Phê bình

Thứ tư, 10/05/2006, 10:07
 

Những thiên tình của Kim Sô Uôd

Võ Thị Xuân Hà

Người Hàn Quốc không ai là không biết Kim Sô Uôd, nhà thơ cận đại Hàn Quốc nổi tiếng. Ai cũng thuộc lòng ít nhất là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông như "Hoa Chin tal le", "Mai ngày", "Không thể quên"...

Kim Sô Uôd sinh năm 1902 tại Quắc Xan, tỉnh Phương Buk (nay thuộc Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên). Tên thật của ông là Kim Chơng Xic. Năm 19 tuổi, Kim Sô Uôd bắt đầu làm thơ. Ông từng sang Nhật học tại Đại học Thương mại Đông Kinh, nhưng rồi bỏ dở về nước. Từ năm 1929, ông lâm vào tình trạng tuyệt vọng, chán nản, mắc chứng mất ngủ, luôn tìm đến rượu để giải buồn. Nhà thơ qua đời ngày 24/12/1934, khi mới ba mươi ba tuổi.

Ở Việt Nam, cái tên Kim Sô Uôd còn xa lạ với bạn đọc. Nhưng đối với những nhà thơ Việt, những người yêu thơ và yêu đất nước Hàn Quốc, Kim Sô Uôd lại là một sứ giả.

Sứ giả - nghĩa là ông mang sứ mệnh thiên sứ. Ông đứng đó, bên núi Xam Cắc [1] ngay dưới chân ông, hoa Chin tal le [2] nở sớm, trên đầu ông, từng đàn chim Ka chi [3] bay bay kêu lên những tiếng mừng vui.

Nhưng ngay cả khi là một nhà thơ thiên tài, mang sứ mệnh báo hiệu kỷ nguyên vàng cho dân tộc, thì cuộc đời dương thế của ông cũng chỉ trong chớp mắt và đầy đau thương. Có lẽ đó là quy luật thiên định.

Ngày nào đó chàng trai trẻ Kim Sô Uôd đầy luỵ cảm trong sự kiêu ngạo: Mai ngày, em có tìm tôi/ Thì tôi sẽ nói "quên rồi còn đâu" (Mai ngày). Nhưng sự cô quạnh khiến cho con người bỗng nhìn thấy thiên nhiên, và “chỉ có thiên nhiên” với “mình ta”: Trên đồi cỏ, một màu xanh/ Dưới dòng suối chảy vòng quanh bụi bờ/ Cỏ xanh, đáy cát, lơ thơ/ Bóng hình chìm nổi vật vờ cỏ cây/ Ai xưa ở chốn nào đây?/ Nhớ thương cháy bỏng có hay chăng là/ Sau đồi giờ một mình ta/ Ngày ngày ngắt cỏ vứt ra suối... nhìn! (Ngắt cỏ).

Thời kiêu ngạo đầy luỵ cảm ấy được Kim Sô Uôd kết thúc thực lòng: Trăng vẫn mọc, dù xuân hay hạ đến/ (Mà ngày xưa tôi nào có hay)/ Điều thương nhớ làm động lòng đến vậy/ Mà ngày xưa tôi vẫn nào hay (Ngày xưa còn chưa biết). Dường như đây là thông điệp gửi cho các thế hệ sau mình, mà bất cứ dân tộc nào cũng có những thông điệp hoà chung.  

Vào giữa thập kỷ 20 của thế kỷ 20, những vần thơ của Kim Sô Uôd đã mang đầy sắc thái hình tượng của nghệ thuật tổng hợp, như thể ông đang rê máy quay để chạm tới nỗi nhọc nhằn của những sinh linh bé nhỏ trên cõi thế:

Chin tal le nở/ Gió rít trên cành liễu/ Là khi con kiến lưng eo/ Cong mình xây tổ ngày theo mỗi ngày/... Ngày qua, ngày lại qua ngày/ Mà con kiến cứ miệt mài/ Lưng eo mỏng mảnh xây hoài tổ chung (Con kiến).

Nếu có một sự so sánh đương thời thì Kim Sô Uôd đã đi trước Thơ Mới của Việt Nam một chặng. Thơ ông luôn khắc khoải nhớ mong. Nhưng đâu phải là nỗi nhớ mong nhỏ bé một người cụ thể. Sự khắc khoải đau trong cõi lòng nhà thơ phản ánh thời kỳ Triều Tiên bị xâm chiếm, báo hiệu sự chia lìa hai miền Nam Bắc:

Tự bao giờ bỗng nổi lên/ Nửa vầng trăng khuyết treo trên bầu trời / Chiều về, gió rét chơi vơi!/ Bên bờ suối vắng mặt trời chênh vênh/... Em đi chẳng chút yêu thương/ Trẻ trung thôi đã thay nhường già nua/ Đêm về trên nhánh gai thưa/ Chỉ còn chiếc lá đung đưa chiều tàn. (Nửa vầng trăng).

Sự hoài nghi vô định của lớp trí thức bất lực trước sóng gió cuộc đời do chiến tranh, đói nghèo... của nhân loại được ông mô tả như trong một thiên tình của mình:

Tiếng gió núi/ Tiéng mưa lạnh rơi? Trong đêm em nói cùng tôi/ Thế gian khổ lạc biết rồi đến đâu/ Nhà người đèn tắt, dế kêu... (Con dế).

Có thể nói, cho đến nay, đọc thơ Kim Sô Uôd chúng ta vẫn thấy khá mới trong lối cách, dù đã qua văn bản dịch, ông được đánh giá là nhà thơ cận đại nổi tiếng ở Hàn Quốc cũng bởi sự “mới” này:

Khóc trong mơ, tỉnh giấc
Chạy ra cánh đồng.
Mưa hiu quạnh rơi rơi,
Tiếng ếch kêu chơi vơi,
Bóng cây dần mờ tối.

Đang chắp hai tay sau lưng nhìn trời mà lưỡng lự.
Tiếng ai chào trong lùm cây lập loè đom đóm
“Chào nhé, đi đây!”, rồi cất lên tiếng hát.

(Thân này bất định)

Bất định hay bất lực? Đó là diễn biến tâm lý của một thế hệ hoài nghi, đầu hàng. Sau sự hoài nghi đầu hàng, có thể là sự vùng lên giành quyền sống và hạnh phúc. Là sự quyết liệt hướng đến tương lai êm đềm. Là sau bóng tối đêm dài sẽ bình minh tươi rỡ:

Ánh nước chập chờn trên cánh đồng/ Càng nhìn càng rộng/ Ai đứng một mình, cúi đầu lặng lẽ/ Trút một tiếng thở dài, dài đến thế!/ Đã quên rồi tất cả, chỉ còn lại ta với đêm khuya/ Suy nghĩ nhiều mà chi, để tâm hồn thanh thản/ Bỗng dưng trên đồng cỏ xa xa/ Ánh sao trời loé ngời lấp lánh (Chiều tối).

Nhưng cũng có những khoảnh khắc vô định, hình ảnh vô định, không gian vô định:

Việc gì ngồi đó hở anh/ Bên lạch nước/ Ngồi một mình, mệt mỏi?/ Mầm cây xanh,/Vừa đâm chồi nảy lộc,/ Trong gió xuân, nước lấp lánh nô đùa.../ Đi mà chắc chẳng đi đâu/ Vẫn ngồi yên ở đó/ Ngày mỗi ngày, anh ra bên lạch nước/ Ngồi một mình/ Đi mà chắc chẳng đi đâu cả/ Vẫn ngồi yên ở đó/ Thì xin anh hãy nhớ hãy chờ... (Ngồi bên lạch nước).

Những vô định đó đã vạch ra con đường đi, như một triết lý sống “cây đời mãi mãi xanh tươi”, triết lý của một chàng trai đầy nhiệt huyết, cũng đầy đam mê, ham mê. Kim Sô Uôd đã chỉ một đường đi bằng sự hồn nhiên của một thế hệ:

Nhớ,
Nói ra chăng
Không, nhớ quá.

Cứ thế mà đi chăng,
Nhưng dù sao,
Thêm một lần nữa xem sao...

Quạ bay trên đồng, quạ bên kia núi.
Tiếng kêu vang vọng,
Báo rằng mặt trời đã lặn về Tây.
Sông trước mặt, sông sau lưng,
Nước đang chảy xiết,
Như nói rằng hãy theo chảy cùng sông.
Nước chảy vẫn không ngừng chảy mãi.

(Đường đi)

Một trong những thiên tình của Kim Sô Uôd là bài thơ Hoa Chin tal le [4]. Ông tỏ ra là một nhà thơ tình yêu thiên bẩm:

Khi anh đã chán chường/ Bỏ em mà rời xa/ Tiễn anh đi êm đẹp/ Em không trách đâu mà/ Hai bên đồi đầy hoa/ Chin-tal-le đẹp quá/ Hái hoa em dâng tặng/ Rắc đường anh đi qua... /Lòng em dù khắc khoải/ Cũng không khóc đâu mà.

Rồi mạnh mẽ và táo bạo hơn là cách nhìn nhịp điệu bập bênh trong tình yêu của những thiếu nữ, sự cảm thông trong đam mê cuồng nhiệt, sự nuối tiếc bay theo làn gió:

Gió thổi/ Tung bay gió thổi/ Cây dương liễu trong vườn/ Đu đưa cùng cây đu nhún nhẩy/ Cây dương liễu ngoài vườn/ Vươn cành nghiêng ngó/ Ô, ô theo chiều gió/ Bóng trải dài nhún nhẩy bập bênh/ Ngày xuân/ Vui cuồng vui nhiệt/ Các cô gái ven đô đang chơi trò bập bênh/ Tình yêu bập bênh muôn thuở. (Những cô gái chơi trò bập bênh)

Nhưng nếu đề cập đến bút pháp của nhà thơ, thì không thể không nhắc đến bài Hoa trên núi. Đây là một trong những bài thơ nổi tiếng về cách dùng nhịp điệu, âm điệu bằng tiếng Hàn của ông:

Hoa nở trên núi
Hoa nở
Không kể xuân đi hay hạ đến
Hoa vẫn nở

Trên núi
Hoa nở
Trên núi
Kia kìa, hoa nở một mình

Con chim con hót trên đỉnh núi
Yêu thích hoa
Nên chim sống
Đồi hoa

Hoa tàn trên núi
Hoa tàn
Không kể xuân đi hay hạ đến
Hoa tàn.

Có thể giờ đây, khi đọc những vần điệu này, những bạn đọc thế hệ mới ở Hàn Quốc và cả ở Việt Nam (dù chưa hiểu hết âm điệu Hàn), sẽ không thấy có gì mới lạ. Nhưng nếu càng đọc kỹ, càng thấy âm điệu và hồn thơ của Kim Sô Uôd thật trẻ trung, trong trẻo và nhất là rất hiện đại.

Tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi việc để mất đi những thần thái, sắc điệu của thơ Kim Sô Uôd qua dịch. Có những bài, những đoạn, những câu đọc mà cảm thấy như là cách gieo vần của thơ Việt. Lại cũng có bài thấy trúc trắc câu chữ. Có bài chưa thoát ý. Tiếc thay!

Dù sao, những bài thơ mà Kim Sô Uôd để lại cho hậu thế, qua bản dịch cho thấy, đó là những thiên tình đẫm lệ của một cuộc đời đầy cay đắng và đau thương, vào thời kỳ tuổi trẻ của ông cảm nhận một cách “sắc nhọn và trực giác” nhất nỗi đau mất nước.

Xin mượn lời của nhà thơ Bằng Việt, rằng “không phải ngẫu nhiên mà các nhà phê bình đã nhận xét về thơ Kim Sô Uôd, so với các nhà thơ đương đại Hàn Quốc: Không ai có thể có biểu hiện sâu hơn, cay hơn, buồn hơn được nữa!

Đó là nỗi buồn của một tâm hồn lớn!”.

Seoul, tháng 9/2005

--- 

[1] Núi Xam Cắc ở thủ đô Seoul.
[2] Loài cây mọc tự nhiên khắp nơi ở Hàn Quốc, có thể sống ở nơi đất cằn cỗi. Mùa xuân, nở hoa sớm nhất, lá mọc sau khi hoa nở, báo hiệu mùa xuân, là loài cây tượng trưng cho tính chịu đựng, hy sinh, chịu kham chịu khổ của người phụ nữ Hàn Quốc.
[3] Chim ắc là, ở Hàn Quốc được coi là Quốc điểu, loài chim truyền tin vui, điềm tốt cho mọi người.
[4] Tên tập thơ của Kim Sô Uôd đã được dịch ra tiếng Việt.

Các bài khác:
 

Sức hút của 'Giết con chim nhại'

'Khóc trong mưa bụi' - cuốn sách đẫm nước mắt của Dư Hoa

Sách best-seller như là hàn thử biểu tâm hồn

Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân

'Nhà phê bình đang sống trong sợ hãi'

'Utopi - một miếng để đời' của Vũ Bão

'Gửi VB' gửi gì cho thơ?

Triết lý văn chương trên trang viết Nguyễn Huy Thiệp

'Tôtem sói' - chuyện không đến mức phải ầm ĩ

Vấn đề tội ác và trừng phạt qua 'Macbeth' và 'Tội ác và trừng phạt'

A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z