|
'Đọc thủng' một văn bản, quả cũng là thách thức
Chỉ vài ngày sau khi công bố bài "Văn chương 2004 - oằn mình giữa nhập nhòa cũ - mới", tôi đã nhanh chóng được Vương Văn Quang "ăn theo", kể cũng là điều đáng để tự hào.
Tuy nhiên, không rõ do đọc vội, đọc vàng hay do còn có hạn chế nhất định trong khả năng "đọc thủng" một văn bản...(?) Vương Văn Quang đã trình bày một số ngộ nhận, suy diễn buộc tôi phải viết bài này; vừa như một cách thưa lại với ông, vừa như muốn đặt dấu chấm hết cho một cuộc trao đổi mà tình huống "dây cà ra dây muống" hoàn toàn có thể xảy ra; đồng thời cũng giúp tôi sau bài viết này không bắt buộc phải chạy theo để chứng minh Vương Văn Quang đã ngộ nhận, suy diễn như thế nào.
Trước hết cần khẳng định, khi công bố bài viết của tôi, việc Ban biên tập eVăn thay đổi nhan đề của bản thảo từ Văn chương 2004 - oằn mình giữa nhập nhòa cũ - mới thành Văn chương Việt Nam 2004 - oằn mình giữa nhập nhòa cũ mới sẽ rất dễ gây nên sự hiểu lầm trong người đọc về góc nhìn ít nhiều còn có giới hạn của người viết. Vì dẫu sao "văn chương 2004" cũng bao chứa trong nó một phạm vi "phiếm chỉ" và cho phép tôi chỉ trình bày những gì mình đã thâu nhận được; còn "văn chương Việt Nam 2004" lại là một chuyện lớn hơn rất nhiều, nó bao chứa một chiều kích mà một cá nhân khó lòng có thể "kham" nổi.
Đọc bài Oằn mình với Nguyễn Hòa và văn chương Việt Nam 2004, tôi nhận thấy đây chỉ là vệt kéo dài của lối bắt bẻ, vặn vẹo, suy diễn chủ quan như là một trong vài đặc điểm của "phong cách" trao đổi của Vương Văn Quang, đã được trình làng từ ngày ông đăng tải một hai bài viết trên tạp chí Ngày nay. Có thể nhận ra lối bắt bẻ, vặn vẹo, suy diễn ấy trong Oằn mình với Nguyễn Hòa và văn chương Việt Nam 2004 qua một số ví dụ sau đây:
1. Tiếp xúc với nhan đề Văn chương 2004 - oằn mình giữa nhập nhòa cũ - mới (hay Văn chương Việt Nam 2004 - oằn mình giữa nhập nhòa cũ mới như nhan đề trên eVăn) mọi người đều có thể nhận thấy bài viết được định tính là một tổng kết về văn chương. Do vậy tôi không có nhiệm vụ phải chứng minh đầy đủ các ý kiến của mình. Gặp trường hợp một (các) ý kiến bị bác bỏ, thì việc chứng minh lại đặt ra trực tiếp, qua đó hoặc tôi khẳng định sự đúng đắn, hoặc tôi thừa nhận đã sai lầm... Nếu Vương Văn Quang có am hiểu nhất định về một văn bản có tính chất tổng kết, trong ông sẽ hình thành một "quy ước ngầm" giữa "sự đọc" của ông với văn bản, rằng tiểu luận này có mục đích nhìn lại việc đã làm, sau khi đã kết thúc để rút ra các đánh giá, kết luận chung. Song dường như đây là một đòi hỏi quá cao với Vương Văn Quang, mà bằng chứng cụ thể là khi ông đề cập tới ý kiến của tôi về tác phẩm Nhân trường hợp của chị thỏ bông (Phan Thị Vàng Anh).
Tôi viết: "nếu có điều gì đó để "chê" thì xin nói rằng trong một hai trường hợp, Phan Thị Vàng Anh còn thiếu cái nhìn lịch sử, nếu triệt để với cái nhìn ấy, người viết sẽ dễ chia sẻ và đỡ nghiệt ngã hơn". Đọc nhận xét này, Vương Văn Quang nhanh nhảu: "Có điều, tôi thấy Nguyễn Hòa “chê” chị rằng “thiếu cái nhìn lịch sử”, mà không thấy anh đưa ra dẫn chứng cụ thể". Chỉ bằng một nhận xét đó thôi, Vương Văn Quang đã phạm hai lỗi hình thức rất cơ bản, một là xuyên tạc nhận xét của tôi vì nhận xét đó chỉ có giá trị trong "trong một hai trường hợp", hai là yêu cầu tôi phải có "dẫn chứng cụ thể" trong khi một văn bản tổng kết chỉ đưa ra dẫn chứng trong trường hợp cần thiết. Nếu Vương Văn Quang phân vân về nhận xét này, thiết nghĩ ông phải chứng minh giúp tôi "ngộ" ra tác giả Nhân trường hợp của chị thỏ bông luôn luôn triệt để về phương pháp luận lịch sử.
2. Đề cập tới kết quả cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ, tôi viết: "Thiển nghĩ, nếu người ta có còn nhớ đến cuộc thi này thì Cơn mưa hoa mận trắng (Phạm Duy Nghĩa), Mười ba bến nước (Sương Nguyệt Minh) sẽ có tuổi thời gian dài hơn cả". Đọc ý kiến trên, Vương Văn Quang suy diễn khá kỳ quặc: "Trong mấy truyện được Nguyễn Hòa dẫn ra, Mười ba bến nước và Cơn mưa hoa mận trắng là hai truyện khá, song tôi không mấy tin tưởng, rằng nó sẽ “trường thọ”".
Tại sao tôi coi suy diễn của Vương Văn Quang là khá kỳ quặc? Rất đơn giản, vì phớt lờ từ "nếu" trong câu văn của tôi, Vương Văn Quang đã không nhận ra (cố tình không nhận ra?) đây chỉ là một giả định, và cách diễn đạt "sẽ có tuổi thời gian dài hơn cả" không dự báo "một tuổi thời gian" như thế nào, vì còn phụ thuộc vào "tuổi thời gian" của các truyện ngắn khác cùng được trao giải thưởng của cuộc thi. Do đó, việc Vương Văn Quang đưa hai chữ trường thọ - dù đã để trong ngoặc kép, vào ý kiến của ông, thật sự là một động thái kỳ quặc!
3. Tôi viết: "Tản mạn trước đèn (Đỗ Chu - NH) có những câu, những đoạn gợi nhớ đến Thạch Lam, Vũ Bằng". Đọc ý kiến này, Vương Văn Quang nhận xét khá kỳ khôi: "Việc xếp Đỗ Chu ngang với Thạch Lam, Vũ Bằng, là ý kiến cá nhân của Nguyễn Hòa, anh có quyền làm việc đó, nhưng đọc tới đây, tôi không khỏi ngắm nghía song song cái Tản mạn trước đèn với cái Thương nhớ mười hai, và, một lần nữa tôi lại chạnh lòng".
Vương Văn Quang đã tự bộc lộ một sự thiếu thốn tối thiểu mà bất kỳ một người nào ham thích "trao đổi" cũng phải được trang bị, ấy là khả năng đọc và lĩnh hội ý nghĩa của một văn bản. Thật tài tình, tôi thật sự không hiểu trình độ tư duy của Vương Văn Quang đã đạt tới mức độ nào mà sau khi đọc câu "Tản mạn trước đèn của anh có những câu, những đoạn gợi nhớ đến Thạch Lam, Vũ Bằng" ông lại quả quyết tôi đã xếp Đỗ Chu ngang với Thạch Lam, Vũ Bằng! Hai từ "gợi nhớ" chỉ chuyển tải trong nó ý nghĩa liên tưởng, trong trường hợp này. Nếu tin theo các suy diễn "ngoài văn bản" của Vương Văn Quang, thì hoặc là tôi đã "phong thần" bừa bãi, hoặc là Vương Văn Quang đã gán ghép bừa bãi vào văn bản của tôi. Tiếc rằng ở đây, khả năng thứ nhất đã không xảy ra.
4. Về tiểu thuyết Thiên thần sám hối, tôi viết: "Thiên thần sám hối được chú ý không phải vì nó xuất sắc, mà chủ yếu do trong đó tác giả phơi bày mặt xấu trong quan hệ con người, quan hệ xã hội đương thời và sự tha hóa một số giá trị tinh thần trong các quan hệ ấy...” và “nhân vật của Tạ Duy Anh nằm trong bụng mẹ để nghe ngóng sự đời, đấy là một sáng tạo. Tiếc thay, tác giả lại cho phép cái "anh cu" chưa chào đời ấy ngẫm ngợi, suy tư như một "ông cụ non", làm cho tình huống trở nên "tréo ngoe", và "anh cu" trở thành một phát ngôn viên của một “người lớn thu nhỏ”". Thật là rầu lòng khi ý kiến của tôi lại được Vương Văn Quang nhận xét thế này: "Ô hay, nếu tác giả đã phơi bày được những mặt xấu trong những quan hệ con người, quan hệ xã hội đương thời và sự tha hóa một số giá trị... thì nó quá xuất sắc là đằng khác chứ? Nó chỉ không xuất sắc khi mà tác giả có ý định nói về điều đó, nhưng viết không ra, không thể phơi bày được mà thôi" và "Ô kìa, đã đánh giá việc cho cái bào thai “nghe ngóng sự đời” là một sự sáng tạo, vậy tại sao lại không cho nó “ngẫm ngợi suy tư như một ông cụ non”? Bởi vì cái bào thai mà biết “nghe ngóng sự đời” thì nó có thể làm bất cứ cái gì, chứ chẳng phải chỉ có “ngẫm ngợi suy tư” mà thôi đâu. Có thể nói, chính nhận xét này của Nguyễn Hòa mới là “tréo ngoe”.
Thưa ông Vương Văn Quang, tôi nhận xét Thiên thần sám hối trong tư cách là một tác phẩm văn chương có "tiếng vang" trong dư luận chứ không với tư cách một tác phẩm xuất sắc, để qua đó tôi phân biệt "tiếng vang" của Thiên thần sám hối với "tiếng vang" của các tác phẩm khác. Có thể Vương Văn Quang có tiêu chí riêng để xác định thế nào là một tác phẩm xuất sắc. Về phần mình, tôi cho rằng, để trở thành một tác phẩm văn chương xuất sắc thì cần thiết phải bảo đảm nhiều yếu tố thuộc về nội dung - hình thức chứ không chỉ vì nó phơi bày nhiều, hay phơi bày ít các "mặt xấu trong quan hệ con người, quan hệ xã hội đương thời và sự tha hóa một số giá trị tinh thần trong các quan hệ ấy". Nếu chỉ lấy sự "phơi bày" để xem là xuất sắc thì tôi và Vương Văn Quang chỉ cần đọc phóng sự về tệ nạn xã hội trên báo chí là đủ rồi, cần gì phải tìm đến một tác phẩm văn chương. Mặt khác, dường như Vương Văn Quang không hiểu việc tôi coi tác giả của Thiên thần sám hối để nhân vật "nằm trong bụng mẹ để nghe ngóng sự đời, đấy là một sáng tạo" là muốn nói đến yếu tố gì của tác phẩm.
Để ông khỏi nhọc công tìm hiểu, tôi xin được nói cho ông luôn, đó là lựa chọn góc nhìn, là dựng "tình huống" cho nhân vật kể chuyện. Tôi thừa nhận Tạ Duy Anh đã sáng tạo một tình huống khá độc đáo cho nhân vật, nhưng tôi cũng cho rằng tác giả chưa thành công, vì "anh cu" đang nằm trong bụng mẹ lẽ ra phải "nghe ngóng sự đời" như một con người hoàn toàn chưa biết một tý tẹo gì về cuộc sống, hoàn toàn hồn nhiên, hoàn toàn trong trắng... "Anh cu" chỉ biết nghe và ngạc nhiên... Còn khi "anh cu" ấy ngẫm ngợi, suy tư như một ông cụ non thì nhân vật chỉ là "cái loa" của tác giả. Một trong các yếu tố để đánh giá người viết "cao tay" hay "thấp tay" thể hiện ở chỗ anh ta giải quyết tình huống đã dựng nên cho nhân vật trong tác phẩm của anh ta như thế nào. Cứ theo ý kiến của Vương Văn Quang, có lẽ "anh cu" kia nhất định phải biết Vương Văn Quang là ai, đã viết được mấy bài trao đổi, có khả năng xử lý ý kiến của người khác hay không...?
5. Không lĩnh hội được (không cần lĩnh hội?) việc tôi đặt ra một câu hỏi như là thể hiện một nỗi băn khoăn, chỉ cần thấy tôi viết: "Chưa nói rằng ngôn từ trong tiểu thuyết này đôi chỗ khá "bụi bặm", không biết có nên đưa vào văn chương hay không?", Vương Văn Quang đã vội vàng euréka và chộp lấy để đặt câu hỏi: "Việc Nguyễn Hòa cho rằng Tạ Duy Anh đã dùng ngôn từ khá “bụi bặm”, thứ ngôn từ mà theo Nguyễn Hòa thì “không biết có nên đưa vào văn chương hay không”, khiến tôi thấy hoang mang quá. Tại sao cuộc sống thì đầy bụi bặm mà văn chương lại cứ láng mịn, nhẵn thín, thơm như múi mít là cớ làm sao? Tôi nghe nói, văn chương là cuộc sống cơ mà? Thật là khó hiểu". Với đoạn văn này, tôi phát hiện té ra Vương Văn Quang mới chỉ "nghe nói" còn thì ông rất "mù mờ" trong năng lực phân biệt sự khác nhau giữa ngôn từ của nghệ thuật với ngôn từ của cuộc sống. Và tôi kinh ngạc khi hình dung từ "cái chậu tắm" bé xíu của mình, Vương Văn Quang vặn vẹo văn bản của tôi để "phịa" ra một nghĩa phái sinh với câu hỏi kỳ dị: "Tại sao cuộc sống thì đầy bụi bặm mà văn chương lại cứ láng mịn, nhẵn thín, thơm như múi mít là cớ làm sao?" - một câu hỏi hoàn toàn không dính dáng gì tới điều tôi trình bày. Bởi tôi không yêu cầu văn chương phải "láng mịn, nhẵn thín, thơm như múi mít".
6. Trong văn cảnh của một đề mục bàn về các giải thưởng văn chương, tôi có dẫn lại ý kiến của một nhà văn đăng trên báo Giáo dục & Thời đại. Nếu thấu hiểu được sự thống nhất giữa đề mục và nội dung, Vương Văn Quang sẽ hiểu quan hệ giữa người sáng tác và thẩm văn mà nhà văn ấy đề cập là giám khảo của các cuộc thi văn chương; và nếu cẩn trọng hơn, ông cần tìm hiểu nhà văn nào đã nói, nói trong hoàn cảnh nào... (nhân đây cũng xin giới thiệu để Vương Văn Quang tìm đọc báo Giáo dục & Thời đại số 8, ra ngày 18/1/2005). Nhưng phải chăng vì chưa được trui rèn những kỹ năng cần thiết của người đam mê "trao đổi" và lại ham bắt bẻ, vặn vẹo, nên Vương Văn Quang lại liên hệ đến tương quan giữa người đọc và việc thẩm văn?
Tóm lại, vì những việc "cần trao đổi" của Vương Văn Quang trong Oằn mình với Nguyễn Hòa và văn chương Việt Nam 2004 có quá nhiều điều kỳ quặc, kỳ khôi, kỳ dị, kỳ quái, kỳ cục... nên tôi chỉ dẫn ra một số ví dụ để chứng minh ông đã dũng cảm dấn thân vào cuộc trao đổi như thế nào. Còn những điều kỳ quặc, kỳ khôi, kỳ dị, kỳ quái, kỳ cục... khác (như nhận xét ý kiến của tôi về quan hệ giữa trình độ tư duy của nhà văn Việt Nam đương thời với văn chương "hậu hiện đại", hay ý kiến của ông về thơ, về tình trạng "nhiễu loạn" trên văn đàn...) thì mạn phép không phải phân tích. Không chỉ vì chúng kỳ quặc, kỳ khôi, kỳ dị, kỳ quái, kỳ cục... mà còn do chúng "hơi bị ngây ngô", và tôi không thể phân tích trong một bài viết ngắn. Cuối cùng, qua đây tôi muốn gửi tới Vương Văn Quang vài lời khuyên chân thành rằng cần chuẩn bị kỹ lưỡng và sâu sắc hơn nữa những tiền đề trí tuệ cần thiết trước khi đưa ra một (những) ý kiến trao đổi, chỉ nên viết về những điều mình "hiểu", sự "hiểu" đó phải dựa trên nền tảng một tư duy khách quan, cẩn trọng, chặt chẽ... Nếu chưa làm được như vậy, xin đừng tiến hành những cuộc "trao đổi" đầy bắt bẻ, vặn vẹo, suy diễn làm nhiễu loạn văn đàn.
Hà Nội, 1/2005
|