All posts by Đọc sách online

Bình cứu hỏa Mini Trung quốc giá rẻ bao nhiêu?

Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thiên Bằng là một trong những đơn vị đầu tiên nhập khẩu và cung cấp bình cứu hỏa mini dành cho xe ô tô phục vụ thị trường Việt Nam.

bình cứu hỏa mini Trung Quốc
Bình cứu hỏa mini hiệu quả với những đám cháy mới khởi phát và hiệu quả nhất là giúp cho người khác khi gặp cháy xe. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người tiêu dùng tin tưởng hoàn toàn vào loại bình chữa cháy này. Cách tốt nhất để tránh cháy xe vẫn là “phòng còn hơn chống”, bằng việc không lắp đặt thêm các thiết bị, phụ kiện có mức tiêu thụ điện lớn, thường xuyên bảo trì, bảo dưỡng sửa chữa xe tại những nơi bảo đảm chất lượng, sử dụng nhiên liệu (xăng, dầu) đúng chủng loại, chất lượng quy định…

Nên biết về phong thủy khi nuôi cá cảnh

Cách áp dụng phong thủy vào nuôi cá cảnh đó là điều bạn nên biết. Không chỉ đơn thuần là một thú vui tao nhã, thuật Phong Thuỷ còn cho rằng nuôi cá cảnh trong nhà sẽ đem lại nhiều điều may mắn và sự an lành, thịnh vượng cho gia chủ nếu tuân thủ đúng theo những nguyên tắc nhất định.

Theo Phong Thuỷ thì hướng tốt nhất để đặt bể cá là Bắc hoặc Đông Nam. Cụ thể, hướng Bắc thuộc cung Quan Lộc, tượng trưng cho sự may mắn, tài lộc còn hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho sự giàu có.

Cá và nước là hai khái niệm gắn liền không thể tách rời, nước là môi trường sống, là nơi cá sinh trưởng, phát triển vì thế đặt bể cá theo hai hướng này sẽ làm cho những điềm lành, những điều may mắn đến với gia đình bạn nhiều hơn.

 

Nếu bạn là một doanh nhân, công việc kinh doanh với bạn là tối quan trọng và để cho mọi thứ với bạn được thuận lợi hơn thì tốt nhất đặt bể cá ở hướng Đông Nam nên thả tám con cá màu đỏ và một con màu đen.

Theo quan niệm của người phương Đông, số 8 tượng trưng cho sự mạnh mẽ. Ngoài ra, thả cá theo nguyên tắc này, bạn còn đạt được sự hài hoà âm dương. Nếu bể cá được đặt ở những không gian rộng như phòng khách thì bạn nên chọn nuôi cá kích thước lớn như cá rồng, tai tượng, la hán…

Trong trương hợp bể cá nhà bạn được đặt ở hướng Bắc thì bạn nên chọn những loại cá có màu ánh kim như ngân long, mã giáp, ánh trăng… vì hướng này thuộc hành Thủy. Theo ngũ hành tương sinh tương khắc thì Kim sinh Thuỷ.

Nếu bạn đặt bể cá ở hướng Đông Nam thì hướng này thuộc hành Mộc, do đó bạn nên thả cá có màu đỏ, hồng, màu da cam… Những màu này thuộc hành Hỏa, Mộc sinh Hỏa sẽ đem lại thịnh vượng cho gia đình.

Những phòng lớn như phòng khách là nơi thích hợp để nuôi các loại cá này có dáng vẻ to lớn uy nghi, thể hiện sự sang trọng, quyền uy còn trong những không gian hẹp hơn như phòng giải trí, phòng ăn nên nuôi cá nhỏ như cá đuôi én.

Cá có màu đen tượng trưng cho sự an lành trong khi cá có màu vàng tượng trưng cho sự may mắn. Sự kết hợp tốt nhất là hai chú cá vàng (tượng trưng cho sự may mắn và giàu năng lượng) và một chú cá đen (tượng trưng cho sự an lành). Một chậu cá đặt ở bên trái cửa ra vào sẽ mang lại tài lộc cho gia chủ.

Ngoài ra, ở nơi cần sự yên tĩnh, bạn nên nuôi loại cá bơi chậm, thong dong như cá ông tiên. Bạn cũng cần lưu ý không nên đặt hồ cá trong phòng ngủ bởi những bất tiện có thể phát sinh như việc những chú cá đôi khi sẽ làm bạn bị giật mình mất giấc ngủ, chưa kể mùi nước cá, máy sủi bọt, máy bơm kêu liên tục.
Viet Bao (Theo_dothi)

Quê hương của Tế Hanh – nhìn phía lời đề từ

1.

Với tư cách là “thành phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm“(1), lời đề từ “Chim bay dọc biển đem tin cá” trong bài thơ Quê hươngnổi tiếng của Tế Hanh ít khi được người đọc dành cho sự quan tâm cần thiết, thậm chí có lúc còn bị lãng quên. Ngay cả tuyển thơ Thi nhân Việt Nam (1941) cũng bỏ qua lời đề từ ấy. Trong lời “Nhỏ to…” in cuối cuốn sách, các tác giả bộc bạch: “Tôi xin lỗi vì đã tự tiện bỏ hầu hết những lời đề tặng trên các bài thơ. Trong một quyển hợp tuyển những lời ấy sẽ thành vô nghĩa. Tôi chỉ giữ lại những lời đề tặng cần phải có mới hiểu được ý thơ“(2). Các tác giả Thi nhân Việt Nam là những người có phong cách cẩn trọng và quan điểm phê bình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người“. Với lời đề tặng mà cân nhắc như thế, thì với đề từ chắc chắn họ sẽ rất đắn đo. Bởi thế, trong phạm vi tư liệu có thể tìm hiểu, chúng tôi chỉ hơi ngạc nhiên về điều thiếu sót này. Có thể nhà soạn sách chép thơ theo trí nhớ chăng?! Nhưng đáng ngạc nhiên hơn ở chỗ: sách giáo khoa hiện hành đã in nguyên dạng rồi (SGK chú thích nguồn: trong Thi nhân Việt Nam??), mà nhiều người vẫn sơ ý bỏ qua.
2. Hơn một lần, cả trong thơ và trong những bài trả lời phỏng vấn của bạn văn, Tế Hanh nhắc đến lời đề từ ấy. Xin trích một đoạn điển hình: “Tôi đến với thi ca khá sớm. Cha tôi là một nhà nho (…) Ông thường đọc cho tôi nghe những bài thơ chữ Hán của các nhà thơ đời Đường và của ông cha ta trước kia, dù không hiểu gì mấy nhưng tôi vẫn thấy hay. Ngoài ra, cha tôi còn làm nhiều bài thơ chữ Nôm. Tôi nhớ nhất là bài tả cảnh quê nhà, trong đó có hai câu mà tôi rất thích: Chim bay dọc biển đem tin cá/ Nhà ở kề sân, sát mái nhà. Khi làm bài thơ Quê hương vào năm 1939, tôi đã lấy câu thơ của cha tôi làm tiêu đề.”(3) Như vậy, có thể khẳng định Tế Hanh đã sử dụng câu đề từ (ông gọi là “tiêu đề“) “Chim bay dọc biển đem tin cá” và chú thích dòng chữ “Câu thơ của thân phụ tôi” ngay khi sáng tác bài thơ và chép tay vào tập “Nghẹn ngào” (tập thơ đoạt giải thưởng Tự lực văn đoàn, năm 1945 bổ sung tái bản với cái tên “Hoa niên“). Điều này rất có ý nghĩa. Nó chứng tỏ dù là “thành phần nằm ngoài văn bản” nhưng trong trường hợp này giữa lời đề từ và văn bản thơ “Quê hương” chắc chắn có mối quan hệ hữu cơ. Cách gọi đề từ là “tiêu đề” cũng rất đáng lưu tâm. Có thể nhà thơ của chúng ta không mấy quan tâm đến thuật ngữ, nhưng chữ “tiêu đề” mà ông dùng trong trường hợp này nó gợi một cách hiểu linh hoạt. Tiêu đề chính thức của văn bản là Quê hương, phải chăng theo thi nhân nó còn có thể có một tiêu đề khác nữa? Nếu thế, cái “tiêu đề” mà Tế Hanh nói chẳng phải đã cùng sinh mệnh với 20 dòng thơ kia rồi sao?! Mặt khác, chúng ta cũng cần chú ý tới thái độ hết sức kính trọng của tác giả trong cách chú thích lời đề từ: “Câu thơ của phụ thân tôi“. Trong thái độ kính trọng phụ thân còn biểu hiện sự hàm ơn. Hàm ơn không chỉ bởi nhà thơ tưởng nhớ công sinh thành trời biển mà còn vì công “nuôi dưỡng tâm hồn” (Thơ đã hóa tâm hồn/ Sách đã thành tri kỷ – bài Cái tủ sách của cha tôi), công lao dắt dẫn mình vào thế giới diệu kì của thi ca. Bài Quê hương viết trong xa cách, trong nỗi niềm da diết nhớ quê. Nỗi nhớ quê gắn liền với nỗi nhớ gia đình và người thân, đặc biệt là nỗi nhớ người cha thích cảm tác và ngâm vịnh văn chương. Không bắt đầu từ những gì gắn bó nhất, thân thuộc nhất, máu thịt nhất, liệu cảm xúc có trào dâng và tài năng Tế Hanh có thăng hoa để Quê hương có thể thành kiệt tác? Câu trả lời tưởng đã quá rõ! Nói theo cách của các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học thì ở đây chính lời đề từ đã “khơi nguồn cảm hứng cho tác giả trong quá trình sáng tạo“(4). Và như vậy, nhìn phía lời đề từ nghĩa là nhìn phía tâm lý sáng tạo, trong trường hợp này là nhìn phía sự kiện đời sống làm bật nảy tứ thơ, khơi dậy và định hình dòng cảm xúc mãnh liệt trong bài thơ. Nhìn phía lời đề từ, bởi thế, cũng là một góc nhìn giúp người đọc thấy thêm nhiều vẻ đẹp của tác phẩm, có thêm cơ hội chiếm lĩnh được bài thơ trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó.
3. Nhưng nhiều người chắc chẳng thấy thuyết phục bởi cách lý giải theo quy luật bếp núc ấy? Họ sẽ cho đó là suy diễn. Nói gì thì nói, văn chương là sáng tạo, là nghệ thuật của ngôn từ, là “cây đời xanh tươi“, không thể quy kết nếu không bám vào thế giới hình tượng. Thế nên, chúng ta cần nhận rõ mối quan hệ hữu cơ giữa lời đề từ và văn bản thơ Quê hương.
Vì sao trong vô số bài thơ mà người cha từng đọc, nhà thơ lại nhớ và thích nhất câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá“? Là người có lòng với văn chương nhưng cụ Trần Tất Tố hình như không có duyên cùng chữ nghĩa. Bạn đọc biết đến lòng yêu văn chương của cụ có lẽ chỉ bởi câu thơ được con trai cụ lấy làm đề từ trong bài thơ nổi tiếng này thôi. Câu thơ rất bình thường trích trong một bài thơ cụ làm tả cảnh quê nhà. Nói là bình thường bởi dù viết với hình thức thất ngôn với mục đích vịnh cảnh nhưng lời thơ rất giản dị, nôm na. Thế nhưng, khi tách khỏi bài thơ, nó lại có sức gợi lạ lùng. Nó giản dị như một câu tục ngữ nhưng lại có sức gợi mạnh mẽ như ca dao trữ tình. Có lẽ Tế Hanh cảm nhận được vẻ đẹp kì diệu đó của câu thơ chỉ từ khi chàng trai 15 tuổi mang theo nó trong kí ức xa quê, trải nghiệm trong nỗi niềm nhớ quê? Và có lẽ mỗi lúc nhớ quê, chàng trai ấy lại hướng lòng về xứ Quảng và ngâm nga “Chim bay dọc biển đem tin cá/ Nhà ở kề sân, sát mái nhà“?!… Câu thơ thứ hai thuần tả cảnh, giản đơn. Câu thứ nhất vừa tả cảnh vừa tái hiện bức tranh cuộc sống sinh động. Câu thơ viết về cảnh “chim bay dọc biển” khiến người đọc hình dung một không gian cao rộng, trải dài, khoáng đạt của trời biển bao la. Những cánh chim bay “dọc biển” gợi sự thanh bình, yên ả của cuộc sống, nhất là cuộc sống của dân chài lưới ven biển, bám biển. Vế sau của câu thơ, đặt trong mối liên hệ với vế trước còn hé lộ một kinh nghiệm sống của dân chài: Chim bay dọc biển đem tin cá. Với dân biển, muốn biết tình hình thời tiết để ra khơi, theo kinh nghiệm xưa, họ quan sát bầu trời để thu thập thông tin rồi mới quyết định. Những cánh chim bay “dọc biển” là một trong rất nhiều thông số quan trọng. Nếu chim bay gấp gáp, loạn xạ, có khi như lao vút, như muốn đâm đầu vào những xóm mạc ở đất liền… chính là dấu hiệu chẳng lành, là tín hiệu của bão tố, phong ba. Những cánh chim hiền hòa “dọc biển” dạo bay trong không gian một bên là bờ bãi và một bên là biển cả xanh biếc mênh mông mang theo thông điệp bí mật và tinh tế của thiên nhiên về những ngày trời yên bể lặng. Chim đem tin, và dân biển sẽ nhận tin! Bộc lộ một tình cảm gắn bó với quê hương, gợi một cảnh vật điển hình và mang chở một kinh nghiệm truyền thống quý báu trong một hình thức ngôn từ giản dị, đó là vẻ đẹp của câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá“. Ngẫm câu thơ này, chợt nhớ một ý của Hữu Thỉnh: “Những câu thơ hay thường có xu hướng tách ra khỏi bài thơ để trở thành các giá trị độc lập. Nói một cách khác, những câu thơ hay thường xóa bỏ xuất xứ của nó“(5). Có thể coi câu thơ chúng ta đang đọc thuộc vào số ấy. Cụ Trần Tất Tố tả cảnh mà gợi được cái thần sắc, cái linh hồn kì diệu của cảnh đã có sức khơi gợi mạnh mẽ những vùng sáng trong kí ức người đọc. Người đọc tâm đắc trước hết của cụ chính là Trần Tế Hanh, con trai cụ. Chính câu thơ gợi linh hồn làng biển của cụ đã thức dậy cảm hứng mãnh liệt của Tế Hanh, để nhà thơ trẻ viết nên kiệt tác về quê hương vạn chài – ở kiệt tác ấy linh hồn làng biển hiện lên đầy hình sắc. Nói câu thơ đề từ là sự kiện đời sống làm bật nảy tứ thơkhơi dậy và định hình dòng cảm xúc mãnh liệt trong bài thơ là nói theo ý nghĩa ấy. Câu đề từ gợi hứng, hình ảnh và kỷ niệm bừng dậy, bài thơ cứ thế hình thành một cách hết sức tự nhiên như bức tranh cuộc sống vốn vậy.
Đọc Quê hương, nếu bỏ qua những điều vừa nói ở trên, liệu có làm mất đi cơ hội thấy thêm nhiều vẻ đẹp của tác phẩm, có thể chiếm lĩnh được bài thơ trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó? Rất có thể. Ở trên, ta vừa nói đặc sắc của bài thơ quê hương là đã gợi hình sắc linh hồn làng biển từ trong nỗi nhớ. Thực tế, vì sơ ý bỏ qua lời đề từ, nhiều người đã đọc và giảng dạy Quê hương theo những hướng khác nhau, ít chú ý khai thác điểm đặc sắc, có tính khác biệt của nhà thơ xứ Quảng trong bài thơ về một chủ đề quá quen thuộc.
Về hai câu thơ mở đầu bài thơ, các tác giả của Sách giáo viên Ngữ văn 8tập 2, tr. 23 hướng dẫn: “Hai câu thơ mở đầu rất bình dị, tự nhiên, tác giả giới thiệu chung về làng quê của mình, nội dung hầu như chỉ có ý nghĩa thông tin,...”. Nói Tế Hanh giới thiệu chung về làng quê “bình dị“, “tự nhiên” là đúng nhưng nói “nội dung hầu như chỉ có ý nghĩa thông tin” thì không chính xác. Chi tiết thơ “cách biển nửa ngày sông” là cách nói quá quen thuộc với tác giả – người có 15 năm tuổi thơ gắn bó với quê hương làng chài, nhưng lại lạ lẫm với tất cả chúng ta. Đó là cách nói đặc trưng của người dân có gốc gác “vốn làm nghề chài lưới“. “Từ đất quế, sông Trà Bồng thẳng một dòng chảy về hướng đông. Đến đoạn thôn Giao Thủy, xã Bình Thới, huyện Bình Sơn, sông tách ra làm đôi ôm kín một vùng đất rồi hợp dòng xuôi về cửa biển Sa Cần. Đất cù lao ấy có tên gọi là xa Bình Dương, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Tế Hanh.“(6) Vị trí, khoảng cách ấy qua thơ Tế Hanh thật khác. Cách đo khoảng cách bằng “ngày sông” chẳng phải là lối nói bằng hình tượng độc đáo của những con người mộc mạc chốn làng quê đó sao?! Cách nói, cách nghĩ của người dân quê nơi nào thường gắn với thổ ngơi nơi ấy!
Ở đoạn thơ thứ hai, trong cảm hứng mà câu thơ “Chim bay dọc biển…” khơi gợi, tác giả nhớ lại và đặc tả cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá. Đó là bức tranh cuộc sống lao động sáng tươi và khỏe khoắn. Kí ức về cảnh sinh hoạt quê nhà trong Tế Hanh như vẫn nguyên sơ. Trung tâm bức tranh là hình ảnh con thuyền và người dân chài. Những dòng thơ tả cảnh, tả người ở đây đều sinh động, tài hoa. Tả con thuyền “hăng như con tuấn mã/ Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang” mà gợi lên vẻ đẹp cường tráng, dồi dào của người dân lao động miền quê biển. Đặc biệt, linh hồn làng biển hiện hình qua câu thơ tài hoa chớp được cận cảnh “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng/ Rướn thân trắng bao la thâu góp gió“. Phép so sánh thông thường chỉ làm cho sự vật hiện lên cụ thể, sao qua cách so sánh của Tế Hanh sự vật bỗng trở nên trừu tượng, lớn lao, kì vĩ và linh thiêng?!
Tế Hanh không có ý định tái hiện cảnh lao động một cách trọn vẹn, mà chỉ tập trung thể hiện những dáng nét ấn tượng, thân quen. “Quảng Ngãi ơi! Nơi đã sinh ta/ Đến tuổi mười lăm sống tại nhà/ Từ đấy ta đi, quê khắp xứ/ Suốt đời quê mẹ vẫn không xa.” Đó là bài thơ Gửi Quảng Ngãi (1983), một kênh lý giải cội nguồn cảm hứng trong sự nghiệp thơ của ông, và góp phần cho chúng ta hiểu hơn bài thơ Quê hương. Những hình ảnh làng quê hiện về trong kí ức, thức dậy những kỷ niệm, và vì không trải nghiệm cuộc sống thực sự của người dân đánh cá nên thi sĩ không nói về cảnh “Ra đậu dăm khơi dò bụng biển/ Dàn đan thế trận lưới vây giăng” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận), chỉ nhớ cảnh trên bờ. Với tình cảm sâu sắc, khả năng quan sát tinh tế, Tế Hanh đã thể hiện được nhiều nét thần tình. Một câu nói quá đỗi quen thuộc của người dân chài “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe” được nhớ lại, gợi nhắc không khí náo nhiệt, đặc tả niềm vui bình dị, tình cảm chân thành cảm tạ thiên nhiên. Cảm tạ “ơn trời” phải chăng là cảm tạ từ ân huệ thiên nhiên ban tặng qua tín hiệu “Chim bay dọc biển…”? Màu sắc tín ngưỡng trong câu thơ giản dị khắc họa rõ nét thêm vẻ đẹp mộc mạc của tâm hồn người lao động! Với cảm hứng tái hiện nét thần tình của cảnh vật đang dâng trào mãnh liệt, Tế Hanh đã có được những dòng tuyệt bút: “Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng/ Cả thân hình nổng thở vị xa xăm;/ Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm/ Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ“. Con thuyền đánh cá ở biển và người dân lao động làng chài đã hiện lên đúng thần thái, hồn vía và trở nên sống động phi thường.
Trong đoạn kết trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ quê, nhà thơ đã khái quát những nét tiêu biểu đọng lại trong tâm tưởng khi “xa cách“: màu nước biển biếc xanh, màu cá bạc tươi ngon, màu của cánh buồm vôi lộng gió… Tất cả vẫn còn hằn in. Cùng với đó là hình ảnh “động”: “Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi“. Quê hương tươi nguyên trong trái tim người xa cách không chỉ với những ảnh hình từ “tĩnh” đến “động” mà còn với cả “cái mùi nồng mặn” đặc trưng. Đó là cái vị xa xăm mặn mòi của biển khơi ngấm đọng trong thân hình dân chài lưới, cái mùi thấm sâu trong từng thớ gỗ của những con thuyền hòa lẫn cái mùi phảng phất trên khắp vùng quê biển “Gió đưa thơm mùi cá nướng ngọt ngào“… Cái mùi ấy mơ hồ nhưng chính nó khiến cho nỗi nhớ quê thường trực, da diết trở nên hiện hữu, sâu sắc và ám ảnh lòng người hơn bao giờ hết!
4. Chế Lan Viên nói Tế Hanh có “khả năng nhìn thấy hồn sự vật“(7), bài thơ Quê hương có lẽ là minh chứng thuyết phục nhất cho điều đó. Thuyết phục bởi nó thuộc vào số những tác phẩm đầu tay, khi phẩm chất thi sĩ bộc lộ một cách hồn nhiên, trong sáng nhất. Thuyết phục còn bởi trong sự nghiệp thơ ca của Tế Hanh đóng góp lớn cho thơ ca dân tộc, đây là một trong những bài xuất sắc điển hình. Cái khả năng “nhìn thấy hồn sự vật” ấy phải chăng là biểu hiện gien trội di truyền từ ông đồ nho Trần Tất Tố từng kết tinh ở câu thơ “Chim bay dọc biển đem tin cá” ngày xưa?!

Tháng 10/2012
N.T.T



1 Nhiều tác giả – Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H. 2004, tr. 112
2 Hoài Thanh – Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, H. 1996, tr. 376
3 Lê Minh Quốc – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, H. 2000, tr. 489
4 Nhiều tác giả – Sđd, tr. 112
5 Hữu Thỉnh – Theo Tạp chí Thơ, số 5-2012, tr. 66
6 Trần Thanh Tánh – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr. 508
7 Chế Lan Viên – Tế Hanh, về tác gia và tác phẩm, Sđd, tr. 160

 

Nguồn tin: TCNV 03-2013

“Giải mã thuật lãnh đạo” – Khám phá năng lực lãnh đạo trong bạn

Nguyên tác: Making Sense of Leadership

Tác giả: Esther Cameron – Mike Green

Người dịch: Thành Khang – Trung Tín

Nhà xuất bản: Văn hóa Thông Tin 2013

Sách gồm: 295 trang

cover-giaimathuatlanhdao

Nội dung chính:

Bằng việc xem xét cách mà những nhân vật xuất sắc đã thực hiện, tác giả xác định và đúc kết 5 vai trò của các nhà lãnh đạo thành công bằng những ý tưởng đơn giản, rõ ràng. Qua đây, bạn có thể khám phá tiềm năng lãnh đạo của chính mình.

 

Phần I – Giới thiệu

 

1 – Lãnh đạo là một phẩm chất nội tại

 

Khi bạn bước lên vị trí lãnh đạo, mọi người bắt đầu có những kỳ vọng lớn lao về bạn. Đôi khi vai trò này là “nội xuất”, có thể hình ảnh bố mẹ, sếp hoặc một người thầy nào đó hiển hiện trong tâm thức bạn như một hình mẫu, bạn bắt đầu hành xử dưới cái bóng của họ. Nhưng cũng có thể bạn chưa có hình mẫu, bạn làm việc có phần khó khăn hơn, bạn phải “ngoại nhập”, nghĩa là cố gắng phát triển phẩm chất lãnh đạo của mình từ bên ngoài.

 

Để xác định 5 vai trò then chốt mà người lãnh đạo cần có, chúng tôi khám phá ra vai trò cốt lõi mà các nhà lãnh đạo thành công, thường đảm nhận một cách nghiêm túc để mọi thứ diễn ra không thể khác được.

 

2 – Tổng quan về năm quan trò

 

a. Người xúc tác mạnh: Dấu hiệu để nhận biết người này là họ thường đặt những câu hỏi khó, sắc sảo. Phát hiện những bất thường. Người xúc tác mạnh làm việc tốt trong hoàn cảnh gặp khó khăn, áp lực hay có khủng hoảng. Tiêu biểu như Hilary Clinton, Alex Ferguson, Alan Sugar.

 

b. Người tạo động lực có tầm nhìn: Dấu hiệu để nhận biết những người này là họ tạo bức tranh hấp dẫn về tương lai, tiếp sức và lôi kéo quần chúng. Thông qua việc hiện diện trong các nhóm, họ nói chuyện say sưa, luôn ở bên bạn bè và đồng nghiệp. Họ làm việc tốt nhất trong hoàn cảnh có sự chuyển đổi, đón nhận rủi ro. Tiêu biểu như Tony Blair, Howard Schultz, Anita Roddick.

 

c. Người kết nối thận trọng: Dấu hiệu để nhận biết những người này là họ củng cố và thiết lập những quy tắc đơn giản, có trọng tâm để tác động đến những hoạt động phức tạp và kết nối mọi người. Thông qua việc giới thiệu mọi người với nhau họ nói cho mọi người hiểu mục đích và ranh giới, thông tin về các bên liên quan. Người kết nối thận trọng làm việc tốt nhất khi có sự thay đổi phức tạp, tinh thần xuống thấp, gắn kết các đối tác. Tiêu biểu như Richard Branson, Tim Smit, Sven-Goran Eriksson.

 

d. Người thi hành kiên quyết:  Dấu hiệu để nhận biết người này là kiên trì theo đuổi kế hoạch, chỉ đạo cho đến khi hoàn thành. Họ thường sử dụng thời gian để nghiên cứu kế hoạch, huấn luyện nhân viên, tác động khách hàng và theo dõi tiến độ thực hiện. Họ làm việc tốt nhất khi dự án mang tính quyết định, xây dựng luật, thay đổi công nghệ. Tiêu biểu như Vladimir Putin, Michael Dell, Gordon Brown.

 

e. Người kiến tạo khôn ngoan: Dấu hiệu để nhận biết người này khi họ là kiến trúc sư, nhà thiết kế, người đưa ra ý tưởng riêng biệt, tạo ra cơ chế tổ chức. Họ thường sử dụng thời gian để suy nghĩ, đọc, đối thoại, phác họa những thiết kế, trình bày một kế hoạch. Họ làm việc tốt nhất khi thay đổi về tổ chức phức tạp, chiến thuật tầm xa, quy trình khó khăn. Tiêu biểu như George Soros, Bill Gates, Albert Einstein.

Mạc can

Mạc Can và ‘Cuộc hành lễ buổi sáng’

Trên bìa sách, họa sĩ Trần Đại Thắng sử dụng hình một con dao phóng ra, không lao đi mà chậm rãi bay lượn cùng những cái bong bóng, hay là những quả bóng ảo thuật. Ông hề Mạc Can thì nhắm mắt như chìm trong một giấc mơ… Họa sĩ dường như đã bắt trúng thần thái của Mạc Can trong những tác phẩm văn học của mình.

Hồ Anh Thái –  Continue reading