Tản văn

Thứ năm, 07/06/2007, 10:27
 

Miên man tùy bút (trích - phần 1)

Lý Lan

Quê mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy.

Ở quê tôi, người ta sống bằng nghề làm vườn, làm rẫy hay làm đồ gốm. Trong làng, duy nhất có một người bán quán. Chợ thì xa nên con nít thường được sai chạy ra quán mua xị nước mắm, gói bột ngọt, ống chỉ hay viên thuốc nhức đầu. Quán đương nhiên có bán cả bánh kẹo, đồ chơi. Thường thường, có một đám trẻ con chơi dưới tán cây vú sữa trước quán. Một hôm, tôi còn đang mải mê chơi nhảy lò cò thì thằng nhỏ gần nhà chạy ra nói:

- Về đi! Má mày chết mà mày còn lo chơi.

Tôi hớt hải chạy về nhưng chẳng bao giờ kịp nữa.

Sau khi mẹ mất, tôi sống với bà ngoại, lúc nào cũng thắc thỏm sợ ngoại lại bỏ tôi đi lúc tôi đang mê chơi, mê ăn hay mê ngủ. Tôi không ra quán chơi nữa, lúc nào cũng lẽo đẽo theo chân bà. Vườn nhà ngoại không rộng, trồng mít, sầu riêng, măng cụt, cau, chuối... mỗi thứ vài cây. Tới mùa trái chín, thường có lái tới mua sỉ cả vườn, nhưng bà ngoại tôi cần kiệm, tự mình hái trái trong vườn đem ra chợ xa bán để được giá hơn.

Hồi đó, cầu Ngang chưa phát triển du lịch như bây giờ. Cây trái nhà vườn thường tập trung ở chợ Búng rồi chở xuống Sài Gòn. Những phiên chợ khuya, các bà các dì gánh những gánh hàng bông, hoa trái mới hái hồi hôm còn tươi rói, đi thành đoàn năm bảy người trong ánh đuốc bập bùng và sương khuya lành lạnh.

Đường quê tôi là đường đất đỏ. Xứ vườn có nhiều mương rạch nên nhiều cầu khỉ, cầu tre. Mùa mưa, đường lầy lội, nước chảy xiết, cầu trơn và lắt lẻo. Vậy mà tôi một hai đòi đi theo bà ngoại.

Hễ đầu hôm thấy bà xếp mấy buồng cau hay năm bảy trái mít tố nữ vô thúng, là tôi bám theo áo bà, ngủ trong lòng bà, để nửa khuya bà dậy đi chợ là tôi dậy theo. Bà chìu đứa cháu mồ côi, mặc thêm cho tôi áo ấm, đội nón vải, mang dép cao su - Ba tôi đi làm ăn ở Chợ Lớn gởi về cho tôi đôi dép nhựa màu xanh ngọc đẹp lắm, khi nào dắt tôi đi chợ bà mới lấy ra cho mang.

Chân tôi nhỏ đi chậm, mà người gánh nặng phải bước nhanh cho đỡ mỏi vai. Lúc đầu hai bà cháu còn vầy đoàn với các dì trong làng, dần dần bị tụt lại sau, rồi chỉ còn một già một trẻ, lùi lũi đi trong ánh đuốc gần lụi trong tay bà.

Đã vậy, qua cầu, tôi lại làm rớt dép. Tôi la lên. Ngoại dắt tôi qua hết cây cầu khỉ, đặt gánh xuống đầu cầu kia, rồi mới quay lại tìm. Đuốc gần tàn, chợ còn xa, sương khuya lạnh, mà bạn hàng đón mua sỉ hàng bông đâu có đợi chờ lâu. Chợ khuya nhóm độ nửa tiếng, đuốc tàn là chợ tàn. Mắt bà tôi lại kém, hai bên bờ rạch, bình bát mọc um tùm, biết chiếc dép đâu mà tìm? Loay hoay soi đuốc một hồi, bà ngoại nói:

- Thôi, bỏ đi con. Ngoại bán cau rồi sẽ mua cho con đôi dép mới.

Tôi òa khóc, tay giữ khư khư chiếc dép còn lại. Bà tôi gỡ tay tôi lấy chiếc dép để bên vệ cỏ gà ven đường. Tôi tiếc của, nhất định giữ lại. Bà ngoại nói:

- Con để chiếc dép này lại đây. Mai có đứa nhỏ nào đi soi ếch hay đi xúc cá lượm được chiếc kia thì có thể tìm thấy chiếc này, hiệp thành đôi mà mang. Chứ người ta ai cũng có hai chân, con giữ một chiếc, người khác lượm được có một chiếc, chẳng ai mang được.

Ít lâu sau, ba tôi đón tôi về Sài Gòn cho đi học. Đang lúc tôi còn học đại học thì bà ngoại qua đời. Suốt đời, bà không hề biết một chữ i tờ nào. Nhưng bà đã dạy tôi bài học hay nhất mà tôi ôn đi ôn lại suốt đời mình.

Quê mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy. Ở quê tôi người ta gọi nơi nước ngầm trào lên là cái mội nước. Tôi viết về quê tôi, kể về quê tôi, từ ký ức tôi mang theo khi xa quê. Ở thành phố, ở xứ người, quê nhà trong tôi hoà quyện cả hồi ức lẫn tưởng tượng.

Có lần, tôi dắt cháu tôi đi tìm con suối mà tôi đã kể cho nó nghe nhiều lần: "Hồi nhỏ dì Hai thích đi chơi suối, hái trái sim tím, trái cơm nguội đen ăn ngon lắm, rồi lội suối bắt cá lòng tong, cá lìm kìm chơi vui lắm".

Cháu tôi ngong ngóng miết mới tới ngày hôm nay, được theo dì về quê ngoại, tìm con suối thần thoại của tuổi thơ.

Cái háo hức của đứa bé bây giờ chưa từng biết về dòng suối hòa với nỗi bồi hồi của con bé hơn 30 năm trước thường chơi bên dòng suối nay đang trở về tìm lại hang cúc xưa. "Bé Bi biết không, con cúc nhỏ xíu như hạt cát vậy. Nó đào hang trong cát, miệng hang hình cái phễu nhỏ xíu trên mặt cát, dễ thương ơi là dễ thương. Buổi sáng mình ra bờ suối, ngồi thụp xuống tìm cái miệng hang con cúc, thổi nhẹ nhẹ cho cát dưới đáy phễu bay đi. Nhớ là thổi nhẹ thôi, rất nhẹ, để con cúc không hay biết gì hết. Nó cứ yên trí ngủ say dưới đáy hang cho đến khi cát bị thổi bay hết, và con cúc bị lộ ra, luống cuống xoay trở tứ phía, chỉ còn một cách thoát thân duy nhất là lại vùi mình vô trong cát".

Cát vét từ lòng suối lên rất mịn, nhuyễn và trắng phau. Người ta phải thường xuyên vét cát trong lòng suối đắp lên hai bờ, lại cắm những cọc tre dọc bờ suối để giữ cát. Tre mọc thành rặng xanh um dài theo hai bờ suối, cành và ngọn tre giao nhau tạo thành một vòm xanh che bên trên con suối.

Nhìn từ trên gò cao, dòng suối giống một con rồng tre xanh uốn lượn qua những rẫy cà, rẫy mướp. Lội theo dòng suối chẳng khác naò đi vào lòng một hang động ngoằn ngoèo hun hút, róc rách tiếng nước chảy, rì rào tiếng gió thổi qua lá tre, thỉnh thoảng ánh nắng xuyên vào làm mặt nước lấp lánh.

Từ xa hai dì cháu có thể nhìn thấy con suối rồi, tuy tôi nhận ra nó nhờ ký ức chứ không phải bằng hiện thực.

Cháu tôi bảo nó không giống con rồng xanh chút nào, mà giống con trăn già da mốc thếch. Tre đôi bờ thưa thớt, xác xơ. Tôi đổ thừa cơn hạn vừa rồi làm con suối cạn queo gần một tháng. Nhưng tôi cũng đoán là mươi năm gần đây, dân số làng tôi đông quá, người khá lên cũng nhiều mà người nghèo đi cũng đông. Trẻ con lội suối bắt được con gì cũng kể là thức ăn, mụt măng nào vừa nhú lên mà bị nhìn thấy là bị bẻ ngay.

Hai dì cháu đến bên bờ suối, sự so sánh của cháu tôi tỏ ra chính xác. Cát bây giờ không trắng phau, hoặc vẫn có màu trắng đó, nhưng vì lẫn quá nhiều rác rưởi nên ngó nó dơ dơ. Cháu tôi hăm hở lội xuống suối, nhưng tôi giơ tay giữ nó lại, như một phản xạ khi thấy nó sắp dẫm chân vô vũng lầy. Nước suối không trong ngần như xưa, mà lòng suối cũng không còn lộ ra những viên sỏi đủ màu lẫn trong cát êm như dòng suối tôi còn nhớ.

Nhờ mấy trận mưa vừa qua, con suối lại róc rách chảy, nhưng nước đục lợn cợn, mùi hôi hóa chất cùng chất thải công nghiệp theo dòng suối vào từng con mương thấm vào những mảng vườn măng cụt, sầu riêng. Phất phơ hai bên bờ suối những bao ni-lông và các thứ rác của xã hội tiêu dùng như ống hút, dây thun, giấy gói quà, bình nhựa đủ dạng màu kích thước, chén dĩa xài một lần, băng vệ sinh ...

Không đến nỗi ngổn ngang như một bãi phế liệu hay đống rác ngoại thành, nhưng mỗi thứ có một ít đại diện cũng đủ làm tôi đứng lặng yên nghe đứa nhỏ trở về trong tôi bật khóc.

Mỗi khi mưa lớn, con suối trở thành cuồng lưu, nó cuốn theo dòng chảy mọi thứ từ rừng đầu nguồn và suốt hành trình qua những gò đồi nương rẫy, rồi mới cặp theo đường làng đổ vào một con rạch nhỏ chảy ra sông Búng, con sông này ra khỏi địa phận làng tôi thì được gọi là sông Sài Gòn.

Hồi nhỏ, mỗi khi mưa tạnh, tôi thường chạy chân đất ra bờ suối khi dòng nước còn cuồn cuộn chảy xiết. Tôi hồì hộp tìm kiếm trong những cành lá cây gẫy rụng bị cuốn theo dòng rồi vướng vào những gốc tre.

Đôi khi một chiếc thuyền xếp rất công phu bằng giấy học trò, nhưng đã te tua sau hành trình bão táp, mệt mỏi tấp vào chân tôi. Tôi lượm lên tỉ mỉ mở lần theo từng đường gấp, thán phục sự khéo léo của người nào đó, ở xa lắm trên nguồn, chắc là phía Tân Khánh hay Tân Uyên, cố đọc trong những vết mực lem luốc một thông điệp gì đó mà chiếc thuyền con đã chở đến tôi.

Còn tiếp...

(Trích tác phẩm Miên man tùy bút của nhà văn Lý Lan, NXB Văn Nghệ, tháng 5/2007).

Các bài khác:
 

Mê… thầy

Đợi

Miên man tùy bút (trích - phần 2)

Miên man tùy bút (trích - phần 1)

Chồng tôi và ngõ...

Tự vấn

Cuối năm - người xa xứ

Ngẫu hứng café trưa hay tín điều từ những viên đá đang tan chảy

Đất Thiền

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z