Tranh luận

Thứ tư, 29/09/2004, 09:09
 

Hoài Thanh cũng 'đạo văn'?

Lại Nguyên Ân

eVăn: Dư luận văn nghệ đang xôn xao về vụ Hoài Thanh "đạo văn" (?), nguyên xuất xứ từ một bài viết của nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân trên tạp chí Thế Giới Mới, ngày 13/9/2004. Để bạn đọc có thông tin về "sự kiện" này, chúng tôi giới thiệu lại bài viết của ông Lại Nguyên Ân và những bài có liên quan.

Dưới đây là bài của ông Lại Nguyên Ân.

Những ngày này, dư luận đang quan tâm nhiều đến vấn đề “bản quyền”, “tác quyền”, và những chuyện liên quan, trước hết là nạn “đạo văn”. “Đạo văn” tức là ăn cắp văn, lấy toàn bộ hoặc từng phần tác phẩm của người khác, không ghi chú dẫn xuất xứ, không đặt trong ngoặc kép, mặc nhiên coi đó là của mình. Trong quan niệm chung hẳn không ai bênh vực hành vi “đạo văn”. Vấn đề là ở những “ca” cụ thể, người ta phải xác định rành rõ: ai ăn cắp của ai?

Tôi xin nêu một trường hợp cụ thể gồm 2 dẫn chứng để bạn đọc nhận diện.

Dẫn chứng 1:

Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo rực
băn khoăn như Xuân Diệu”

(Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1988, tr.33-34, in theo bản in lần đầu do Nguyễn Đức Phiên xuất bản, Huế, 1942)

Nhận định này, câu văn này lâu nay được gắn với tên tuổi Hoài Thanh không chút nghi ngờ, và điều này càng trở nên hiển nhiên, ngày càng được nhiều người biết đến hơn, do việc di sản Thơ Mới được đưa vào dạy ở nhà trường phổ thông, và Hoài Thanh được xem gần như một tác gia kinh điển của văn học Viêt Nam.

Tôi cũng sẵn lòng tin như thế, như mọi người, nếu như không có lần đọc được đoạn tương tự như sau:

Dẫn chứng 2:

Ba năm qua…
Với thi ca, văn học ta đã bước được một bước dài. Một sự may mắn không ngờ! Chỉ trong vòng ba năm mà lần lượt đua nhau xuất hiện ra không biết bao nhiêu tác phẩm có giá trị mà trong cái dĩ vãng rất bằng phẳng mấy ngàn năm chỉ lơ thơ một vài cái. Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần một tâm hồn

hùng tráng như Huy Thông,
dồi dào như Thế Lữ,
huyền diệu như Thái Can,
âm thầm như Đông Hồ
mơ màng như Leiba,
buồn não như Nguyễn Vĩ,
và một tâm hồn đầy âm nhạc, đầy mộng ảnh như Lưu Trọng Lư?
Ba năm qua … Mà như một thế kỷ đã qua!”

(Lê Tràng Kiều: Thơ mới, Hà Nội báo, số 14, 8 april 1936, tr. 2)

Không cần biện luận dài lời cũng đã thấy rõ sự tương đồng về nhận định và về cấu tạo câu văn giữa hai đoạn văn của hai văn bản, một thuộc Hoài Thanh, một thuộc Lê Tràng Kiều.

Vấn đề cần làm rõ dưới góc độ bản quyền, tác quyền, đối với người thời nay, ở trường hợp này là:

1) Bản quyền ý tưởng (nhận định) và cấu tạo câu văn trên đây là thuộc về ai? Lê Tràng Kiều hay Hoài Thanh?

2) Quan hệ giữa hành vi của hai tác giả hai đoạn văn trên là gì? “Đạo văn” hay “vay mượn sáng tạo”? Ai “đạo” (hoặc “vay”) của ai?

Yếu tố thời điểm xuất hiện là rất quan trọng, trong hầu hết các trường hợp, kể cả trường hợp này.

Bài của Lê Tràng Kiều đăng trên Hà Nội báo tháng 4. 1936, trong cả loạt bài tác giả này viết về “thơ mới” đăng Hà Nội báo trong năm 1936.

Bài của Hoài Thanh là bài khảo luận chính trong sách Thi nhân Việt Nam 1932-1941, in lần đầu vào năm 1942.

Như thế, ngoại trừ trường hợp tìm được những chứng tích loại khác (ví dụ cho thấy Hoài Thanh đã “gà” cho Lê Tràng Kiều ý tứ và câu văn trên để viết báo rồi 6 năm sau chính Hoài Thanh sẽ sử dụng lại, chẳng hạn!), còn lại chỉ có một khả năng: Hoài Thanh đã lấy cả ý tưởng (= nhận định) lẫn cấu tứ (= cấu tạo câu văn) của Lê Tràng Kiều; tất nhiên, lấy một cách có sửa đổi, hiệu chỉnh, nhưng rõ ràng đã không thông tin về hành vi “lấy” đó, đã không hề ghi chú, không hề đặt trong ngoặc kép hay ngoặc đơn, đã mặc nhiên để người đọc từ đó tới nay (trên 60 năm!) đinh ninh tin rằng đó là sản phẩm tư tưởng và ngôn ngữ duy nhất của mình.

Hẳn có bạn nghe chuyện này nhưng vẫn chưa tin hẳn đâu. Thì hãy để các bạn ấy tự tìm cách thuyết phục chính mình!

Tôi xin mách bạn biết thêm rằng, tư liệu trên (loạt bài về thơ mới của Lê Tràng Kiều) gần đây đã được công bố lại vài lần rồi. Cụ thể: năm 1995 trong bộ tư liệu ba tập nhan đề 13 năm tranh luận văn học (1932-1945) (Thanh Lãng sưu tầm, Hoàng Như Mai viết lời nói đầu, Hội NC &GD VH TPHCM và Nxb. Văn Học, bài trên ở tập 1, tr.307-309); sau đó năm 2002 trong bộ tư liệu 2 tập nhan đề Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX (Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan biên soạn và sưu tầm, Hà Minh Đức giới thiệu, Nxb. Lao Động, bài trên ở tập 2, tr.285-287 trong loạt bài của Lê Tràng Kiều về thơ mới, tr. 285-363). Cả các nhà sưu tập (trừ Thanh Lãng đã mất trước khi sách đưa in) lẫn hai giáo sư viết giới thiệu hình như đều không thấy hiện tượng nêu trên hoặc cho là nó quá nhỏ nhặt, cái tên Lê Tràng Kiều đã bị quên thì cho quên luôn thể (!), trong khi ý muốn đề cao tên tuổi Hoài Thanh ở hai vị giáo sư lại quá lớn, chẳng hạn?

Dù sao thì hiện tượng nêu trên cũng là cả một sự thật văn bản, sự thật văn học sử.

Nếu chăm chú tìm hiểu tình trạng biên khảo từ đầu thế kỷ 20 cho đến tận gần đây từ góc độ bản quyền, nhất là bản quyền tinh thần chứ không chỉ là chuyện tiền bạc, rất có thể bạn sẽ thấy những sự thực không ai ngờ tới.

Hà Nội, 21/8/2004

Thế Giới Mới, số 602 (13/9/2004)

Các bài khác:
 

Sex trong 'Rừng Nauy' không chỉ có vậy

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z