Tiểu thuyết

Thứ hai, 18/06/2007, 10:03
 

Trần trụi với văn chương (trích, phần 2)

Paul Auster

Private eye - con mắt riêng tư kín đáo. Thuật ngữ này có ba ý nghĩa đối với Quinn. Không những cái âm "ai" của từ eye là trùng với âm của chữ đầu tiên trong từ "investigator" - nhà điều tra - mà nó còn là cái âm của chữ "I" viết hoa, nghĩa là "tôi"...

Cũng như hầu hết mọi người, Quinn gần như chẳng biết gì về tội phạm. Hắn chưa từng giết ai, chưa ăn cắp cái gì bao giờ, và cũng không quen ai làm những chuyện ấy.

Hắn chưa từng vào bên trong một đồn cảnh sát nào, chưa từng gặp một thám tử nào, và chưa bao giờ nói chuyện với một tội nhân. Tất cả những gì mà hắn biết về những thứ này đều là do học được từ sách vở, phim ảnh và báo chí. Nhưng hắn không coi đó là một khiếm khuyết. Cái mà hắn quan tâm trong những câu chuyện mà hắn viết ra không phải là mối liên hệ của chúng với thế giới, mà là quan hệ của chúng với những câu chuyện khác.

Trước khi hắn trở thành William Wilson, Quinn đã là một độc giả cuồng nhiệt của tiểu thuyết trinh thám. Hắn biết rằng hầu hết những tiểu thuyết này đều viết vụng, và chỉ cần xét nét một tí thôi là chúng đều vô lý cả, nhưng hắn vẫn thấy mê thể loại này, và chỉ bỏ không đọc những cuốn nào họa hoằn thảm hại lắm mà thôi. Với những sách khác thì hắn có thị hiếu rất cao, đòi hỏi gần như đến mức hẹp hòi, nhưng với truyện trinh thám thì hắn gần như chẳng phân biệt gì. Khi hứng lên, hắn có thể dễ dàng ngốn hết mươi mười hai cuốn liền một mạch, giống như lên cơn thèm một món đặc biệt nào đó và phải ngấu nghiến đến căng bụng mới thôi.

Cái hắn thích ở những sách loại này là ý thức đầy đủ và tiết kiệm của chúng. Đã là một câu chuyện trinh thám hay thì không được phí phạm bất kỳ cái gì, không có câu nào, chữ nào không có ý nghĩa quan trọng. Thậm chí nếu chúng không quan trọng thì cũng phải tiềm tàng khả năng để trở thành quan trọng, nghĩa là cũng vậy thôi. Thế giới trong cuốn sách sống động, sôi nổi với những khả năng khác nhau, những bí ẩn và mâu thuẫn. Và vì tất cả những gì thấy hoặc nghe được, ngay cả những thứ nhỏ nhặt tầm thường nhất, cũng đều liên quan đến kết cục của câu chuyện, cho nên người đọc không được bỏ qua bất kỳ chi tiết nào. Mọi thứ đều trở thành thiết yếu; trọng tâm của cuốn sách dịch chuyển theo mỗi một sự kiện đang đẩy câu chuyện về phía trước. Cho nên trọng tâm là ở khắp mọi nơi, và ta không thể khoanh tròn một điểm nào cho đến lúc cuốn sách đã vào hồi chung cuộc.

Thám tử là người để ý nhìn và lắng nghe, là người chuyển dịch qua những sự vật hỗn loạn để tìm cho ra cái tư tưởng, cái ý tưởng sẽ kéo tất cả những thứ đó vào với nhau và làm cho chúng có ý nghĩa. Về hiệu quả thì nhà văn và thám tử là có thể đổi chỗ được cho nhau. Người đọc thấy thế giới thông qua con mắt của thám tử, trải nghiệm quá trình nẩy nở của các chi tiết trong thế giới ấy như ở buổi khôi nguyên của chúng. Hắn đã thức tỉnh và nhận biết được mọi thứ xung quanh mình, như thể chúng sẽ nói với hắn, như thể, vì giờ đây hắn đang chăm chú đến chúng như vậy, chúng sẽ bắt đầu mang một ý nghĩa nào đó khác với sự thật đơn giản về sự tồn tại của chúng.

Private eye - con mắt riêng tư kín đáo. Thuật ngữ này có ba ý nghĩa đối với Quinn. Không những cái âm "ai" của từ eye là trùng với âm của chữ đầu tiên trong từ "investigator" - nhà điều tra - mà nó còn là cái âm của chữ "I" viết hoa, nghĩa là "tôi", cái nụ sống nhỏ xíu bị chôn vùi trong thân xác của bản ngã đang thở hít này. Đồng thời, con mắt riêng tư kín đáo ấy cũng là con mắt thực thể của nhà văn, con mắt của người nhìn từ trong bản thân mình ra thế giới và đòi thế giới phải lộ diện cho mình thấy. Trong năm năm qua, Quinn đã sống trong gọng kìm của cái thuật ngữ giật gân ấy.

Tất nhiên, đã lâu rồi hắn không còn coi mình là có thật nữa. Nếu giờ đây hắn có sống trong thế giới nào đó, thì đó chỉ là cái cõi tồn tại trong con người tưởng tượng của Max Work. Công việc thám tử của hắn thì nhất thiết phải là thật. Bản chất của loại sách này đòi hỏi phải như vậy. Nếu Quinn đã cho phép mình được biến mất, thì Work tiếp tục sống trong thế giới của những người khác, và Quinn càng có vẻ tiêu biến đi bao nhiêu thì sự hiện diện của Work trong cái thế giới ấy lại càng vững chắc hơn bấy nhiêu.

Trong khi Quinn ngày càng thấy lạc lõng dưới lần da thịt của chính mình, thì Work lại thành dạn dĩ hơn, bặt thiệp hơn, thoải mái tự tin hơn dù ở vào bất kỳ hoàn cảnh nào. Những gì mà Quinn thấy khó khăn thì Work lại cho là chuyện bình thường, và gã cứ thế thoát qua mọi hiểm nghèo trong những cuộc mạo hiểm của mình với một thái độ dễ dàng và phớt tỉnh luôn luôn làm cho kẻ hư cấu nên gã phải kinh ngạc.

Cũng không phải đích xác là Quinn muốn trở thành Work, hoặc thậm chí giống như gã, nhưng hắn thấy yên trí khi giả vờ là Work trong lúc viết những cuốn sách ấy, biết rằng nếu muốn thì hắn có thể trở thành Work được ngay, cho dù chỉ là trong tâm tưởng. Đêm hôm đó, khi cuối cùng hắn thiếp vào giấc ngủ, Quinn đã thử tưởng tượng xem Work sẽ nói gì với kẻ lạ mặt kia qua điện thoại. Trong giấc mơ mà sau này hắn sẽ quên khuấy, hắn thấy mình đơn độc trong một căn phòng, đang bắn vào một bức tường trắng trần trụi bằng một khẩu súng lục.

Đêm hôm sau, Quinn đã bị bất ngờ. Hắn đã tưởng sự việc thế là xong và không nghĩ kẻ lạ mặt kia sẽ gọi lại nữa. Chuyện là thế này, hắn đang ngồi táo bón trên bệ xí, vừa định lấy hơi rặn một lần nữa thì điện thoại reo.

Lúc ấy hơi muộn hơn đêm trước một tí, có lẽ chỉ mươi mười hai phút nữa là đến một giờ sáng. Quinn vừa đọc đến chương kể về chuyến đi của Marco Polo từ Bắc Kinh đến Amoy, và cuốn sách vẫn mở để trên lòng trong lúc hắn ngồi trong cái nhà tắm nhỏ xíu. Tiếng chuông điện thoại vang lên như một phiền nhiễu nhức nhối. Hắn không muốn chưa lau chùi gì mà cứ thế tồng ngồng chạy ra chỗ để điện thoại tận đầu bên kia của căn hộ; mặt khác, nếu cứ cái đà táo bón này mà để xong rồi mới chạy ra thì thể nào cũng lỡ.

Vậy mà Quinn chẳng muốn động cựa tí nào. Hắn vẫn không ưa gì cái điện thoại, và đã nhiều lần định bỏ không dùng nữa. Cái mà hắn ghét nhất là thói độc tài của nó. Không những nó có quyền quấy nhiễu hắn bất kỳ lúc nào, mà thể nào rồi hắn cũng phải nghe theo lệnh của nó.

Lần này thì hắn quyết định phải chống lại. Đến hồi chuông thứ ba thì hắn đã sạch bụng. Hết hồi chuông thứ tư thì hắn đã chùi mình sạch sẽ. Hồi chuông thứ năm thì hắn đã kéo quần lên, ra khỏi buồng tắm và bình thản bước đến chỗ để điện thoại. Hắn nhấc máy ở hồi chuông thứ sáu, nhưng không có ai ở đầu dây bên kia nữa. Người gọi đã gác máy.

Đêm hôm sau, hắn ngóng máy. Nằm dài trên giường, đọc hết bài này đến bài khác trên tờ tin thể thao, hắn đợi người lạ mặt gọi lại lần thứ ba. Thỉnh thoảng, khi bồn chồn không chịu nổi nữa, hắn đứng lên và đi đi lại lại trong căn hộ. Hắn cho chạy một cái đĩa hát - vở nhạc kịch Người trên Cung Nguyệt của Haydn - và nghe hết từ đầu đến cuối. Hắn đợi, và đợi. Đến hai rưỡi sáng thì hắn bỏ cuộc và đi ngủ. Đêm sau đó hắn cũng đợi, và cả đêm tiếp theo nữa cũng vậy. Rồi khi hắn đã định thôi không đợi nữa, cho rằng mọi giả định của mình đều sai cả rồi, thì điện thoại lại reo. Đó là ngày 19 tháng Năm. Hắn nhớ được là vì đó là ngày cưới của bố mẹ hắn - nếu còn sống thì họ vẫn kỷ niệm - và mẹ hắn đã có lần bảo hắn rằng bà đã thụ thai hắn ngay trong đêm tân hôn. Chuyện này là rất hay đối với hắn, vì hắn cho rằng mình đã biết được đích xác cái thời điểm khởi đầu cuộc sinh tồn của chính mình, và trong bao nhiêu năm trời vẫn âm thầm kỷ niệm sinh nhật của hắn vào ngày đó. Lần này thì sớm hơn hai lần trước - chưa đến 11 giờ - và khi nhấc máy hắn tưởng sẽ là một ai đó khác.

"Alô?" hắn nói.

Đầu dây bên kia lại im lặng. Quinn biết ngay đó là người lạ mặt.

"Alô?" hắn nói tiếp. "Tôi giúp gì được quí vị đây?"

"Có đấy ạ," giọng nói cất lên, vẫn thầm thì máy móc như thế, vẫn âm điệu tuyệt vọng như thế. "Vâng. Ngay bây giờ. Không thể chậm được nữa."

"Vậy quí vị cần gì?"

"Nói. Ngay bây giờ. Tôi cần nói ngay lập tức. Vâng."

"Quí vị muốn nói với ai?" "Thì vẫn là người ấy thôi - Auster. Người mang tên là Paul Auster".

Lần này thì Quinn không do dự nữa. Hắn đã biết hắn sẽ làm gì, và đây chính là lúc để hắn làm việc đó. "Tôi đây," hắn nói. "Paul Auster đang nói đây". "Có thế chứ. Cuối cùng thì tôi cũng tìm được ông". Hắn có thể nhận ra vẻ giải tỏa trong cái giọng nói ấy, như thể nó vừa đột ngột hóa thành một thực thể bình thản hẳn hoi.

"Đúng vậy," Quinn nói. "Quí vị đã tìm thấy tôi rồi." Hắn im lặng một lát để câu nói ấy ngấm hết vào người lạ cũng như vào chính hắn. "Tôi giúp quí vị được gì đây?".

"Tôi cần ông giúp," giọng nói tuyên bố."Việc này nguy hiểm lắm. Họ nói chỉ có ông mới làm nổi"

"Còn tùy xem ông đang nói đến việc gì".

"Việc chết người. Tôi đang nói đến cái chết và việc giết người"

"Đó thực ra không phải chuyên môn của tôi," Quinn nói. "Tôi không phải là sát thủ".

"Không," giọng nói có vẻ rất sốt ruột. "Ý tôi là ngược lại kia".

"Có ai đang muốn giết quí vị ư?"

"Vâng, giết tôi. Đúng vậy. Tôi sắp bị người ta giết"

"Và quí vị muốn tôi bảo vệ quí vị ư?"

"Bảo vệ tôi, vâng. Và tìm ra người đang sắp làm việc này"

"Quí vị không biết là ai ư?"

"Tôi có biết, vâng. Tất nhiên là tôi biết. Nhưng tôi không biết gã ở đâu"

"Quí vị có thể nói rõ chuyện với tôi được không?"

"Không phải bây giờ. Không nói qua điện thoại được. Nguy hiểm lắm. Ông phải đến đây mới được".

"Ngày mai được chứ?"

"Tốt. Ngày mai. Sớm mai. Buổi sáng."

"Mười giờ được không?".

"Được. Mười giờ". Giọng nói cho một địa chỉ ở Phố 69 Đông.1 "Xin đừng quên, thưa ông Auster. Ông phải đến đấy".

"Đừng lo," Quinn nói. "Tôi sẽ có mặt ở đó".

Còn tiếp...

Phần 1

(trích tác phẩm Thành phố thủy tinh trong quyển Trần trụi với văn chương - hay The New York Trilogy của nhà văn Paul Auster, Trịnh Lữ dịch, NXB Phụ Nữ và Công ty văn hóa Phương Nam/2007)

Các bài khác:
 

Lần đầu bên nhau (trích, phần 3)

Lần đầu bên nhau (trích, phần 2)

Lần đầu bên nhau (trích, phần 1)

Trần trụi với văn chương (trích, phần 3)

Trần trụi với văn chương (trích, phần 2)

Trần trụi với văn chương (trích, phần 1)

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z