên trong đầu tôi, rằng trời chỉ trút mưa, trút nắng ở nơi chúng tôi dừng chân lại. Nỗi bẽ bàng của những người đàn bà bị cha tôi bỏ rơi (và cộng thêm niềm đau vỡ của những người quây quanh họ) đã thấu qua những tầng mây.

Và dường như cách giao tiếp ngấm ngầm của tôi và Điền cũng trong chuỗi bất thường, nó làm cho mối quan hệ với cha thêm rời rạc. Những bữa ăn nối tiếp nhau trong im lặng. Lúc và cơm, tôi hay bị ảo giác, tưởng mình đang ngồi trên cánh đồng của chín năm trước. Một cánh đồng miên viễn với gió lắt lay những khói nắng héo xèo, một nhúm mây rất mỏng và rời rạc bay tha thểu trên cao. Đường chân trời mờ mờ xa ngái. Một vài gò mả loang lổ dưới chòm trâm bầu. Tiếng chim kêu nhỏ từng giọt thiu thỉu. Mùi rạ mới quyện với bùn tanh tanh. Bầy vịt rúc đầu vào nách, ngủ ơ hờ dưới bóng cây tra treo từng chùm bông vàng tuyệt vọng lay như những chiếc chuông câm. Cảnh không đổi, người cũng không, cứ ngồi ngoáy mãi vết thương cũ, nhỏ nước mắt.

Giống như mấy cái mả ngồi, thằng Điền nhận xét. Vừa may, một bữa trưa nắng rập rờn trên nách rạ, chúng tôi cảm nhận được những tiếng nói lao xao. Thằng Điền thảng thốt, “Tụi mình ba trợn thiệt sao, Hai ?” khi nhận ra đó là tiếng của… vịt. Tôi cười, hớn hở. Thế giới của vịt mở ra. Không ghen tuông, hờn giận, chắc tại cái đầu vịt nhỏ quá nên chỉ đủ cho yêu thương. Tôi thôi thắc mắc vì sao cả bầy trăm con chỉ cần mười, mười lăm con vịt trống.

Đắm đuối với loại ngôn ngữ mới, chúng tôi chấp nhận để cho người ta nhìn mình như những kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi – người). Chị em tôi học cách yêu thương đàn vịt (hy vọng sẽ không bị đau như yêu thương một – con – người nào đó). Nhưng nhiều khi nhìn thằng Điền dõng tai coi mấy con vịt nói cái gì, tôi giật mình, nuốt một họng đắng, tự hỏi đã đến nỗi này sao, đến nỗi chơi với người thấy buồn, nên chuyển qua chơi cùng vịt. Đêm nào cũng vậy, cũng rón rén, từ tốn, hai chị em thắp một ngọn đèn giữa chuồng, để lúc bọn tôi ra, chúng nhìn, biết không phải người lạ, không xao động. Vừa nhỏ nhẻ lấy trứng, tôi vừa hát một bài hát bâng quơ, đôi chỗ vì hạ giọng thấp mà hụt hơi. Bầy vịt nhạy cảm khủng khiếp, sau này, tôi cố sửa lại những chỗ hụt hơi ấy, chúng nhận ra ngay, và nhìn tôi với vẻ ngờ vực, “Ủa, phải con – người hôm trước không ta ?”. Một con vịt đui khịt mũi, cười, “Nó chớ ai, giọng có khác, nhưng rõ ràng là tiếng trái tim nó. Quen lắm. Chập chờn, thút thít, đòng đưa như sắp rụng… “”. ” Có nổ hôn đó, cha nội?” “Sao không, mấy người thử đui đi rồi biết”. Bất giác, tôi nhắm mắt để nghe lại tiếng tim mình.

Nhưng sự trừng phạt tính toán cũng vừa vặn, vừa đủ vui, vừa đủ thương, quấn quýt, nó lại đứng sau lưng và cười nhạo chúng tôi.

Gió chướng trở ngọn, trên những cánh đồng ủ ê tin buồn. Chúng tôi nghe được một cụm từ lạ, dịch cúm gia cầm. Những người nuôi vịt chạy đồng cười khào, “Chậc, mấy con vịt chết gió, mấy ông nhà nước nói cho quá…”. Hôm chính quyền thông báo tiêu huỷ tất cả các bầy đàn, họ xửng vửng kêu lên, “Trời trời, bộ hết chuyện giỡn sao, mấy cha?”

Chẳng ai giỡn cả. Người ta dùng ý tưởng của Tào Tháo thời Tam Quốc, “thà giết lầm còn hơn tha lầm”, dồn tất cả vịt trên cánh đồng lại và đào hố chôn. Thằng Điền mếu máo:

– Mấy ông ơi, vịt tui sân sẩn, có bệnh tật gì đâu…

Một người càu cạu:

– Sao cậu biết?

– Rõ ràng tụi vịt nói với tui.

Mọi người cười ha ha, bữa nay vui quá chừng. Họ bắt đầu trùm kín mình bằng những bộ đồ đi mưa. Họ rải vôi trên những hố chôn lớn bằng mấy khẩu đìa cộng lại. Họ tọng những con vịt còn sống, còn giãy dụa, còn gào thét vào bao tải, buộc miệng và quăng xuống đó.

Đám nuôi vịt chạy đồng tụm lại ở một chỗ, cúi mặt vào lưng nhau. Họ xót của, tiếc tiền, họ cảm nhận được sự kiệt quệ, đói nghèo đang vây bủa. Lần rủi ro này (của cái nghề lắm rủi ro) thật khốc liệt.

Cha tôi ngồi riêng biệt ở một bờ đất và đốt thuốc ngó trời, điệu bộ hơi dửng dưng. Với nỗi đau sâu hoắm sẵn trong lòng, thì những biến cố khác chẳng qua như một vết xước nhỏ ngoài da, nhằm nhò gì.

Hình ảnh đó, nét mặt đó làm cho tôi tuyệt vọng. Mà, lúc đó, tôi đang chết điếng, sao tôi lại nhìn về phía cha? Vì tôi muốn cầu cứu (như những đứa trẻ con gặp chuyện giật mình, hay buột miệng gọi má ơi hoặc cha ơi!)? Vì tôi thấy mình không thể chịu đựng được tiếng gào khóc thê thiết của những con vịt bị vùi sâu dưới lòng đất?

Mất nửa ngày những cái hố mới được lấp đất đầy. Xuyên qua những lớp đất bầy nhầy, tôi nghe vịt – của – tôi vẫn còn thoi thóp, chúng đau đớn vì những cái cổ gãy, rối quặt quẹo, chúng hỏi nhau vì sao tụi – người – ta lại ác. Rồi thinh lặng. Trong cái im ắng đến rợn người, tôi nhận ra tiếng của con vịt mù, có lẽ vì không sợ tối, nên sự sống kéo dài.

Rồi ánh sáng nhập nhoạng cuối ngày loang lổ đổ xuống, tôi và Điền khóc hức, cảm nhận được cái thở hướt ngắn dần, ngắn dần của con vịt sau cùng. Và nín bặt. Và tan hết. Chỉ còn gió cười từng tràng dài… Tôi tiếc thôi là tiếc sinh linh nhỏ bé đã thấu được tim mình.

Sáng sau, người ta tìm được một người chăn vịt nằm sát mép hố, mắt chong chong ngó trời không chớp, miệng sủi ra thứ bọt, trong vắt như bọt cua nhưng hôi nồng nặc. Chai thuốc trừ sâu lăn lóc cạnh đó đã cạn tới giọt cuối cùng. Sống thì khó chứ chết sao mà dễ.

Tôi đứng nhìn, tiếc rẻ, ủa, cái người nằm sóng xoài kia, sao không phải là chúng tôi?

Sự báo ứng dường như đang ở rất gần.

Cánh đồng bất tận (phần 1)

Cánh đồng bất tận (phần 2)

Cánh đồng bất tận (phần 3)

Cánh đồng bất tận (phần 4)

Cánh đồng bất tận (phần 2)

Những chiều ghe chúng tôi đi ngang qua những người đàn bà ngồi giặt giũ dưới bến sông, tôi hay hỏi lòng, có phải tôi vừa ngang qua má đó không. Tôi cố giữ trong lòng hình ảnh má nhưng rồi ngày càng tuyệt vọng khi thấy nó nhạt nhòa dần, cứ nghĩ mai này gặp lại mà không nhận ra nhau, lòng nghe buồn thiệt buồn.

Nguyễn Ngọc Tư –

3.

Má tôi hay mang xoong chảo ra bực sông chùi lọ nghẹ, sẵn đón ghe hàna (bông) mua ít rau cải tươi và bán lại những quày chuối chín bói trong vườn. Dần dần, buổi chiều, đám thương hồ hay lại neo ghe chỗ mấy cây mấm trước nhà. Một người bảo không sao xa được người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả khúc sông. Má tôi nguýt dài:

– Dóc…

Người đàn ông cười hề hề, thề “Tôi nói láo cô Hai cho xe đụng chết ngắc” (Ngay lập tức, Điền thì thầm, “thằng chả ở dưới ghe kiếm đâu ra chiếc xe, nói dóc…”, và bằng cái vẻ ác cảm lạ lùng, thằng Điền biểu tôi nhìn khuôn mặt và tấm lưng trần chi chít những nốt ruồi của ông ta, bảo “Tại hồi đó má ổng mới sanh ổng ra quên lấy lồng bàn đậy, nên ruồi bu tùm lum”).

Cho dù người đàn ông ấy có quá nhiều nốt ruồi, cho dù chẳng cao ráo, đầu ít tóc… nhưng với chiếc ghe chở đầy vải vóc, những người đàn bà lam lũ quê tôi vẫn thường trông ngóng ông ta. Tất cả họ đều trở thành trẻ thơ khi bước chân lên ghe, họ tíu tít, háo hức, họ thèm muốn đến bồn chồn rồi dùng dằng trở lên bờ với tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi, thấy mình già khi ngang qua bồ lúa vừa hót bớt một lỏm, thằng cha bán vải lấy mấy giạ mà như khứa một ít tuổi xuân đi.

Bồ lúa nhà tôi đã cạn từ sau Tết. Điều đó làm má tôi hơi buồn, nhưng người bán vải xăng xái bảo, “Cô Hai cứ coi đi, không mua cũng được – rồi ông ta sửng sốt khi thấy má rạo rực khi ướm thử những khúc vải rực rỡ lên người – Chèn ơi, coi nó bình thường vậy mà khoác lên mình cô Hai lại thấy sang quá trời”. Má bỗng nhiên bồn chồn:

– Dóc…

Tôi chưa bao giờ thấy cái màu đỏ lạ lùng ấy. Đỏ hơn bông bụp ngoài sân, đỏ hơn máu. Má ngó chúng tôi, hỏi: “Gì mà nhìn trân trân vậy hai đứa?”. Tôi nói, “Má lạ quá hà, nhìn không ra”. Má mừng quýnh, “Thiệt hả?”. Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ với nhau mà sao lại mừng?

Một bữa tôi chiêm bao, chẳng đầu chẳng cuối gì, chỉ thấy vía má giãy dụa trong tấm vải đỏ lạ lùng kia nhưng nó thít chặt, riết lấy, siết dần cho tới khi má thành một con bướm nhỏ, chấp chới bay về phía mặt trời. Giật mình thức dậy mới hay mình ngủ quên trong kẹt bồ lúa, con chó Phèn ngoài hè nôn nóng cào đất rột rẹt chỗ cái lổ chui (Chắc má tưởng hai chị em tôi đi chơi nên chốt cửa trước cửa sau mất rồi). Mà Điền ngồi ém ngay đó, lì ra, không cục cựa, mình nó mướt mồ hôi, không có vẻ gì là nó đang khóc, nhưng nước mắt chảy ròng ròng. Tôi ôm đầu nó, giấu ánh nhìn của nó vào ngực mình.

Đứa mười tuổi quay lưng lại, đứa chín tuổi úp mặt vô áo chị nó, nhưng cả hai vẫn như thấy rõ ràng, trên chiếc giường tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi. Họ cấu víu. Vật vã. Rên xiết.

Đó là hình ảnh ấn tượng cuối cùng của má tôi trên nền một cái nhà nhỏ, đằng trước có bộ bàn chữ U, bộ vạc tre, rồi đến một cái bồ lúa nhỏ dựng gần giường ngủ, và gian bếp thấp. Quanh hè, dài theo những lối đi ra vườn, ra bến là những cục đá tảng, những thân dừa chẻ hai, cha tôi đã hì hục lót để suốt một mùa mưa, chân má tôi không bị dính sình bùn.

Suốt nhiều năm sau đó, tôi không dám nhớ má, bởi ngay vừa khi nghĩ đến má, ngay lập tức hình ảnh ấy hiện ra. Theo đó là rực rỡ trên da thịt màu vải má tôi vừa đổi được (không phải bằng tiền, hay lúa). Mà, đáng lẽ phải nhớ tới khúc má nằm võng hát đưa mình ngủ ấy, hay đoạn má ngồi giặt áo bên hè, hay má cúi đầu giữa vầng khói mơ màng, thổi lửa bếp ung…

Má có rất nhiều hình ảnh đẹp, và cả khuôn mặt lo lắng của má khi chiều ấy vẫn còn đẹp, nhìn thấy nước mắt không ngừng tuôn rơi trên mặt thằng Điền, má thảng thốt hỏi : “Mèn ơi, mắt con sao vậy?. Tôi trả lời, day day chậm rãi, “Chắc tại nó nhìn thấy chuyện bậy đó, má. Trưa nay nó ngủ kẹt bồ lúa”. Má chết lặng nhìn tôi, cái nhìn như lịm đi trên khuôn mặt đẹp não nề. Không thể giải thích vì sao tôi lại hể hả.

Và tôi luôn nghĩ rằng chính vì câu nói đó mà má tôi ra đi.

Tôi chạy qua nhà hàng xóm, nói với thím Tư rằng má đi mất tiêu rồi. Cả xóm tưng bừng, kẻ mừng vì vợ mình chưa bỏ theo trai, người vui vì con đàn bà đẹp nhất xóm đã đi rồi, khỏi lo ông chồng suốt ngày thòm thèm dòm ngó, cũng có người buồn, ghe vải chắc chẳng quay lại xóm này. Mọi người bàn ra tán vào, xôn xao, bắt tôi nhớ lại coi trước lúc đi má tôi có hành động gì đặc biệt mang tính dự báo không? Chuyện này quan trọng lắm, nó cho người ta tự kiểm tra trình độ trải nghiệm, suy đoán. Thí dụ như nhà nào có người mới mất họ kêu lên, hèn chi đêm trước có nghe chim cú kêu, thê thiết lắm. Thí dụ như nhà nào bị mất trộm, họ bảo nhau, hồi hôm tui nghe tiếng chó sủa thiệt kỳ, là tui nghi rồi… Nhưng chuyện ra đi của má tôi không mấy ly kỳ…

– Hồi chiều má con không nấu cơm…

– Vậy sao?

– Má con nằm trên giường thở dài…

– Vậy hả ? Thở ra làm sao?

Tôi hết biết tả. Tiếng thở thườn thượt, nghe buồn mênh mông, chảy từng giọt như nước mắt. Má tôi thở dài khi ghe cha ghé bến vì biết mai mốt cha lại đi. Má tôi thở dài khi tắm, khi nước trôi dài trên làn da trắng như bông bưởi. Lúc ngồi vá những bộ quần áo cũ. Mỗi lần ghe vải ghé trước bến, má cũng thở dài, tay bối rối nắn vào hai túi áo mỏng kẹp lép. Thở dài cả khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo, má ơi.

Mọi người không thất vọng, họ cho thời gian lùi lại xa xa, thì ra cũng đã có điềm báo trước mối nhân duyên này tan rã, ngay cái bữa đầu tiên, ngay lần gặp đầu tiên. Má tôi ngồi khóc bên bực con sông Dài, cha tôi chèo ghe đi ngang, đã qua khỏi một quãng nhưng vì mủi lòng, cha quay mũi lại. Cha hỏi, cô về đâu tôi cho quá giang. Má tôi ngước lên, mặt ràn rụa nước, “tôi cũng không biết về đâu”. Cha tôi chở người con gái tội nghiệp này về nhà, và trong thời gian suy nghĩ tính coi mình đi đâu, má yêu cha mất rồi, sau đấy thì đẻ hai chị em tôi. Rõ ràng, quá rõ ràng, thấy chưa, má tôi chỉ quá giang một khúc đời rồi đi, ai cũng linh tính vậy, chỉ cha tôi là không, nên bây giờ mới khóc hận, cười đau.

Tới đây thì hết chuyện nói, hàng xóm ra về. Giống hệt như vừa tan đêm hát, họ xì xào đi vào trong đêm, tiếng chó sủa rộ lên dài theo những con đường xóm. Tôi và Điền nằm nhìn trân tráo lên nóc mùng, nghe gió hui hút trên những ngọn tre già bên hè. Một hồi, thím Tư qua, thím kêu hai chị em tôi qua nhà thím ngủ.

Sáng sau, thím đi chợ, tới bến tàu, cho hay “Vợ Út Vũ bỏ nhà. Theo trai”. Ông chủ chiếc đò chạy tuyến Hưng Khánh nói lại với mấy bà bạn hàng, và chiều lại cha tôi mới nhận được lời nhắn ấy khi đang lên đòn dong cho một ngôi nhà gần chợ Hội. Nghe nói cha tôi còn cười, giọng ra vẻ giận, “Bộ hết chuyện giỡn rồi sao, cha nội?”. Có vẻ khó tin, khi một người nghĩ rằng, chỉ cần mình hết lòng yêu thương, gánh hết sự kiếm sống nhọc nhằn thì sẽ được đền đáp xứng đáng. Có vẻ buồn cười… Và cha tuột xuống đất, run rẩy…

Quãng hành trình về nhà có vẻ rất dài và khắc nghiệt, nó vắt kiệt cha tôi. Cha cười cay đắng, khi thấy quần áo má còn treo trong nhà, còn cả cái khăn tắm và đôi dép Lào cũ, như thể má đang chơi bên xóm, chỉ cần thằng Điền kêu má sẽ xấp xãi chạy về, mừng húm hỏi “Đi chuyến này nữa là đủ tiền mua ti vi màu, phải hôn anh?”.

Coi kỹ thì má không đem theo gì. Chi tiết đó làm đau lòng người ở lại, nó cho thấy người đi đã chẳng suy nghĩ, đắn đo, đã không một chút trù trừ, chỉ rũ mình cái rột, sạch trơn, vậy thôi.

Cha đem tất cả đồ đạc của má đem đốt. Khói bay mù mịt trong nhà, mùi vải, mùi nhựa cháy khét lẹt, những cái áo hồng áo tím rúm ró lại, chảy thành những giọt tro. Cha nhìn ngọn lửa, mặt đanh lại, rồi mắt bỗng rực lên, ngây ngất vì một ý nghĩ mới lạ.

Chúng tôi dong ghe đi, quặn lòng ngoái lại căn nhà đang quay quắt dãy dụa trong lửa đỏ. Nghe vẳng theo âm thanh lốp bốp rất giòn của những thanh gỗ cháy, và tiếng xóm giềng í ới gọi nhau. Chắc chắn sẽ có người vỗ đùi cái đét, “Hồi hôm qua, ngó cái mặt u ám của Út Vũ, tui nghi thể nào thằng chả cũng đốt nhà. Nghi đâu có đó, thiệt là y như để vậy, các cha”.

Kể nhiều chuyện như vậy là để trả lời chị, nhà tôi, má tôi, rốt cuộc đã trở thành tro bụi mất rồi. Nên khi hết mùa lúa chín, những người nuôi vịt chạy đồng khác đã trở về nhà còn chúng tôi lại tiếp tục lang thang.

Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác. Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là cái cớ để chúng tôi sống đời du mục, tới những chỗ vắng người. Ở đó, ít ai phát hiện ra sự khác thường của gia đình tôi, và ít hỏi cái câu, “Má mấy đứa nhỏ đâu?”. Để cha phải buột lòng nói “chết rồi !” và cười lạt khi nghe người nào đó kêu lên: “Mèn ơi, tội hai đứa nhỏ hôn”.

4.

Lần đầu tiên hai chị em tôi lạc giữa đồng. Cơn mưa buổi xế chiều làm tắt rụi ánh mặt trời, và đêm tối nhanh chóng ập xuống. Mưa giăng bốn bề, những rặng vườn trở nên xa vời, mờ mịt, căn lều và chiếc ghe của mình nằm ở phía nào vậy ta, Điền hoang mang hỏi. Chúng tôi lội xom xom xuống một mé vườn và rã rời tuyệt vọng xua bầy vịt quay ra. Cha tôi đã bỏ về ghe từ giữa trưa, có thể cha đã uống rượu say và ngủ mất tiêu. Có thể cha còn thức nhưng cha không đi tìm. Khóc đã đời, một hồi, thấy trời ngày càng tối, chúng tôi quyết định buông trôi, tha thểu đi theo bầy vịt, biết đâu…

May sao, chúng nhớ đường về. Khi nhìn thấy ánh đèn chong leo lét đầu ghe, chúng tôi mừng như chết đi sống lại, Điền nắm tay tôi chạy như điên, nước đồng văng sáng trắng. Bầy vịt tao tác một phen (báo hại đêm đó tụi nó nín đẻ). Cha tôi ngồi chờ bên cạnh cây roi.

Sau này, đã tự học cách định hướng bằng bằng mặt trời, bằng sao đêm, bằng gió, bằng ngọn cây… nghĩ tới lần lạc đồng, thấy cười quá chừng. Mắc cười hơn là Điền, vốn rất sành sỏi đường đi nước bước, lại bị lạc lần nữa, giữa ban ngày. Nó loay hoay ở giữa một gò đất chùm gọng leo dày mịt, không biết vô đó bằng đường nào nhưng chẳng thể quay ra, có người đàn bà bưng rổ bánh quy lại, biểu nó ăn. Đói quá, thằng Điền ngốn gần chục cái. Lúc tôi tìm được nó nhờ tiếng rên ư ử, bụng nó đã lặc lè, và miệng đầy sình đất. Quay đi quay lại không có bóng người, chỉ có cái mả lạng nằm sát đất, rời rợi cỏ xanh.

Những ngày sau này, tôi một mình trở lại gò đất, nhưng chờ hoài không thấy ma hiện ra. Nghe thằng Điền kể, người đàn bà đó thiệt hiền, chỉ đau đáu vuốt tóc nó và ánh nhìn chan chứa thương yêu. Tôi nghe mà khóc muốn chết, sao con ma đó không chịu giấu tôi giùm cái.

Rồi tôi ngồi quẹt tay lau nước mắt đi, kỹ càng, để gương mặt an nhiên, ráo hoảnh. Tôi quyết không để cha thấy mình buồn, quyết không để cha bật ra cái câu “Chịu hết nổi cái cảnh sống này rồi hả? Chừng nào đi?”.

Cha vẫn thường đánh chị em tôi, thường đánh khi vừa ngủ dậy. Đó là khi người ta thấy hoang hoải, chán chường, sau một giấc dài, mở mắt ra, vẫn gió đìu hiu, vẫn nắng võ vàng trên những cánh đồng hoang lạnh. Và tôi tự nhớ lại coi hồi sáng này, hồi trưa này mình đã làm gì giống má, kho cá bỏ quá nhiều tiêu? Hay vì tôi buộc tóc nhong nhỏng? Hay tại tôi ngồi bắt chí cho thằng Điền?

Hay tại tôi càng lớn càng giống má. Có bữa, nửa đêm thằng Điền thức giấc, nhìn thấy tôi day lưng lại lui cui vá áo, nó thảng thốt kêu “Má ơi!”. Tôi cảm thấy mình thất vọng đến rã rời. Những thói quen, những cái gì liên quan đến má tôi phủi gần sạch rồi, nhưng tôi làm sao có thể từ bỏ hình hài này.

Tôi đành để cha đánh để ông bớt đau chút lòng. Sau này chị em tôi không day dứt chi cho mệt, vì hiểu thấu ra, mình bị đòn chỉ vì là con của má, vậy thôi.

Với chúng tôi, quãng thời gian ấy vẫn còn vui lắm, sau này, cha tôi chán không đánh nữa. Cha ơ thờ, lạt lẽo, chuyện gì cần nói thì nói vài câu nhát gừng. Cha giao bầy vịt cho hai đứa tôi, lúc rảnh ngồi gọt đẽo những cán dao, tấm thớt hay lẳng lặng vác cần câu đi câu cá, vừa bán được tiền, vừa khỏi phải nhìn những đứa con của một bà mẹ bạc lòng. Thành ra, cái ghe thấy nhỏ, lại rộng vô cùng tận, loay hoay chỉ ba con người, nhưng nhiều năm trôi qua, hai chị em tôi vẫn cảm thấy xa cách cha. Có lần, khi đi trên sông, thằng Điền giả đò té chìm ngỉm mất tăm, tôi giả đò kêu la chói lói, cha hơi giật mình hoảng hốt, dợm lao xuống nước, nhưng rồi cha điềm nhiên ngồi lại, tiếp tục gọt đẻo, chắc là nhớ ra thằng Điền đã lặn lội nước sông từ năm bốn tuổi, sức mấy mà chết trôi.

Chúng tôi biết là khó đòi hỏi gì hơn nữa, chỉ một chút xao lòng của cha, là mừng lắm rồi. Cha giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ nâng niu, nếu không thì vỡ mất.

Và chiếc ghe, cánh đồng, dòng sông thênh thang mãi…

Tôi và Điền buộc phải tự học lấy cách sống. Nhiều khi dễ đến không ngờ… Nhờ Điền bị rắn hổ đất cắn mà chúng tôi biết được cách phân biệt vết răng của rắn độc. Nó để lại trên cổ chân Điền một cặp vết răng như hai cái lổ nhỏ, sâu hoắm. Tất nhiên, phải nhờ người thợ gặt tốt bụng vác thằng Điền chạy một đỗi đồng để tới ông thầy lấy nọc rắn, nó mới giữ được cái mạng để rút… kinh nghiệm. Sau này, một lần băng qua một đám cỏ dày, đến lượt tôi bị rắn cắn, tôi kêu, Điền ơi, chắc Hai chết trước à. Thằng Điền nhìn vết thương nó cười, nói không sao, số Hai sống lâu lắm, hai hàng răng tươm máu giống hệt nhau như vầy, chắc cú là rắn bông súng cắn chơi thôi. Và nhìn bướm bay, nhìn mây trôi tôi biết ngày nắng hay mưa. Nghe bìm bịp kêu chúng tôi biết nước lên. Dừng ghe ở một tuyến kinh nào, thằng Điền trèo lên ngọn cây cao, ngó bao quát cánh đồng và tính toán xem có thể cầm vịt ở đấy bao lâu thì hết thức ăn, đúng chóc. Hay chúng tôi tự phán đoán ở đâu vụ mùa đến sớm, vùng nào lại trễ tràng để rời cánh đồng này, chúng tôi đến ngay một cánh đồng khác, ngay khi lúa vừa chín tới.

Thành ra, mùa du mục của chúng tôi kéo dài liên tục từ mùa mưa sang nắng, rồi lại mưa. Nhiều lúc tôi hơi nhớ con – người. Họ ở trong cái xóm nhỏ kia, chỉ cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất. Họ lúc nhúc trên thị trấn kia, nơi chúng tôi vẫn thường ghé lại mua gạo, cám, mắm muối… dự trữ cho những chuyến chạy đồng xa. Và họ ở gần ngay đây, họ vừa gặt lúa vừa nói chuyện tục tĩu rồi cười vang bên bầy vịt đang rúc rích tìm thức ăn, nhưng tôi vẫn nhớ…

Có lẽ vì cuộc sống của họ ngày càng xa lạ, với chúng tôi. Họ có nhà để về, chúng tôi thì không. Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không. Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không. Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao. Điều này làm tôi và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách duy nhất để được nhìn lại hình bóng má cũng tan rồi. Mà, thí dụ như những cơn chiêm bao quay trở lại, chúng tôi không biết chắc là hình ảnh ấy của má có xuất hiện hay không.

Cánh đồng bất tận (phần 1)

Cánh đồng bất tận (phần 2)

Cánh đồng bất tận (phần 3)

Cánh đồng bất tận (phần 4)