|
Yến Lan mấy bận gác bút ra vườn hỏi ý hoa?
Nhà thơ Yến Lan "gác bút ra vườn hỏi ý hoa" không chỉ để bốn câu của ông trở thành tứ tuyệt, mà để tâm hồn ông trong trẻo hơn, thánh thiện hơn. Con người có thể đạo đức giả ở nơi chen lấn nào đó, nơi son phấn nào đó, thậm chí nơi trang trọng nào đó, nhưng không thể nào đạo đức giả trong thơ.
Ngày 5/10/1998, nhà thơ Yến Lan khép lại cuộc đời 82 năm của ông trên chính mảnh đất quê nhà An Nhơn - Bình Định. Một thập kỷ trôi qua, dù chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về văn nghiệp Yến Lan, nhưng độ lùi thời gian cũng đủ cho độc giả thẩm thấu những giá trị mà ông để lại trên thi đàn.
Yến Lan làm thơ từ rất sớm và có ngay một tuyệt phẩm Bến My Lăng để thành danh trong nghề. Tuy nhiên, điệu buồn man mác: “Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách. Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu. Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách. Ông lái buồn để gió lén mơn râu....” vẫn chưa thể phô bày hết cái tài, cái tình của Yến Lan.
Vài năm trước khi ông mất, tôi có đôi ba bận ghé thăm ông, hầu chuyện ông. Hơn một lần tôi hỏi ông về thành tựu nổi bật nhất trong đời văn, ông đều trả lời: "Tứ tuyệt Yến Lan!". Và bao giờ sau câu trả lời ấy, ông cũng đưa mắt nhìn về phía cụ bà Nguyễn Thị Lan. Hiểu ý chồng, cụ bà mang mấy tập vở chép tay rất cẩn thận ra. Yến Lan run run bàn tay giở từng trang bản thảo và run run giọng đọc từng bài thơ bốn câu. Tôi không hề nghi ngờ sự chọn lựa của ông đối với thể loại tứ tuyệt, cũng không nghi ngờ sự thao thiết của ông đối với sáng tạo tứ tuyệt. Bởi lẽ, tôi từng nhìn thấy những bài thơ tứ tuyệt như bước chân ngắn liêu xiêu của ông mỗi lúc tiễn tôi ra cửa. Tôi nghĩ, những bước chân ngắn ấy chầm chậm thôi, nhưng mải miết đưa ông vào cõi bất tử.
 |
| Tuyển tập thơ tứ tuyệt của Yến Lan. |
Năm 2006, cụ bà Nguyễn Thị Lan dùng số tiền hưu dành dụm của mình để in Tuyển tập thơ Tứ tuyệt Yến Lan (NXB Văn Học). Tôi và con trai của nhà thơ Yến Lan là thi sĩ Lâm Huy Nhuận cũng chạy vạy khắp nơi phát hành được một ít. Sau đó, tôi nói với thi sĩ Lâm Huy Nhuận rằng, cụ bà đã làm xong cuộc tổng kết thơ tứ tuyệt Yến Lan, chúng ta thử làm cuộc tổng kết thơ Yến Lan viết bằng những bút pháp khác xem sao.
Loay hoay khoảng nửa tháng, Lâm Huy Nhuận mang đến cho tôi khoảng 1.000 trang vi tính, trong đấy hơn 2/3 là thơ Yến Lan chưa từng công bố. Tôi ngụp lặn với những câu thơ dài ngắn khác nhau và nhận ra dự cảm, ngổn ngang và những đắng đót của một nhà thơ nặng lòng với xứ sở. Tôi tin nếu in trọn vẹn tuyển thơ này sẽ khiến những ai nao núng cách tân, ồn ào cải tiến thơ phải giật mình.
Thế nhưng, những chấm phá ấy chỉ phác thảo thêm về sự đa dạng và sự tận tụy với nghề thơ của Yến Lan thôi. Bức chân dung tinh tế, từ tốn và đôn hậu của Yến Lan vẫn nằm ở thơ tứ tuyệt!
Thơ tứ tuyệt luôn đòi hỏi sự quan sát thấu đáo, sự chiêm nghiệm sâu sắc và sự thể hiện khéo léo. Nhà thơ Yến Lan hội đủ phẩm chất ấy, nên bất kỳ sự trống trải xa vắng nào đó vừa thoáng qua đời ông cũng dễ dàng tụ lại bốn câu gọn gàng và thâm trầm. Bài Hoa tặng viết từ năm 1936 có thể là minh chứng thuyết phục cho khao khát tứ tuyệt thường trực ở Yến Lan
"Tuổi trẻ băng đồng đi hái hoa Tặng em, ngấp nghé chực quanh nhà Người không ra đón hoa dần héo Héo cả làn mây đỉnh núi xa"
Đọc tứ tuyệt Yến Lan cứ thấy thương một con người lúc nào cũng suy tư. Hầu như chuyện gì cũng làm ông nghĩ ngợi, nghĩ ngợi bằng tất cả gan ruột và nghĩ ngợi bằng… bốn câu mới thật đáng nể.
Ông nghĩ ngợi về “Mùa chim di cư”:
"Mùa chim di cư, mồng két ra đi Chiều thị trấn khói nhòa mây tiễn Thoảng nghe tự đàn chim rơi một tiếng Cái nghẹn nghèo mắc kẹt giữa chia ly"
Ông nghĩ ngợi về sân khấu Chèo:
"Vò rối tơ, rồi gỡ rối tơ Gỡ không ra mối lại đem vò Nàng Vân giả dại, nàng Vân dại Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ"
Ông nghĩ ngợi về Trò giữa chợ:
"Chen chúc đám đông nhìn Múa may đoàn mãi võ Cái giá của niềm tin Hạ dần theo buổi chợ"
Và ngay cả Chuyện ở Chí Hòa cũng làm ông nghĩ ngợi thay người đàn bà bị giam cầm:
"Đang giờ con được bú Hai bầu sữa căng đau Trẻ gào ra tiếng nổ Mắt mẹ xuyên tường lao"
Ngòi nổ của thơ tứ tuyệt luôn được gài kín đáo ở câu cuối cùng. Nếu câu cuối cùng yếu ớt thì tác phẩm bốn câu chỉ có “tứ” mà không có “tuyệt”. Nhà thơ Yến Lan là một “cao thủ” trong nghề, nên câu cuối cùng của ông bao giờ cũng “tuyệt”. Có khi ba câu trước chỉ là sự kiện đẩy đưa, là thông tin mơn mớn, là chi tiết tầm phào, để câu thứ tư chuyển tất cả những thứ vẩn vơ vô định kia về với thi ca đích thực. Hai bài tứ tuyệt của Yến Lan, một bài đã rất nhiều người biết và một bài chưa hẳn mấy người biết, đều khẳng định “nội công thâm hậu”.
Bài “Cầm chân em, cầm chân hoa” lơ đãng trong miền lãng mạn:
"Em đến xin hồng, hồng mới nụ Hôm nay hồng nở bóng em xa Cầm em bữa trước em không ở Giờ biết làm sao cầm được hoa"
Bài “Bức thư của biển” nhì nhằng trong chuyện đời thường:
"Nhặt bức thư tay cuối bến thuyền Gửi ai, ai gửi, chẳng đề tên Đón từng thủy thủ toan trao lại Lòng bỗng cù lao giữa đất liền"
Hãy thử hình dung đi, nếu bỏ câu thứ tư hoặc thay bằng câu dang dở ở cả hai bài thơ trên thì chúng ta chỉ có hai bản diễn nôm cuộc sống thôi. Đọc tứ tuyệt Yến Lan, tôi ngờ nghệch mường tượng, đã có không ít dịp nhà thơ bất lực trước xao xác kiếm tìm câu “tuyệt”. Khi lâm hoàn cảnh trớ trêu ấy, kẻ làm thơ tầm thường đành thở dài, còn Yến Lan hành động theo cách thi nhân: “Thức suốt đêm thu bóng nguyệt tà. Bài thơ viết tặng nghĩ không ra. Dầu hao bấc lụn đèn hiu hắt. Gác bút ra vườn hỏi ý hoa”.
Nhà thơ Yến Lan “gác bút ra vườn hỏi ý hoa” không chỉ để bốn câu của ông trở thành tứ tuyệt, mà để tâm hồn ông trong trẻo hơn, thánh thiện hơn. Con người có thể đạo đức giả ở nơi chen lấn nào đó, nơi son phấn nào đó, thậm chí nơi trang trọng nào đó, nhưng không thể nào đạo đức giả trong thơ. Không phải đến bài thơ “Sinh nhật 1998” thì Yến Lan mới thương mến trần gian “lệ từ năm trước lại rưng rưng”, mà Yến Lan luôn mở lòng với những số phận xung quanh ông. Ông thương con và thương cả cây chanh con trồng trước ngày đi xa, đến mức ông đọc được lời “Hẹn gì” từ thiếu nữ hàng xóm:
"Tính đến năm này năm thứ ba Cành chanh con chiết đã ra hoa Chẳng hay có hẹn gì cô ấy Sáng sáng bên rào vẩy nước qua".
Đọc tứ tuyệt Yến Lan nhiều năm, tôi bỗng ngộ ra một điều đơn giản mà thanh cao: Sự nghiệp thi ca của một nhà thơ dày hay mỏng không phải tuổi thọ dài hay ngắn, không phải năng khiếu trời phú ít hay nhiều, mà quan trọng là gắn bó bao nhiêu với cuộc đời, trân trọng bao nhiêu với con người. Nếu Yến Lan không biết “Tránh rét” dùm hàng xóm thì ông không thể viết được bốn câu rung động tin yêu:
"Mỗi bận vào đông mở cửa nhìn Vẫn hồi gió bấc tạt ngoài hiên Nửa toan tránh rét nhà quay hướng Nửa ngại cô đơn bạn láng giềng"
Tứ tuyệt Yến Lan đã được nâng niu, được chưng cất từ cuộc sống trọn vẹn với tư cách một nhà thơ chân chính. Không thể nói khác hơn, thơ tứ tuyệt Yến Lan lấp lánh vẻ đẹp một con người.
Sài Gòn, 10/2008
|