|
Mang lại cho cách viết cũ một triết lý mới (phần 2)
Nhớ lại những trải nghiệm hồi cách mạng văn hóa, Lý Nhuệ bảo thời gian ấy ông được hiểu thế nào là nhân sinh, con người và lịch sử Trung Quốc. Theo ông, người sáng tác phải trả lời cho câu hỏi “đối diện với lịch sử, con người là gì? đối diện với thời gian, rốt cuộc mỗi sinh mệnh có ý nghĩa gì?"
Trong khi miêu tả lịch sử, ông đã mang lại cho nó một “bộ mặt người”.
Không phải ngẫu nhiên, có nhà phê bình đã gọi Chốn xưa là một thứ Bác sĩ Zhivago của Trung quốc. Cách mạng trở nên cụ thể vì ở đó không những có sự bùng nổ của đám đông đầy ngẫu hứng mà còn có tình yêu, nỗi sợ, sự bội phản, những khoảng trống vắng, có cái lịch trình mà khi đi hết rồi, người ta không khỏi lẫn lộn, vừa vui vừa buồn. Đoạn kết Ngân thành cố sự là một đoạn bi kịch được đẩy lên đến cao độ. Sông nước bao la làm nền. Bài thơ Xuất tái đưa người ta trở lại với quá khứ thăm thẳm. Chỉ riêng bức tranh chung buồn thảm mà tráng lệ này thôi đủ cho thấy Lý Nhuệ đã mang lại cho lịch sử một thứ chất nhân văn sâu đậm đến như thế nào.
Chất nhân văn ấy đã liên kết câu chuyện về cuộc khởi nghĩa cuối triều Mãn Thanh với những sự kiện ở Trung Quốc 1949-1986. Và đó là cái tác giả muốn người đọc xem như ánh sáng soi rọi trên con đường suy nghĩ về thế sự.
Trong lối viết cũ mà các nhà văn ở Trung Quốc trước 1976 thấm thía đến từng chân tơ kẽ tóc, lịch sử được hình dung như một guồng máy chỉ biết vận động một cách khách quan. Để những tác động đột biến của con người sang một bên, người ta hay nói tới sự tất yếu. Quy luật nghiệt ngã một chiều có mặt ở mọi nơi. Con người như bị chèn ép và trở nên bé nhỏ thảm hại.
Đằng này, với Lý Nhuệ, lịch sử hiện ra như một cái gì bí mật. Không ai dám nói rằng nắm được nó. Giống như những hiện tượng tự nhiên, nó là một cái gì vô thường, đỏng đảnh, luôn luôn dành cho người ta những bất ngờ. Có lúc nó giản dị hồn nhiên, lúc lại tàn nhẫn vô lý, để rồi đẹp ngay trong sự tàn nhẫn đó.
 |
| Trang bìa cuốn "Chốn xưa". |
Còn những con người thì có sự thường xuyên chống lại hoàn cảnh. Mỗi người có sự thật của riêng mình. Họ là những thế giới nhỏ trong một thế giới lớn. Trong câu chuyện về cái vùng Ngân thành đang cuốn theo lịch sử này, thế giới của anh làm phân trâu Vượng Tài cũng phong phú chẳng khác gì thế giới của Lưu Tam Công đầy kỳ tích và tai vạ.
Ngay khi thất bại, những nhân vật như Lý Nãi Chi của Chốn xưa và Lưu Chấn Võ của Ngân thành cố sự vẫn có vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp toát ra sự lạnh lùng tỉnh táo chứ không phải là nước sơn anh hùng giả tạo trước đây.
Lý Nhuệ đã đi tới những tìm tòi nghệ thuật này như thế nào? Hầu như ông không bao giờ quên nổi những tâm trạng ngổn ngang khi sáng tác, nó còn theo ông rất lâu sau khi hoàn thành tác phẩm. Lần ấy, đánh dấu chấm hết Chốn xưa, ông đưa cho vợ vốn cũng là một nhà văn xem, và hỏi bà:
- Đây có phải là một tiểu thuyết xã hội không?
- Không phải.
- Đây có phải một cuốn tiểu thuyết viết theo lối sử thi không?
- Không phải.
- Trong tác phẩm có anh hùng không?
- Không có.
- Có phải là một tác phẩm viết theo phương pháp hiện thực truyền thống không?
- Không phải.
- Vậy thì được, coi như đã thành công.
Đoạn đối thoại cho thấy niềm khao khát cách tân ngày đêm nung nấu trong lòng tác giả. Với ông, lối viết cũ không còn hợp với cái nội dung mà mình muốn biểu hiện nữa. Bằng bất cứ giá nào cũng phải từ bỏ nó, tốn bao công sức để gột sạch những di lụy của nó trong mình cũng không tiếc. Và dù chưa biết mình đi đến đâu, chỉ riêng việc không còn dây dưa gì đến nó, người ta đã cảm thấy có thể xoa tay, hoan hỉ lo tiếp các công việc cần thiết.
Nhưng khao khát từ bỏ cái cũ là một chuyện, mà tìm được cho mình một lối đi mới lại là chuyện khác. Lý Nhuệ không nhắm mắt chạy theo thời thượng. Ông tìm ra cái mới ngay trong cái có vẻ cũ. Khi mang cho nó một nội dung mới, ông đã làm cho cái nhất thời gia nhập vào cái vĩnh viễn. Và trước tiên người ta phải hiểu rằng thật ra cũ - mới chỉ là tương đối.
Ý niệm về sự tương đối này còn chi phối tác giả khi phải giải quyết một vấn đề mà nhiều nhà văn Trung Quốc và Việt Nam đang gặp phải: viết thế nào là hiện đại.
Thông thường người ta bảo rằng giữa cái cổ điển và cái hiện đại vốn có một sự đối lập rõ rệt. Một bên là ánh sáng là trật tự, bên kia là tập mờ, là nhập nhằng. Một bên tìm tới cái cân bằng hài hòa trong khi bên kia đề cao cái xô bồ hỗn loạn.
Thế nhưng sẽ là nhầm lẫn rất nhiều nếu bảo rằng lối viết cổ điển bây giờ hoàn toàn không có chỗ đứng trong lòng độc giả. Sự thực là trên khắp thế giới người ta vẫn đọc Anna Karenina, Tội ác và trừng phạt, Moby Dick và ở Trung Quốc người ta vẫn đọc Tam quốc, Thủy hử, Hồng lâu mộng, kể cả những cuốn viết sau 1949, như Đá đỏ của Lương Bân, Bài ca tuổi trẻ của Dương Mạt. Vậy thì tuyệt đối hóa sự khác biệt cũ mới sẽ rơi vào cái vòng luẩn quẩn. Sẽ thú vị hơn mà cũng hợp lý hơn nếu người ta viết được những tác phẩm dung hợp được cả cái nọ lẫn cái kia. Khi diễn tả sao để trong cái hiện đại có cái cổ điển, nhà văn chẳng những gợi mở bản chất sâu xa của đời sống trước mắt mà còn nối người đọc với thời gian rộng dài, giúp họ nhận thức được chỗ đứng của họ trong sự vận động của lịch sử.
Giữa chất Trung Quốc và chất phương Tây cũng vậy, không hề có sự đối lập tuyệt đối như người ta nghĩ. “Cuối cùng chúng ta phát hiện ra mình chạy trong cái vòng tròn" - Lý Nhuệ bảo vậy, dường như ông muốn nói rằng đi đến cùng về phía phương Tây thì sẽ gặp Trung Quốc cổ điển. (Đọc Lỗ Tấn, hẳn nhiều người còn nhớ cái mệnh đề tuyệt vời của ông “Cứ ngả sang tả mãi thì rút cục sẽ trở thành hữu").
Con người không phải là thần thánh - khi đặt ra phương hướng đó, các nhà văn theo xu hướng hiện đại tìm thấy cả một đại lục bao la để thám hiểm. Trong cái vẻ phức tạp đa đoan đầy mâu thuẫn của mình, các nhân vật thường khi có cái gì gần với đời sống. Nhưng ở họ lại thiếu cái tầm cao, và cả cái ngoại lệ, cái bất ngờ rất “người” và đầy sức quyến rũ. Cái khoảng trống đó, Lý Nhuệ muốn khỏa lấp. Nhiều nhân vật của ông đau xót thất bại song không thiếu vẻ hào hùng. Người ta tìm thấy ở họ không phải cái chất melodrame phường tuồng mà là chất bi kịch thực sự. Trong Chốn xưa, đó là sự bất lực của con người trước những biến đổi khôn lường của đời sống, bi kịch của niềm tin. Trong Ngân thành cố sự, đó là bi kịch của những ý định tốt không thể nảy mầm, sự nhìn xa trông rộng không giúp cho con người vượt lên trên hoàn cảnh.
Lý Tử Hận đốt nhang hủy hoại khuôn mặt cốt để toàn tâm toàn ý nuôi em ăn học rút cục không cứu được đứa cháu đích tôn của dòng họ, đành lấy cái chết để lên tiếng về nỗi đau đớn của kiếp người. Bạch Thu Vân quý phái lại đẻ ra đứa con gái Diên An cuồng nhiệt lý tưởng về nông thôn lấy một anh Lệch méo mó xẹo xọ. Ngày Lưu Chấn Võ trở lại cố hương gặp được người thân thì cũng là ngày phải bỏ quê mà đi, và chết dưới lưỡi dao của kẻ ruột thịt. Sau khi hai đứa con chết, Lưu tam công trở thành nhân vật chính trong đại lễ ở đó con trâu Phượng Sơn được phong Ngưu Vương.
Đọc Lý Nhuệ đến những chỗ này, người giàu liên tưởng có thể nhớ tới người và việc trong văn học phương Tây, nhớ tới kịch cổ điển Hy Lạp và Shakespeare.
Điều có phần chắc chắn hơn, đó là những vang hưởng của các bộ tiểu thuyết Trung Hoa trên những trang sách của một nhà văn hiện đại. Lịch sử là liên tục, đời sống tinh thần người ta được làm giàu thêm nhờ quá khứ.
Sở dĩ có thể bảo sự trở về với văn học cổ điển là cả một nguyên tắc quán xuyến chi phối ngòi bút tác giả, một phần còn là do cái âm hưởng của thơ Đường đã phảng phất ở Chốn xưa và đặc biệt rõ ở Ngân thành cố sự.
Thơ Đường thường được coi như tinh hoa của văn học Trung Quốc. Trong mọi sinh hoạt của người Trung Hoa, thơ Đường thường có mặt. Những câu thơ hay nhất của Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn… thường được người ta viện dẫn ra khi xa nhà, chia biệt bạn bè, khi làm chính trị, cũng như khi buôn bán, làm ăn, hoặc dấn thân trong những cuộc đi xa và băn khoăn không dứt về ý nghĩa của kiếp người.
Nhưng trong Ngân thành cố sự Lý Nhuệ còn làm hơn thế.
Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian Nhất phiến cô thành vạn nhận san Khương địch hà tu oán dương liễu Xuân phong bất đáo Ngọc môn quan
(Bản dịch thoát của Tương Như: “Sông vàng mây trắng liền nhau/ Thành côi một mảnh núi cao tiếp trời/ Thổi chi chiết liễu sáo ơi/ Gió xuân đâu lọt ra ngoài Ngọc Môn)
Bài Xuất tái (có nơi gọi là Lương châu từ) này của Vương Chi Hoán từng được coi là thiên cổ danh thi. Hai ông Bùi Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản trong cuốn Đường thi (NXB Văn học, 2006) cho biết sau khi bài thơ được lưu truyền, tác giả của nó được người đương thời coi là thiên tử thi.
Không chỉ sử dụng Xuất tái làm cảm hứng chính cho cả cuốn tiểu thuyết, Lý Nhuệ còn lấy các câu thơ làm tiêu đề cho các phần. Và bài thơ bừng sáng ở đoạn cuối, cũng tức là cái đoạn cao trào của Ngân thành cố sự.
Theo sự hiểu biết của người viết bài này, trong tiểu thuyết Trung Hoa chưa thấy ai làm thế bao giờ. Lý Nhuệ đã làm một cách hợp lý, khiến hiệu quả của tác phẩm được nâng lên một bậc.
Yếu tố hoành tráng đã làm nên hẳn một mạch thơ riêng trong thơ Đường. Có cái bao la lộng lẫy của thiên nhiên trong Tuyệt cú của Đỗ Phủ.
Lưỡng cá hoàng oanh minh thúy liễu Nhất hàng cô lộ thướng thanh thiên Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền
(Bản dịch của Tản Đà: “Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc/ Một hàng cò trắng lướt trời xanh/ Nghìn năm tuyết núi song in sắc/ Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình")
Có cái mang mang khôn cùng của trời đất và lòng người trong Đăng U châu đài ca của Trần Tử Ngang:
Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên hạ chi mang mang Độc thương thân nhi thệ hạ
(Tương Như dịch: "Người trước chẳng thấy ai/ Người sau thì chưa thấy/ Gẫm trời đất thật vô cùng/ Riêng lòng đau mà lệ chảy")
Chính Vương Chi Hoán cũng đặt con người trước cái cao rộng đến rợn ngợp mà vẫn không bao giờ thỏa mãn trong Đăng quán tước lâu:
Bạch nhật y sơn tận Hoàng hà nhập hải lưu Dục cùng thiên hạ mục – Cánh thượng nhất tằng lâu
(Dịch xuôi: “Ánh sáng mặt trời tắt bên sườn núi/ Sông Hoàng Hà chảy ra biển khơi/ Muốn tầm mắt nhìn thấu ngàn dặm/ Hãy lên cao thêm một tầng lầu")
Tinh thần của những bài thơ ấy được Lý Nhuệ nối tiếp. Việc gợi lại Xuất tái khiến cái cảm giác cao rộng về sự có mặt của thiên nhiên cũng như của lịch sử vốn quán xuyến trong Ngân thành cố sự, được người ta tiếp nhận tự nhiên và thấm thía hơn. Cũng nhờ có phong vị thơ Đường, cả Chốn xưa, Ngân thành cố sự có cái gò thắt chặt chẽ, sự tinh luyện kỹ càng tưởng đã một đi không trở lại trong thời hiện đại.
Đọc Lý Nhuệ, như trên đã nói, tôi luôn luôn nhớ lại những cuốn tiểu thuyết Trung Quốc được dịch ra tiếng Việt gần đây.
Đối mặt với Đàn hương hình, Người đàn bà “quậy”, Cuộc chiến trong mỗi con người… tôi từng sung sướng gặp mình trên nhiều trang sách. Từ trải nghiệm của một người đã đọc văn học Trung Quốc cũ, dễ dàng cảm thấy là, về mặt tinh thần, cả tác giả lẫn bản thân mình vừa được giải phóng.
Song đọc mãi không khỏi thấy mệt, bởi như thấy thừa một cái gì đó mà vẫn thiếu một cái gì đó. Cuộc đời hỗn độn. Cả chính mình nữa, mình cũng ngổn ngang trăm mối không biết là ra thế nào. Tất cả rối ren, ngầu đục, thấp kém, rối loạn. Thế còn bao điều tốt đẹp? Sự thiêng liêng của đời sống. Vẻ thanh cao. Chút lãng mạn chân thành. Sự xúc động… Có thể những cái đó mất đi không trở lại nữa chăng?
Dù biết rằng có thể như thế, chúng tôi vẫn không muốn tin như thế.
Và sự xuất hiện của những người bút như Lý Nhuệ chính là đáp ứng một nhu cầu đã chín của những xã hội đang trong giai đoạn chuyển đổi.
Trong một lần nói tạt ngang, Lý Nhuệ kể là xưa ở quê hương Tứ Xuyên, ông thuộc về một gia tộc lớn, nay ở quê còn có đường phố họ Lý. Chất quý tộc bàng bạc trong văn chương ông làm chứng cho điều đó.
Cả trong đời sống lẫn trong văn chương, thời hiện đại là thời của phong cách bình dân. Từ lâu bị đè nén, nay trong cơn bùng phát chưa từng có, dòng văn bình dân này đạt tới thành tựu rực rỡ, đồng thời vẫn giữ được tính muôn màu muôn vẻ để xứng đáng là cái mạch chính của thời đại. Từ Triệu Thụ Lý, Ngụy Nguy, qua Vệ Tuệ, Mạc Ngôn… những ngòi bút ấy đều bình dân, tuy mỗi người mỗi phong cách, chắc thiệt có, nồng nàn bản năng có, mộc mạc thôn dã có, xô bồ thành thị hiện đại có…
Còn Lý Nhuệ, ông gợi lại ấn tượng về một dòng văn xuôi có cái chất sang trọng, quý phái.
Đã qua rồi cái thời người ta nguyền rủa quý tộc là hư hỏng sa đọa. Trong suốt chiều dài lịch sử, quý tộc còn đồng nghĩa với tinh tế, nghiêm túc, một trình độ chắt lọc và những yêu cầu cao, cái lời nguyền không bao giờ bằng lòng dễ dãi với cuộc sống quanh mình. Không rõ Lý Nhuệ có ý thức đến đâu, nhưng từ tác phẩm của ông thấy toát lên một tinh thần phục hưng cho cái chất quý tộc ngày càng hiếm đó.
Đặt trong cái mạch sáng tác của các nhà văn Trung Quốc đương đại, bước đi của tác giả - được khởi đầu trong Chốn xưa, và hoàn thiện trong Ngân thành cố sự - thật đã vượt lên cái thông thường để đứng riêng ra một góc, và mang đầy sắc thái độc đáo.
Tôi chợt nghĩ tới cái cách một số nhà tiểu thuyết Việt Nam - những người cũng đang khao khát thay đổi, đang muốn đưa văn học theo hướng hiện đại. Có phải chúng ta còn quá bị lệ thuộc vào những cái mẫu có sẵn của nước ngoài? Bởi biết quá ít nên ta như bị ngợp? Bởi vốn văn hóa quá mỏng nên ta khiếp nhược, lẩn mẩn học đòi, và ngẩn ngơ bước trên con đường sáo mòn?
Có muôn ngàn cách thức để người viết văn làm cho trang sách của mình khác đi so với quá khứ, và ở đây không ai có quyền tuyên bố mình có trong tay cái chìa khóa duy nhất. Điều mà người ta cần nhớ từ trường hợp của Lý Nhuệ - đó là mỗi ngòi bút phải giữ riêng lấy sự đơn độc tinh thần, không theo đuôi, không bày đàn, việc đi tìm cái mới không phải là một trò chơi trội mà cũng thiêng liêng và đầy thách thức như mọi việc khác của đời sống.
Phần 1
(Nguyên văn mang tên Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo, dùng làm lời giới thiệu cho tiểu thuyết Ngân thành cố sự, NXB Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam hợp tác xuất bản)
-----
Trong bài có tham khảo một số tài liệu về Lý Nhuệ do Sơn Lê dịch in ở cuối cuốn Chốn xưa, và cuộc trao đổi giữa tác giả và biên tập viên, in ở cuối cuốn sách này.
|