All posts by Đọc sách online

Tiền và tình

Tình và Tiền

Dẫu vui hay buồn thì cuộc sống vẫn tiếp nối và chúng đều không thể phủ nhận những giá trị nhất định mà vật chất mang lại.

Tiền không làm cuộc sống hạnh phúc hơn nhưng nó làm mọi thứ nhẹ nhàng hơn với tình yêu cũng vậy. Ai dám chắc yêu nhau chỉ cần nhìn nhau là đủ? Tôi không đề cao giá trị của đồng tiền nhưng cũng không phủ nhận, chỉ là tìm cho nó một vị trí phù hợp trong cuộc sống và tình yêu không phải trường hợp ngoại lệ.

Tiền và tình

Trong tình yêu, quan trọng nhất là tình cảm của hai người nhưng mọi thứ sẽ dịu dàng hơn khi trong tay có… tiền. Có tiền ta có thể mua sắm những món quà xinh xắn làm đẹp lòng cô người yêu bé nhỏ hay một buổi tối lãng mạn tại nhà hàng sang trọng vào ngày đặc biệt của hai người; thậm chí là chiếc đồng hồ cho anh người yêu vào ngày sinh nhật… Tất nhiên niềm vui không nằm ở giá trị món quà nhưng nhận một món quà đắt tiền vẫn thích hơn chứ! Thay vì cầm tay nhau đi dạo công viên vào buổi tối thì dạo các trung tâm thương mại vẫn hơn; dành cho nhau một kì nghỉ tuyệt vời với biển xanh, cát trắng, nắng vàng và những dịch vụ tại resort sang trọng vẫn hơn tắm mãi ở Bãi Sau và nhà nghỉ bình dân.

Tất nhiên tình yêu mới là quan trọng nhưng yêu mà không cần tiền thì có lẽ khó. Nói thế không có nghĩa muốn yêu thì phải nhiều tiền, chỉ là muốn yêu thì phải có tiền, còn ít hay nhiều và cụ thể là bao nhiêu thì tùy thuộc vào tình yêu mỗi người.

Có những tình yêu ‘rẻ tiền’ rất đẹp, bạn có thể nắm tay nhau đi dạo công viên nhìn ngắm cuộc sống một cách yên ả. Mọi thứ có lẽ sẽ luôn nhẹ nhàng như thế, đáng yêu như thế nếu không có ngày lễ Tình nhân, hay Quốc tế Phụ nữ và cả sinh nhật nàng hay chàng và hàng chục các lí do khác như sinh nhật, ngày kỉ niệm… của bạn bè mà hai người phải đi cùng nhau tất nhiên chi phí sẽ là nhân đôi! Bạn sẽ có cách xoay sở và vượt qua thôi, chắc chắn rồi nhưng thật không thoải mái và lo lắng cái cảm giác ấy mới khó chịu làm sao. Và bạn ước gì mình có thể có nhiều hơn một chút, một chút thôi để mọi thứ dễ dàng hơn. Đấy là những điều bạn gặp hàng ngày, đối mặt và giải quyết.

Bạn nghĩ cô người yêu sẽ thế nào khi nhận một bó hoa thật đẹp vào một ngày bình thường? Chắc hẳn không chỉ là vui mà còn bất ngờ khiến hạnh phúc nhân lên hàng chục hàng trăm lần này bạn, hoa hồng phải mua bằng tiền ở tiệm hoa đấy! Ví dụ đơn giản thế thôi!

Dẫu vui hay buồn thì cuộc sống vẫn tiếp nối và chúng đều không thể phủ nhận những giá trị nhất định mà vật chất mang lại.

Thai đa ối - nỗi lo thực sự của bà bầu

Thai đa ối – nỗi lo thực sự của bà bầu

Tình trạng đa ối có thể là dấu hiệu cho biết thai nhi đang gặp các vấn đề về thần kinh trung ương, khuyết tật đường tiêu hóa, suy thận, các vấn đề về bàng quang và khả năng nuốt thức ăn.
Clip thai nhi hát “véo von” trong bụng mẹ
Tư thế ngủ an toàn cho mẹ bầu trong thai kì đầu
Hướng dẫn mát-xa đáy chậu cho mẹ bầu
Theo dõi sức khỏe thai kỳ sẽ giúp bà bầu phát hiện kịp thời tình trạng thai đa ối và tránh những tác động xấu do thai đa ối gây ra.

Tình trạng đa ối là gì?
Thai đa ối hay thai có nhiều nước ối là tình trạng có quá nhiều nước ối bao quanh thai nhi.

Thai đa ối có phổ biến hay không?
Thai đa ối xảy ra phổ biến nhưng không phải bà bầu nào cũng nhận ra được sự nguy hiểm của vấn đề này. Cứ 4 ca mang thai thì có 3 ca có hiện tượng đa ối.

Ai gặp nhiều rủi ro nhất khi thai đa ối?
Quá nửa các ca thai đa ối gần như không tìm ra nguyên nhân, nhưng tỉ lệ thai đa ối cao được cho là có liên quan đến các bà bầu bị chứng tiểu đường thai kỳ không thể kiểm soát, những người có thai to hoặc đa thai.

Thai đa ối - nỗi lo thực sự của bà bầu

Triệu chứng thai đa ối
Các triệu chứng rõ ràng nhất của thai đa ối bao gồm sự phát triển nhanh của bào thai trong tử cung khiến bà bầu cảm thấy khó chịu ở bụng và có nhiều cơn co thắt tử cung. Thai đa ối thường được phát hiện trong các đợt bà bầu kiểm tra sức khỏe trước khi sinh, khi khoảng cách từ xương mu tới đỉnh của tử cung vượt quá phạm vi bình thường; hoặc trong quá trình siêu âm, bác sĩ có thể đo được lượng chất lỏng quá nhiều trong túi ối.

Thai đa ối nguy hiểm cho mẹ và bé như thế nào?
Nước ối nhiều hơn bình thường một chút không gây ảnh hưởng gì lớn đến thai kỳ của bạn. Nhưng khi có quá nhiều nước ối, đây lại là một vấn đề lớn cho cả mẹ và bé.
Tình trạng đa ối có thể là dấu hiệu cho biết thai nhi đang gặp các vấn đề về thần kinh trung ương, khuyết tật đường tiêu hóa, suy thận, các vấn đề về bàng quang và khả năng nuốt thức ăn.

Đối với bà bầu, quá nhiều nước ối có thể khiến bà bầu dễ bị vỡ ối sớm, thai ngôi mông, bong nhau thai non, sinh con sớm, sa dây rốn. Ngoài ra, thai đa ối còn khiến bà bầu khó chịu ở bụng, khó tiêu, phù chân, và khó thở.

Ngăn ngừa thai đa ối
Nếu lượng nước ối vẫn còn ở giới hạn cho phép, bạn không phải làm gì ngoài việc theo dõi sức khỏe thường xuyên. Nếu tình trạng nghiêm trọng hơn và cần phải can thiệp bằng kỹ thuật, bạn có thể phải chọc nước ối. Bởi vì thai đa ối có thể làm tăng nguy cơ bị sa dây rốn nên bạn cần gọi bác sĩ đến ngay lập tức nếu nước ối vỡ trước khi sinh.

Nguyễn Mai – Nguồn: WTE
(Theo Congluan

Gặp người lính PCCC cứu hơn 50 người thoát nạn

Gặp lại Tùng sau đêm cứu hộ, cứu nạn vụ cháy chung cư CT 4 Xa La – Hà Đông tại đội Cảnh sát PCCC Thanh Trì chiều 12/10, vẫn nụ cười hiền, ánh mắt biết nói, Tùng nói với nhà báo: “Công việc hàng ngày tụi em vẫn làm mà anh, có đặc biệt gì đâu mà kể ạ !”.

Hơn 300 xe máy cháy rụi, hầm chung cư lộ cốt thép
Khẩn trương điều tra nguyên nhân cháy CT4 Xa La
CT4 cháy: Chủ đầu tư từng bị phạt hàng trăm triệu
Chung cư Xa La: Có 1.000 xe máy, 200 chiếc bị cháy

Hạ sỹ Trương Duy Tùng – cảnh sát PCCC huyện Thanh Trì (Đội 7) sinh năm 1993 trong một gia đình có bố làm trong quân đội, mẹ công tác ở nghành Y. Người lính còn rất trẻ với gần 2 năm tuổi quân trong tối 11/10 đã không quản nguy hiểm, lao mình vào đám khói dày đặc, len lỏi trong các tầng nhà CT4B khu đô thị Xa La để cứu hơn 50 người bị nạn trong hỏa hoạn.

PCCC, Xa La, Hà Đông, cháy, chung cư, CT 4
Hạ sỹ Trương Duy Tùng sau khi hoàn thành nhiệm vụ chữa cháy và cứu người trong vụ hỏa hoạn tại CT4 Xa La – Hà Đông tối 11/10

Tùng kể: “Khoảng 20h ngày 11/10, em cùng đồng đội đã có mặt tại hiện trường vụ cháy, cả đội chia làm 2 nhóm. Lúc này em cùng tiểu đội trưởng đeo mặt nạ phòng đôc, bình thở oxy leo thang bộ đến tầng 20 thì có tiếng kêu cứu từ một căn hộ tại đây. Khi mở cửa, có một người phụ nữ khoảng 50 tuổi đang ở trong phòng. Anh tiểu đội trưởng đi cùng đã đưa người này xuống đất, còn em nhận nhiệm vụ tiếp tục leo lên các tầng, tìm người mắc kẹt bên trong”.

Càng lên cao, khói càng dày đặc, mù mịt, Tùng phải dùng đến hai đèn pin. “Xác định còn nhiều người mắc kẹt ở các tầng trên nên em hạn chế dùng bình thở oxy vì biết đâu người bị nạn cần dùng đến”

Nhớ lại những phút giây cứu người, Tùng kể tiếp: “Khi lên đến tầng 32, 33, 34 em gõ cửa từng phòng để trấn an mọi người, hướng dẫn họ lấy khăn ẩm, tập trung đi thành hàng một, theo cầu thang bộ lên tầng thượng. Có trường hợp đặc biệt là một gia đình có cháu nhỏ mới sinh khoảng 10 ngày tuổi, em hướng dẫn người mẹ nhúng chăn ẩm, sau đó dìu mẹ cháu bé, bế cháu lên tầng thượng”.

PCCC, Xa La, Hà Đông, cháy, chung cư, CT 4
Những đứa trẻ được lực lượng PCCC đưa xuống đất an toàn trong vòng tay người thân

Khi lên sân thượng gió rất to, mọi người núp vào khu kỹ thuật để tránh gió. Do người mẹ và đứa con sơ sinh đứng trên sân thượng trong thời tiết gió lạnh nên rét run và đói; được gia đình đồng ý, Tùng soi đèn trở lại căn phòng tìm đồ ăn, mang chăn đưa cho họ ủ ấm.

“Em có một chút lo lắng vì chỉ có một mình xoay xở, trong khi số lượng người quá đông. Một lúc sau trên nóc tòa nhà 4C bên cạnh có tiếng đồng đội hỏi vọng sang xem có cần hỗ trợ gì không. Lúc này em mới thấy yên tâm hơn…” – người cảnh sát trẻ thuật lại.

Sau một giờ đồng hồ tập hợp người dân trên tầng thượng và khi nhận được tín hiệu của đồng đội là khói đã đỡ nhiều, Tùng đã hướng dẫn khoảng 30 thanh niên đi theo thang bộ xuống đất. 20 người còn lại gồm người già, trẻ nhỏ…tiếp tục ở trên sân thượng chờ lực lượng cứu hộ và y tế lên trợ giúp, đưa xuống đất.

Ngoài kỹ năng được huấn luyện về chữa cháy, cứu nạn, Tùng được học thêm về cấp cứu và giữ ấm cho trẻ nhỏ. Khi hướng dẫn mọi người ngồi trên sân thượng để chờ lực lượng cứu hộ đưa xuống đất, Tùng nhận được những cái bắt tay, cái ôm ấm áp và lời cảm ơn chiến sỹ cảnh sát PCCC dũng cảm từ những người mà anh vừa cứu giúp…

PCCC, Xa La, Hà Đông, cháy, chung cư, CT 4
Trong vụ cháy CT4 Xa La – Hà Đông tối 11/10, lực lượng PCCC đã phải dùng đến xe thang 52m để đưa người dân từ trên cao xuống đất

Khi nói về gia đình, Tùng cho biết: “Nhà em không có ai theo ngành công an, vì đam mê nghề PCCC nên em xin gia đình cho theo nghĩa vụ làm người lính PCCC. Ước muốn sau này khi hết thời hạn nghĩa vụ 3 năm, em được cống hiến lâu dài trong lực lượng PCCC”.

Trung tá Nguyễn Xuân Tuấn – Phó đội trưởng đội PCCC Thanh Trì nói về học trò cưng của mình: “Tùng là một chiến sỹ có năng lực, luôn ham học hỏi và được đồng đội yêu quý. Mỗi khi giao nhiệm vụ, Tùng luôn hoàn thành xuất sắc công việc được giao”.

Theo ghi nhận bước đầu của đơn vị, hạ sĩ Trương Duy Tùng đã cứu giúp, đưa hơn 50 người đến vị trí an toàn…

Phạm Hải

Cách làm chanh muối để lâu dùng dần

Cách làm chanh muối ở bài này khá kĩ và chi tiết, mình tình cờ đi lòng vòng tìm được, mẹ nào thích uống chanh muối giải nhiệt ngày nóng thì làm rồi dùng dần từ bây giờ nhé, vì chanh muối để được khá là lâu đó Nguyên liệu :
– 1 kg chanh tươi (nên chọn những quả chanh vỏ mỏng, bóng láng vỏ có màu vàng nhạt là chanh già)
– 1 kg muối
– 1.5 lít nước ngâm chanh muối
– Một lượng phèn chua vừa phải.
– 1 lọ thủy tinh lớn
– 1 miếng gài giữ chanh

Chi tiết các bước làm chanh muối :
– Chanh tươi sau khi mua về, đổ ra rổ nhỏ chà với một chút muối hạt to cho vỏ chanh ra bớt tinh dầu và dễ ngấm muối cũng như bớt đắng khi muối chanh (nhớ đeo găng tay làm cho kĩ các bạn nhé, lớp tinh dầu bên ngoài được chà ra ngoài giúp chanh muối đỡ đắng)

– Sau khi chà chanh xong thì rửa lại với nước sạch nhiều lần.

– Bạn lấy 2 thìa cafe phèn chua pha với 1 lít nước và 1 thìa súp muối hạt, sau đó đun sôi nước lên, thả chanh vào chần qua rồi vớt ra ngay.
– Phèn chua sẽ giúp chanh có màu trắng và vỏ chanh khi muối xong sẽ giòn, không bở.

– Ngâm chanh trong nước phèn chua nguội nửa ngày, vớt ra để ráo

– Nấu 1 lít nước với phần muối còn lại lọc cho hết bọt đen, để nguội, lọc hết cặn muối..
– Bạn hãy thử độ mặn của muối bằng cách thả vài hạt cơm vào nước muối, nếu cơm chìm là còn nhạt, hạt cơm nổi lên thì mới đạt yêu cầu về độ mặn.

– Chờ nước muối nguội đổ ngập lên chanh. Dùng que tre gài chanh chìm xuống nước muối chanh để chanh không bị váng và hỏng, khoảng 1 tháng sau là dùng được.

Nguồn: vaobepcungban

Cô gái này chỉ viết một câu, mà rất nhiều người cho tiền ông lão mù ăn xin

Cô gái này chỉ viết một câu, mà rất nhiều người cho tiền ông lão mù ăn xin

Một ông lão bị mù ngồi dưới đất ăn xin, những người đi ngang qua ông dường như không ai quan tâm để ý.

Cô gái này chỉ viết một câu, mà rất nhiều người cho tiền ông lão mù ăn xin

Bên cạnh ông lão là một tấm các tông, trên đó có ghi: “Tôi bị mù, xin giúp đỡ!” Nhiều người đi ngang qua ông, nhiều người trong quảng trường cười nói và chơi đùa… nhưng chỉ một vài người cho ông những đồng xu lẻ.

Lúc này một cô gái xuất hiện, nhìn vẻ ngoài của cô không được “hiền lành” cho lắm.
Cô gái viết lên tấm các tông này một dòng chữ… rồi sau đó lại đặt bên cạnh ông lão và rời đi.

Nhưng chuyện kỳ lạ đã xảy ra, có rất nhiều người đi ngang qua ông lão đều lấy tiền ra cho.

Một lát sau, cô gái kia quay trở lại, ông lão hỏi cô, rốt cuộc cô đã viết chữ gì lên thùng các tông đó?

Những dòng chữ đó là: “Ngày hôm nay thật đẹp, và tôi lại không nhìn thấy!”
Hãy thử phân tích một chút…

Cô gái này hẳn là một chuyên gia viết quảng cáo hoặc nhà văn. Trong thông điệp đầu tiên, ông lão không nhận được nhiều sự giúp đỡ vì nó là thông điệp xuất phát từ bản thân ông: “Tôi bị mù, xin giúp đỡ!”

Nhưng thông điệp thứ 2 “Ngày hôm nay thật đẹp, và tôi lại không nhìn thấy!” lại kết hợp trong đó rất nhiều yếu tố:

• Sự đồng cảm, kết nối như một câu chào “Ngày hôm nay thật đẹp” ai cũng có thể đồng ý với điều này

• Sau đó là một sự đối lập, mâu thuẫn – vốn là một yếu tố rất mạnh trong quảng cáo “… và tôi lại không nhìn thấy!” nó ngay lập tức gợi sự thương cảm cho ông lão thiệt thòi, một nỗi đau rõ ràng hơn nhiều so với thông điệp chung chung ban đầu là “tôi bị mù”

• Ngoài ra “Tôi bị mù, xin giúp đỡ!” rất cụt lủn. Còn “Ngày hôm nay thật đẹp, và tôi lại không nhìn thấy!” để lại một khoảng trống hụt hẫng nào đó ở phía sau, làm cho người ta phải suy nghĩ, bị thôi thúc hành động…

“Tôi vẫn viết như cũ, nhưng từ một góc nhìn khác” – cô gái trả lời khi ông lão ăn xin hỏi, và có lẽ đây cũng chính là câu nói cô đọng nhất về nghệ thuật viết quảng cáo.

heo NTDTV Mai Trà biên dịch, Quá Dương biên tập Nguồn: daikynguyenvn.com

Jules Verne và tác phẩm ‘Hai vạn dặm dưới đáy biển’

Năm 1865, nhà văn Jules Verne cùng gia đình đến nghỉ ở Crotoy trong hai tháng 8 và 9. Crotoy giờ đây là một thị trấn nhưng hồi đó chỉ là một xóm chài không lớn lắm. Gia đình Jules Verne thuê một ngôi nhà nhỏ hai tầng xinh xắn, ngay cạnh một đường hầm mà cậu con trai của ông đặt tên là “Solitude” (cô độc). Jules Verne có một căn phòng làm việc ở tầng 1, nhưng ông làm việc cả trong đường hầm nói trên.

 –

Ngày 25/7/1865, bạn ông là nhà văn nữ George Sand viết cho ông: “Tôi hy vọng là ở đấy anh sẽ đưa chúng tôi xuống những vùng biển sâu và buộc các nhân vật của anh phải phiêu lưu bằng những con tàu ngầm mà kiến thức và trí tưởng tượng bay bổng của anh chắc chắn sẽ hoàn thiện được”. Verne nhận được rất nhiều lời khuyên như vậy ngay từ trước khi ông đến Crotoy. Bởi thế ngay khi đến nơi, ông phác thảo sườn của cuốn tiểu thuyết mà ông đặt tên là Phiêu lưu dưới nước. Nhưng nỗ lực đầu tiên của ông không thành công: ông thiếu tư liệu, hơn nữa nghề viết văn chẳng đem lại cho ông mấy tiền nên ông phải làm thêm các việc khác có thu nhập cao hơn.

Vào năm 1865 ấy, Jules Verne đã 37 tuổi và còn chưa nổi tiếng. Trước đó ông đã sống vài năm ở Paris, miệt mài làm việc, khát khao trở thành nhà viết kịch, nhưng không thành công. Ông quyết định chuyển sang thể loại khác. Năm 1863, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Bảy tuần trên khinh khí cầu và bắt đầu được nhiều người biết đến. Mặc dù thu được thành công nhưng để trang trải chi tiêu, ông buộc phải bắt tay vào biên soạn cuốn Địa lý Pháp và các thuộc địa của Pháp qua minh họa. Khi ông cùng gia đình trở lại Crotoy vào năm 1866 thì công trình này vẫn chưa hoàn thành.

Tháng 6/1867, Jules Verne vượt Đại Tây Dương sang Mỹ trên con tàu “Great Eastern”, một con tàu biển khổng lồ vào thời ấy. Ông có dịp ngắm nhìn và nghiên cứu biển cả. Sau khi trở về Paris, ông đến thăm triển lãm quốc tế trên quảng trường Mars. Tại đây, ông thích thú quan sát đề án xây dựng kênh đào Suez, công nghệ chế tạo những chiếc tàu ngầm đầu tiên và những bộ đồ lặn đầu tiên. Những kiến thức mới thu lượm được đã giúp ích cho ông rất nhiều và kích thích mạnh mẽ trí tưởng tượng phong phú của ông. Khi quay trở lại Crotoy, ông hăm hở cầm lấy bút. Ông thông báo cho người chủ xuất bản của ông là Pierre Jules Hetzel về ý định quay trở lại với đề tài Cuộc phiêu lưu dưới nước. Lúc này, trong đầu óc ông đã hiện rõ những ý tưởng hết sức cụ thể.

Ông mua một chiếc xuồng máy đánh cá rồi sửa sang lại thành một chiếc tàu nhỏ mà ông đặt tên là “Saint Michel”. Với chiếc tàu này ông tin là có thể tiếp cận trực tiếp với biển cả. Trước lúc hạ thủy con tàu, ông viết cho Hetzel: “Tôi say mê khối kết hợp đinh và ván gỗ này như chàng thanh niên 20 tuổi say mê người yêu. Và tôi sẽ còn trung thành hơn với chàng ta nữa”.

Jules Verne quanh quẩn hàng tiếng đồng hồ trên con tàu bằng gỗ của mình. Cabin phía sau được ông biến thành phòng làm việc. Tại đây ngổn ngang những cuốn từ điển, những tập sách về kỹ thuật và về nghề hàng hải.

Cũng chính trên con tàu “Saint Michel” này mà Jules Vernes, một người rất mê cuốn Robinson trên hoang đảo và môn địa lý rút cuộc đã có thể tưởng tượng mình là một thuyền trưởng cô độc. Và sự cô độc này đã cổ vũ ông. Nhân vật Nemo ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Ông viết cho Hetzel: “Bạn thân mến của tôi. Nếu tôi thành công thì cuốn sách sẽ tuyệt vời biết bao! Tôi đã được thấy bao điều thú vị trên biển, khi tôi rong ruổi trên chiếc “Saint Michel”. Mùa thu năm đó ông lại viết cho Hetzel: “Bạn thân mến của tôi. Vào lúc tôi viết những dòng này cho bạn thì tôi đang đứng trước Gravesen và đang hoàn thành tập một cuốn Hai vạn dặm dưới đáy biển. Đến năm 1869 thì ông hoàn thành tập hai.

Từ ngày 20/3/1870, cuốn tiểu thuyết mới của Jules Verne được đăng dần trong Tạp chí Giáo dục và nghỉ ngơi. Ngày 20/7 năm đó, phần cuối của tiểu thuyết ra mắt bạn đọc. Kết thúc phần cuối này là những lời sau đây: “Liệu ai có bao giờ đo được chốn đại dương sâu thẳm? Chỉ hai người duy nhất có quyền trả lời câu hỏi này – đó là Nemo và tôi”. “Tôi” ở đây là giáo sư Aronax, người dẫn truyện trong cuốn tiểu thuyết.

Tháng 7/1870, tiết trời rất ấm áp. Jules Verne cùng hai thủy thủ đáp con tàu “Saint Michel” rời Crotoy và đi dọc theo bờ biển Picardie và Normandie cho tới cửa sông Seine rồi tiến về phía Paris. Tại Paris, ông rời con tàu yêu quý của ông và đi đến phố Jacob để bắt chặt tay người bạn Pierre Jules Hetzel của ông. Hiển nhiên đây là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời Jules Verne.

(Nguồn: Văn nghệ

Jules Verne qua những tác phẩm viễn tưởng

Jules Verne qua những tác phẩm viễn tưởng

Sau Agatha Christie, Jules Verne là nhà văn có đông độc giả nhất trên thế giới. Ông cũng nhận được rất nhiều lời tán dương từ giới phê bình, nghiên cứu. Truyện của ông không chỉ được đánh giá là mang đến những sắc màu ấm áp mà ông còn được ngợi ca như một người có lối dẫn truyện hấp dẫn, khiến người đọc không thể nào rời khỏi trang sách khi chưa biết chuyện gì sẽ tiếp tục xảy ra.
H.T. –

Nữ hoàng trinh thám Agatha Christie cũng đạt được thành công này với tài năng bậc thầy trong việc xây dựng cốt truyện. Bà không chỉ là người tiết lộ cho người đọc kết quả cuối cùng “ai đã làm việc đó” mà còn dẫn người đọc thưởng thức và cảm nhận “việc đó đã được tiến hành như thế nào?”. Nhìn vào những cuộc hành trình qua các tựa sách của Verne, người ta cũng có thể hình dung được thế mạnh của nhà văn.

Jules Verne qua những tác phẩm viễn tưởng

Nhà văn Jules Verne.

Để hiểu được ma lực trong lối kể chuyện của Verne, chỉ cần điểm qua những tựa đề nổi tiếng của ông như: A Journey to the Center of the Earth (Hành trình vào trung tâm Trái đất – 1864), Twenty Thousand Leagues Under the Sea (Hai vạn dặm dưới đáy biển – 1869-1870), Around the World in 80 Days (Vòng quanh thế giới trong 80 ngày – 1873), The Mysterious Island (Hòn đảo bí ẩn – 1874-1875)… Tất cả đều là những câu chuyện kỳ diệu và khác thường trong thế giới tưởng tượng của nhà văn. Verne (1828-1905) sống trong thời kỳ hoàng kim của công cuộc mở rộng thuộc địa và khám phá trái đất. Khoa học kỹ thuật có sự phát triển ồ ạt, đặc biệt là việc sáng tạo ra những phương tiện thông tin liên lạc, đi lại mới và hiện đại cùng với những công cụ có khả năng phá hủy lớn. Vì thế, trong tiểu thuyết của Verne, trí tưởng tượng được chắp cánh với những điều kỳ diệu phát sinh từ những phòng thí nghiệm cho đến những cơ sở sản xuất.
Sự thực là trước khi Hollywood phát minh ra những hình ảnh đồ thị trên máy vi tính, những tác phẩm của Jules Verne đã cung cấp cho người đọc những hình ảnh tương tự. Verne đã nhanh nhạy hòa trộn cái hiện thực với những cái gần như sẽ trở thành hiện thực, ghi lại những sự kiện khoa học lúc bấy giờ. Kết quả là những sáng tác của ông luôn khiến cho người đọc vừa thán phục vừa hồ nghi: “Những thứ này được làm như thế nào nhỉ”, Liệu mình có thể làm được như thế không?”.

Nhưng cho đến nay, những tác phẩm của Jules Verne vẫn gặp phải 3 điều không may mắn. Thứ nhất, sách của ông thường được chuyển sang tiếng Anh bằng những bản dịch rất tệ, nếu không bị cắt bỏ thì cũng bị thêm thắt một cách vô lối. Thứ hai, tác phẩm của Verne thường gắn liến với những giá sách của các em thiếu nhi mặc dù ông sáng tác cho mọi lứa tuổi. Thứ ba, những tác phẩm xuất bản sau khi nhà văn qua đời thường là của con trai nhà văn viết nhưng lại “vô tình” gắn tên tuổi ăn khách của cha mình vào đầu trang sách.

Tuy nhiên, điều này cũng không ảnh hưởng nhiều đến danh hiệu cha đẻ của thế loại tiểu thuyết viễn tưởng của Jules Verne (“mẹ đẻ” của thể loại này là nhà văn Mary Wollstonecraft Shelley).

Trong các tiểu thuyết khoa học của mình, Jules Verne không bao giờ quên những yếu tố chính trị. Bên cạnh những cuộc hành trình tìm đến những điều bí ẩn nào đó, truyện của Verne bao giờ cũng ẩn chứa những thông điệp nhất định. The Begum’s Millions là tác phẩm đầu tiên Verne xây dựng nên một nhà khoa học có mục đích xấu, báo hiệu cho chủ đề mới sẽ xuất hiện nhiều trong những tác phẩm sau này của ông, đó là những tác động khôn lường của khoa học đối với xã hội loài người như:Dr. Ox’s Experiment (1874), Master of the World (1904), The Barsac Mission (1919).

(Nguồn: Washingtonpost

Cái chết bí ẩn của Edgar Allan Poe

Cái chết bí ẩn của Edgar Allan Poe

Edgar Allan Poe nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết trinh thám huyền bí. Ông qua đời năm 1849. Cái chết của nhà văn đến nay vẫn còn là một bí mật lớn, khiến không ít học giả và bạn đọc phải “đoán già đoán non”. Dưới đây là những kiến giải của Matthew Pearl về một trong những nghi án gây tò mò nhất trong lịch sử văn chương này.

Matthew Pearl –

Đám tang của Edgar Allan Poe tại Baltimore chỉ có 4 người tham dự, nếu không kể thêm một vị linh mục, một người đào mộ và một người trông coi nghĩa địa. Vị linh mục – vốn là người có họ hàng xa với nhà văn – cũng không buồn đọc lời ai điếu trước sự kiện “cỏn con” này. Khu mộ phần của nhà văn chẳng có dòng chữ nào để khắc dấu ghi tên. Tạo hóa cũng khéo đùa, khiến cho chuyến hành trình về ga cuối của nhà văn đầy lạnh lùng, trống vắng như chính cái chết của ông. 15 năm sau, một chuyến tàu bị trật đường ray, xô vỡ mộ chí. Nhờ đó, về sau, một bia mộ bằng đá được dựng lại, trên đó khắc dòng chữ: “Hic Tandem Felicis Conduntur, Edgar Allan Poe, Obiit Oct. VII 1849” (Nơi đây, cuối cùng ông đã được yên nghỉ, Edgar Allan Poe qua đời 7/10/1849”.

Edgar Poe (họ “Allan” thường rất ít khi được gọi kèm với tên ông [1]) đã trải qua một những năm tháng đầy cực nhọc, khó khăn trước khi qua đời ở tuổi 40. Khi còn là một chàng trai mới lớn, ông đã có nhiều mâu thuẫn với cha nuôi, bị đuổi ra đường, sống vất vưởng và bắt đầu dấn thân vào thế giới văn chương. Ông viết khoảng 70 tác phẩm văn xuôi đủ các thể loại, khoảng chừng ấy bài thơ, một cuốn tiểu thuyết không mấy nổi tiếng, một vở kịch còn dang dở… và thách thức văn đàn rộng lớn bằng những bài phê bình có giọng điệu gay gắt, khó chịu và đầy khiêu khích. Poe bị không ít người khinh ghét và gặp nhiều khó khăn về vật chất nhưng bù lại, ông được đánh giá là một nhân cách đáng trọng.

Poe không phải là một thần tượng, một nhân vật quan trọng ở thời điểm ông qua đời. Nhà văn hoàn toàn có thể biến mất một cách vô nguyên cớ. Và sự thật đã diễn ra như vậy. Vào cuối tháng 9/1849, nhà văn có chuyến đi tour giảng bài và nói chuyện tại Richmond, Virginia nhằm kiếm tiền để ra mắt tờ tạp chí văn học của chính mình – The Stylus. Từ Richmond, ông dự định sẽ đến Philadelphia và sau đó trở về nhà ở New York – từ đây, ông sẽ đi du lịch về phía Nam cùng với người cô của mình là Maria Clemm. Nhưng rồi, các quan chức ở Baltimore cho biết, sau 5 ngày mất liên lạc với nhà văn, cuối cùng, họ phát hiện thấy ông bất tỉnh trong một nhà trọ có tên là Ryan’s.

Cái chết bí ẩn của Edgar Allan Poe

Chân dung Edgar Allan Poe.

Đến đây, chúng ta có thêm một số thông tin đã biết. Theo Neilson Poe, một người họ hàng của nhà văn ở Baltimore thì khi Edgar được đưa đến bệnh viện, các bác sĩ cho biết, bệnh nhân đã quá yếu và được phát hiện quá muộn. Ngay sau khi Edgar qua đời, Neilson đã kiểm tra tỉ mỉ khu vực nhà văn đã ở và than khóc, ông không tìm thấy câu trả lời cho cái chết bí ẩn của nhà văn. Tuy nhiên, một vài tuần sau, Neilson viết một bức thư cho người viết tiểu sử của Edgar Poe và thông báo, ông sở hữu tất cả thông tin về cái chết của nhà văn và sẽ viết một cuốn sách về vấn đề này. Nhưng Neilson đã không bao giờ hiện thực hóa dự định của mình.

Ngày nay, câu chuyện về cái chết của Edgar Poe đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu và những người quan tâm. Baltimore đã xây dựng một số bảng chỉ dẫn đến khu mộ của nhà văn. Du khách có thể đặt hoa tại đài tưởng niệm Edgar Poe được xây dựng năm 1875. Nơi đây, bây giờ không chỉ có 1 mà đến 2 mộ chí. Một là mộ chí chỉ rõ phần mộ ban đầu của nhà văn, còn cái kia chính là nơi thi thể của ông được dịch chuyển đến sau này. Hằng năm, đến sinh nhật nhà văn, người ta lại tụ tập trước mộ phần của ông, trong số đó có không ít phóng viên báo chí. Trong khi đó, ngược lại, rất ít người biết rằng, Poe được sinh ra tại Boston. Hay nói cách khác, tiểu sử của nhà văn thường bắt đầu từ nơi ông qua đời chứ không phải từ nơi ông được sinh ra.

Trong tuyển tập thơ và truyện ngắn của Poe mà tôi đọc từ thời còn nhỏ, người ta nói rằng, Poe được tìm thấy tại một máng nước trong tình trạng rất tồi tệ. Dù sự thực chẳng có cái máng nước nào dính líu đến cái chết của Poe nhưng giai thoại này đã tồn tại ít nhất từ năm 1850. Những câu hỏi xoay quanh cái chết của nhà văn đã khiến cho trang viết của ông càng thêm hấp dẫn, bí ẩn. Khi tôi bắt tay vào tìm hiểu về tác giả của Con quạ, một số người đã hỏi tôi, liệu có phải Poe đã dàn xếp cái chết của mình để độc giả phải đau đầu suy đoán.

Giả thuyết này đã được đưa ra từ cách đây khá lâu. Baudelaire từng coi cái chết của Edgar Poe – nhà thơ Mỹ được ông yêu thích nhất là “gần như một vụ tự sát”. Cách giải thích này vẫn lưu hành tại Mỹ cho đến tận cuối thế kỷ 19. George Eveleth – một bác sĩ trẻ từng giao du với nhà văn đã đặt ra nghi vấn, phải chăng Poe giả vờ chết nhằm đánh lừa độc giả của mình. Từ khi vừa bước chân vào làng văn, Poe vốn là một con người yếu ớt nhưng luôn có thái độ báng bổ thần linh hoặc ít nhất cũng là coi thường cái chết […].

Sau khi nhà văn qua đời, tên tuổi của ông trở nên nổi tiếng. Vào đầu thế kỷ 20, một hãng thuốc lá đã lấy tên ông để đặt tên cho một loại cigarette với dòng chữ in trên bao bì: “Quẳng gánh lo đi bằng một điếu cigarette thơm phức hiệu Poe”.

Bóng đen vây quanh cái chết của nhà văn ngày càng dày đặc thêm bởi những giai thoại của người đời sau. Năm 1899, một người phụ nữ theo thuyết duy linh cho biết, bóng ma của Poe đã hiện về đọc cho bà một bài thơ, tiết lộ sự thật cái chết của ông.

Các học giả đã dựa vào hiện trạng “thiếu thốn tư liệu” về cái chết của nhà văn để đưa ra những giả thuyết cho rằng, Poe có thể là một nạn nhân – của một vụ cướp, một âm mưu chính trị, hay thậm chí là sự trả thù của một người phụ nữ nào đó từng bị ông tán tỉnh.

Mỗi giả thuyết đều có những dẫn chứng và lý lẽ riêng. Trong một triển lãm tại bảo tàng Poe tại Richmond có một khối lập phương bằng nhựa xoay tròn, trên đó ghi lại khá nhiều cách giải thích về cái chết của nhà văn. Khối lập phương tại bảo tàng Poe đã trở thành một biểu tượng điển hình cho sự phong phú của các giai thoại về cái chết của Poe. Ngày nay, các giả thuyết này có vị trí khá ngang ngửa với nhau. Đó là nguyên nhân khiến tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết về cái chết của nhà văn, để tìm hiểu tại sao, những cách giải thích khác nhau này lại có thể cùng tồn tại như vậy được. Nhưng khi bắt tay vào công việc, tôi đối mặt với một câu hỏi lớn: Câu chuyện về cái chết của Poe có gốc tích từ trong lịch sử hay xuất phát từ tiểu thuyết của ông?

Sự bí ẩn quanh cái chết của Edgar Poe xem ra thích hợp với ông hơn bất cứ nhà văn nào khác. Ví như, lịch trình những ngày cuối trong cuộc đời ông đã cho thấy nhà văn hầu như sống cuộc đời trôi nổi từ nơi này đến nơi khác. Ông từng sống ở Boston, Richmond, Baltimore, Philadelphia và New York. Chặng cuối của Poe đã phản ánh đúng thói quen xê dịch không thể làm chủ được của nhà văn.

Khi được phát hiện tại nhà trọ Ryan trong tình trạng rất tồi tệ, Poe đã cầu khẩn những người xung quanh mình nhờ đến sự giúp đỡ của tiến sĩ Joseph Snodgrass. Snodgrass, người sống ngay cạnh đã nhanh chóng có mặt và quyết định cùng với những người khác đưa nhà văn đến bệnh viện. Tuy nhiên, một số tài liệu lại cho rằng, Poe tìm gặp Snodgrass để bàn bạc về việc xuất bản tờ tạp chí mới của mình. Thực tế, một người khác mà Poe cũng muốn tìm gặp tại Baltimore là Nathan C Brooks – làm nghề biên tập. Điều thú vị là Snodgrass cũng từng là chủ bút của một tạp chí chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn.

Tại Philadelphia, có một phi vụ béo bở đang chờ đợi Poe. Một nhà sản xuất đàn dương cầm tên là John Loud muốn bỏ ra 100 USD để nhờ Poe tuốt chỉnh lại những bài thơ của bà vợ. Poe chắc không cưỡng nổi lời đề nghị hấp dẫn đó. Thử tượng xem, so với tổng thu nhập năm 1849 của Poe là 275 USD thì 100 USD là số tiền vô cùng lớn. Không có chứng cớ nào rõ ràng khẳng định Poe có đến Philadelphia trong những ngày cuối đời hay không, nhưng một người quen biết nhà văn là Thomas Lane tiết lộ, Poe đã có mặt tại Philadelphia vài ngày trước khi người ta tìm thấy ông tại Baltimore (thông tin này cũng không thể kiểm chứng).

Một nhân vật đáng quan tâm nữa là Neilson Poe. Dù không có tài liệu nào của Neilson về cái chết của Poe được tìm thấy ngày nay, nhưng như thế không có nghĩa là ông không kể câu chuyện mà mình biết cho một ai đó. Ban đầu, tôi cho rằng, Neilson sẽ kể cho cháu gái của mình là Amelia Poe. Nhưng thực tế, Neilson đã kể nó cho một người bạn tên là Coale khi anh này đang thu thập tài liệu để viết một bài báo về Edgar cho tạp chí của Harper vào năm 1871. Ông đã chia sẻ một số thông tin để bạn mình sử dụng một cách thận trọng và hợp lý.

Trong số các mẩu tin của Coale, có một chi tiết nói rằng, theo Neilson, Edgar đã đi Philadelphia hoặc ít nhất là đã thử đi. Poe đã lên đường đến Philadelphia nhưng vì uống phải vài cốc rượu, ông mất tự chủ và lại bị tống lên tàu trở về Baltimore. Cách giải thích này nghe ra có vẻ mơ hồ nhưng đã bổ sung cho một số thông tin khác. Poe có vẻ như đã định đến Philadelphia nhưng không thành chứ không phải là ông không định đến thành phố này.

Một trong những điều thú vị nhất tôi vừa khám phá ra đã củng cố cho thông tin của Neilson rằng Poe chưa từng đến Philadelphia, đồng thời phủ nhận giả định của Lane về việc nhà văn từng ở Philadelphia. Poe, vốn mất mẹ từ nhỏ, nên ông sống gắn kết với người dì của mình là Maria Clemm – bà đồng thời cũng từng là nhạc mẫu của nhà thơ. (Poe có một người vợ đầu 13 tuổi là em họ của ông).

Trong quá trình đi du lịch đây đó, Poe thường viết thư về cho dì và ông cũng yêu cầu bà viết lại cho mình. Poe đã đề nghị Clemm gửi trước cho mình một lá thư đến Philadelphia. Ông sẽ nhận được nó khi ông đến thành phố này. Poe hướng dẫn Clemm gửi thư đến cho mình qua bút danh “EST Grey, Esquire” và không ký tên thật ở cuối thư.

Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 19 tại Mỹ, người dân thường đến bưu điện nhận thư chứ không có bưu tá mang đến tận nhà. Nếu bức thư nào đó không có người nhận, báo chí sẽ đăng tin. Vào 3/10/1849 – đúng ngày Poe được phát hiện nằm bất tỉnh tại nhà trọ Ryan’s, trên tờ Philadelphia Public Ledger có liệt kê một bức thư không người nhận gửi cho “Grey, ESF”. Rõ ràng là Maria Clemm đã gửi thư cho Poe (nhưng có thể chữ “T” đã bị nhầm lẫn như thế nào đó thành chữ “F” trong từ “EST”). Như vậy là Poe đã không tới được Philadelphia. Đây có thể là lá thư cuối cùng được gửi đến cho Poe trong cuộc đời ông.

Cùng với cái chết của Christopher Marlowe, cái chết của Edgar Poe là những bí ẩn lớn nhất trong đời sống văn học nhân loại. Nhưng Marlowe vốn là một mật vụ, còn Poe chỉ là một con người bình thường, rất bình thường dù đây đó có những gia thoại rằng ông sống có phần kín đáo và khá lãng mạn.

Hà Linh dịch

(Nguồn: Telegraph

Biên niên ký chim vặn dây cót

Haruki Murakami đã khắc hoạ những cung bậc tinh tế biến ảo tới mức siêu thực của đời sống nội tâm và những giấc mơ, đã vượt qua những thủ pháp kể chuyện có phần duy lý của phương Tây, bộc lộ một cái nhìn tràn đầy vẻ đẹp của Thiền và triết lý phương Đông trong một tinh thần nhân đạo mạnh mẽ.

Haruki Murakami –

Tên sách: Biên niên ký chim vặn dây cót
Tác giả: Haruki Murakami
Dịch giả: Trần Tiễn Cao Đăng
Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Nhã Nam ấn hành.

bien-nien-ky-chim-van-day-cot
Tiếng hót của con chim vặn giây cót chỉ vang lên vào những thời khắc quyết định, khi con người tỉnh thức những tiếng lòng thầm kín, hay khoảnh khắc thấu suốt cảm giác về Định mệnh; tiếng chim tiên báo những thảm hoạ khốc liệt khơi nguồn từ chính con người, cũng là tiếng thúc giục âm thầm của khát vọng đi tìm chân lý. Tiếng hót của chim vặn giây cót trở thành biểu tượng sự thức tỉnh những xúc cảm mãnh liệt và sự trưởng thành về bản ngã của con người trong đời sống hiện đại. Đó chính là ý nghĩa của hình tượng chim giây cót xuyên suốt cuốn tiểu thuyết lớn của Haruki Murakami

Nếu như Rừng Nauy vừa được trao giải thưởng Franz Kafka năm 2006 của Viện hàn lâm nghệ thuật CH Czech, thì Biên niên ký chim vặn dây cót là tiểu thuyết chính thức làm nên tên tuổi Haruki Murakami ở phương Tây và nhiều nước khác trên thế giới. Đến độ trên bìa các cuốn sách khác của Murakami, người ta thường đọc thấy dòng quảng cáo “Được viết bởi tác giả của Biên niên ký chim vặn dây cót”.

Câu chuyện đưa ta đến nước Nhật thời hiện đại, với những thân phận con người bé nhỏ, lạ lùng. Những cô bé 15 tuổi, như Kasahara May, ngồi sau xe môtô phóng với tốc độ kinh hoàng, vươn tay bịt mắt bạn trai phía trước. Sau tai nạn, bạn trai qua đời, chỉ còn lại mình cô với nỗi day dứt khôn nguôi: “Chính vì có cái chết, người ta mới phải băn khoăn nhiều đến thế về sự sống.” Những thiếu nữ, như Kano Kreta, tự kết liễu đời mình để giải thoát những cơn đau triền miên có thể gặp phải bất cứ lúc nào, vì bất cứ điều gì nhưng không thành. Phải trả nợ một khoản tiền lớn cho hãng bảo hiểm, không do dự, cô đi làm gái điếm. Những Dân biểu nghị viên như Wataya Noburu, leo cao trong danh vọng nhờ tài lừa dối đám đông và khả năng khơi dậy những bản năng sa đoạ ở người khác… Trong thế giới ấy, nhân vật chính của Biên niên ký chim vặn giây cót, Okada Toru, chàng trai giản dị và chân thành, phải đối mặt với biến cố lạ lùng: Kumiko, người vợ yêu dấu của anh bỗng nhiên biến mất không một lời nhắn gửi. Sự kiện phi lý này khơi nguồn cho sự thức tỉnh trong Okada, thúc đẩy anh ngắm nhìn, chứng nghiệm lại thế giới tràn đầy cái phi lý chung quanh mình, bằng con mắt bản thể. Với Murakami, thế giới đầy những điều bất thường, phi lý trở thành động lực để con người lên đường trở lại với bản thể chính mình.Cũng tại thời điểm này, Toru Okada nghe thấy tiếng hót của con chim vặn giây cót, như tiếng vọng của bản ngã chính anh. Watanabe bắt đầu cuộc hành trình nhận thức, cuộc hành trình tràn đầy những xúc cảm mãnh liệt khám phá lại cuộc sống và tình yêu đã qua, cuộc sống đang diễn ra, của chính mình và những người xung quanh. Với Okada, từ đây cũng mở ra một thế giới siêu thực với những giấc mơ đầy ám ảnh tính dục, những căn phòng tối đen ngào ngạt phấn hoa cất giấu bí mật về sự lệ thuộc và nô dịch, bóng tối thẳm sâu của bản ngã và xa rời bản ngã, Thiền, và những năng lực tâm linh siêu hình. Trong những mối quan hệ đầy cảm thông và gần gũi với những phụ nữ khác, Kasahara May, mẹ con nhà tạo mẫu Akasaka Nhục đậu khấu, hay Kano Kreta…, Okada dần dần hiểu ra bản chất của cuộc sống con người, không phải một mắt xích của thế giới vật chất cơ giới từ bên ngoài, mà chính là những năng lực tưởng tượng sáng tạo của nội giới, những ám ảnh tinh thần truyền từ người nọ sang người kia, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Okada cũng nối lại trong mình sợi dây liên kết bí ẩn mà mạch lạc với quá khứ xa xăm, nhờ những câu chuyện của các chiến binh xưa và nhân chứng sống như Akasaka. Một thế giới khác, giấc mộng bá chủ không thành của quân đội Thiên hoàng trên cao nguyên Nội Mông, trận Normohan, Trân Châu Cảng, những cuộc tàn sát man rợ trong và sau Thế chiến 2, khi con người từng rơi vào vực thẳm bởi chính sự tàn ác và lầm lạc của chính mình. Okada đã giác ngộ, không còn cách nào khác, chỉ có cương quyết diệt trừ cái ác, bắt đầu từ trong chính những – giấc – mơ của con người, đấu tranh chống lại nó trong chính thực tại hôm nay. Đó cũng là con đường để giải thoát cho người vợ thân yêu của anh đang bị giam cầm trong vết thương tinh thần như một ác mộng khủng khiếp về con quỷ Râu xanh, do chính người anh vợ, chính khách Wataya Noburu gây nên.

Okada và Watanabe của Rừng Nauy, là loại nhân vật quen thuộc của Murakami. Chân thành và giản dị, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ khuôn mẫu xã hội nào, sống và yêu thương với bản tính tự nhiên và hiện sinh, đồng thời lắng nghe, cảm thông, kết nối con người với nhau – các nhân vật thể hiện trọn vẹn và sâu sắc tinh thần nhân đạo của Murakami.

Bạo lực và tình dục, những yếu tố thịnh hành của thể loại tiểu thuyết đen phổ biến trên thế giới, xuất hiện trong tác phẩm của Murakami chỉ như một trong những phương diện miêu tả và khám phá đời sống. Vẻ đẹp tràn đầy tác phẩm là sự tinh tế và mãnh liệt của tinh thần và bản ngã con người, đủ để đưa Murakami đứng vào hàng các tác gia vĩ đại trên thế giới.

So với bản dịch Rừng Nauy ngọt ngào của Trịnh Lữ, Biên niên ký chim vặn dây cót đến với người đọc Việt Nam qua bàn tay của dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng với một phong cách nổi bật bởi sự chân xác, thấu suốt. Người ta không còn có cảm giác đây là một tác phẩm dịch nữa, để có thể tin cậy đắm mình vào sự dẫn dắt kỳ tài của một câu chuyện lớn.

Khánh Phương

Giá đâu đó có người đợi tôi

Giá đâu đó có người đợi tôi

Lối viết nhẹ nhàng, mỉa mai, hài hước đến lạnh lùng nhưng chạm tới những trái tim đau khổ đã tạo ra cảm xúc thật khó phai, khiến ta xáo động.

Anna Gavalda

Tên sách: Giá đâu đó có người đợi tôi
Tên tác giả: Anna Gavalda
Dịch giả: Bằng Quang
NXB Hội nhà văn năm 2008

Không quá ồn ã, cũng không trải rộng ào ạt, là những câu chuyện nho nhỏ, những lát cắt mỏng, và những nhân vật bạn có thể gặp bất kỳ nơi đâu quanh mình. Nhưng trong đó có những lối nghĩ giản dị mà hóm hỉnh, nhẹ nhàng mà thấm sâu, bạn có cảm giác thân quen và đôi khi hiểu họ như chính bản thân…

Thế giới nhân vật trong Giá đâu đó có người đợi tôi mang một dấu ấn riêng. Đó là một cô gái kiêu kỳ luôn ý thức về sự lôi cuốn của lớp da mịn màng nơi bầu ngực, nơi bờ vai trần và sử dụng chúng như một thứ vũ khí tấn công phái mạnh (Tập tành thượng lưu trí thức). Đó là một chàng hạ sĩ quan nóng nảy, bất cần chợt gặp lại cô bạn thuở nào, nay đã trở thành bạn gái của ông anh trai tài ba (Về phép). Đó là một người chồng cần mẫn mài giũa vị trí của mình trong gia đình mà không thể quên một bóng hình xưa, cho đến ngày đột nhiên nhận được lời hẹn gặp lại (Trong nhiều năm liền)…

Họ đều sống như hiểu mình phải sống, biết làm chủ bản thân và cảm xúc, nhưng điều tuyệt vời nhất là tất cả đều sống thực với bản thân. Đâu cần giấu giếm tâm trạng “tôi đang cần tình yêu”, một cô gái thú nhận trái tim mình như một chiếc túi lớn rỗng tuếch, cái túi đựng được cả khu chợ Ảrập nhưng chẳng có gì bên trong (The Opel Touch). Không thể im lặng trốn tránh, anh chồng nọ đã bỏ qua lời cầu xin của vợ, sự quyến luyến của gia đình, muốn thú tội chỉ vì một thao tác vận hành xe sai quy cách, anh đã vô tình gây nên tai nạn giao thông liên hoàn làm nhiều người chết trên xa lộ (Sự kiện trong ngày)…

Giá đâu đó có người đợi tôi

Trang bìa cuốn sách.

Những nhân vật ấy chẳng chút ngần ngại trong việc bày tỏ khuôn mặt thật và cảm xúc bên trong, cứ như thể độc giả là người bạn gần gũi, đáng tin cậy lắm. Cho dù đó là tâm trạng ủ chê chán chường của một phụ nữ quá thất vọng về chồng mình, vì chị chưa bao giờ được yêu thương và biết chồng đang phản bội (Người đàn ông và người đàn bà). Hay đó là một tình huống dở khóc dở cười của anh chàng độc thân khi đón người trong mộng đến nhà mà không biết sẽ xử lý thế nào với cái giường gấp tai quái (Giường xếp). Căng thẳng hơn là tâm trạng bình thản đến phát sợ của nữ bác sĩ thú y nọ, lạnh lùng xử lý những gã đàn ông vừa hiếp mình (Chỉ ruột mèo)…

Những câu chuyện nhiều sắc màu tâm lý ấy; những giọng điệu đa dạng từ châm chích, mỉa mai đến hài hước, lạnh lùng ấy; những lát cắt vụt hiện ra với độ chân thật đầy thuyết phục ấy… tất cả gộp lại trong một cái nhìn gần gụi, sâu sắc và đầy cảm thông về con người, về những thói quen thường nhật và sự đấu tranh trong nội tâm. Điều này làm nên sự mới mẻ trong cuốn truyện nhỏ của Anna Gavalda: sự kết hợp tuyệt vời giữa những điều giản dị, yếu tố huyền diệu và bi kịch xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.

Anna Gavalda (sinh năm 1970) là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất tại Pháp, riêng cuốn Giá đâu đó có người đợi tôi đã được chuyển ngữ ra ba mươi thứ tiếng khác trên thế giới. Không chỉ là một hiện tượng trong văn học, Anna Gavalda còn là một hiện tượng trong xã hội Pháp (được gọi là Gavaldania) sau những thành công rực rỡ từ các tác phẩm ít ỏi của mình: chỉ với ba tác phẩm đã bán ra hơn ba triệu bản, nhận được các giải thưởng văn học và hai trong số đó được chuyển thể thành kịch bản phim. Tác phẩm mới nhất của nữ tác giả 38 tuổi này là La Consolante (Niềm an ủi), ra mắt tại Pháp hồi tháng 3.

Mi Linh