|
Kết quả của những phép trừ (đọc Man Nương của Phạm Thị Hoài)
|
Bài phê bình dưới đây được Nguyễn Thị Từ Huy (giảng viên khoa ngữ văn ĐHSP Hà Nội) viết từ gần 4 năm trước, nhưng chưa công bố ở đâu. eVăn xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
Bài này dựa trên bản Man nương in trong tập truyện ngắn cùng tên của Phạm Thị Hoài, NXB Hà Nội, 1995.
(Tựa đề bài viết do eVăn đặt.) |
Đối âm
Đối âm giữa hai nhành xanh một thứ cây không biết tên giàu chất thơ và hành lang dài bếp dầu xô chậu guốc dép giàu chất thô, Man Nương (chúng tôi khảo sát bản Man Nương in trong tập truyện ngắn cùng tên, NXB Hà Nội, 1995) của Phạm Thị Hoài là một cuộc ngoại tình không có màu sắc của ngoại tình, bởi tính chất đều đặn, đơn điệu, thiếu tính đặc biệt, phi thường, hay nói cách khác là mức độ bình thường nhạt nhẽo của nó còn hơn đứt những cuộc “nội tình” trong gia đình. Hai nhành xanh, nụ cười hiền ấy như một nét nhấn lãng mạn trên cái nền vô vị của câu chuyện. Đối âm tạo nên sắc thái mỉa mai, nhất là khi đến cuối truyện, hai nhành xanh một nụ cười ấy được chia đôi, một nửa khô héo trong cái túi cán bộ của Man Nương, còn một nửa đứng nguyên tại chỗ trong sự lãng quên của tôi, chứng kiến cái không gian tình ái được chuyển giao cho người khác.
Đối âm giữa những câu văn dài thoáng tốc độ nhanh biên độ mở rộng[1] phù hợp với dòng chảy miên man của ý thức nhân vật người kể chuyện và sự đóng khung của không gian tình ái chật chội hai tám mét vuông cùng khoảng thời gian đồng hồ chết cứng dành cho việc yêu từ hai giờ đến bốn giờ mỗi buổi chiều, Man Nương tạo hiệu quả đối nghịch cho người đọc. Tác giả dùng sự vận động chảy trôi của ngôn ngữ để cố định một cuộc tình trong những động tác lặp đi lặp lại: “Tôi thường hết lòng ngắm em vào lúc hai giờ năm phút và bốn giờ kém năm phút. Hai giờ kém năm phút em gỡ tóc ra và chải. Bốn giờ kém năm phút em chải và búi tóc lên. Bao giờ cũng là cái lược ấy, cũng nhựa tái sinh, cũng màu xanh lơ, bán rất nhiều ở các mẹt hàng xén ngoài chợ (....) ở khoảng giữa hai lần chải đầu, tất cả diễn ra đều đều, trật tự”. Cái lược, vật chung thân của Man Nương nên được hiểu như một vật biểu trưng cho tính cách đóng khung và thích nghi cao độ với cái quen thuộc nhàm chán ở nhân vật. Ngoài ra phụ từ “cũng” được đặt một cách có chủ ý trong câu cuối của đoạn trích này cho thấy Man Nương không là trường hợp duy nhất. Cái lược của Man Nương chỉ là một trong vô vàn những cái lược được sản xuất hàng loạt, giống hệt nhau. Và Man Nương cũng chỉ là một ví dụ cho cái xã hội ở đó người ta bình thản chấp nhận mọi sự giống nhau, sự lặp lại, ở đó người ta không đặt ra câu hỏi về tính độc đáo, đơn nhất, khác biệt, hay nói cách khác là cái riêng, cái khu biệt mình với những người còn lại. Chỉ duy nhất một lần Man Nương làm cho mình khác đi: “Chỉ có một lần em dắt thêm hoa ngọc lan trong nịt vú. Đấy không còn là một biến cách mà là một phá cách đàng hoàng. Nhưng chỉ một lần em không lặp lại chẳng hiểu vì sao tôi cũng không hỏi”. Một bông ngọc lan cũng có thể trở thành một phá cách, nhưng lần phá cách độc nhất đó chỉ có tác dụng tô đậm thêm cái khả năng tồn tại mà không cần phải có bất kỳ một thay đổi nào ở Man Nương. Nếu phải gọi tên mùi hương ở Man Nương, điều mà người kể chuyện đã cố tình lảng tránh, thì cần phải dùng tính từ gì để chỉ cái mùi của sự tù đọng , sự lưu cữu của những thói quen dai dẳng, của trạng thái bất biến, không thay đổi? Man Nương, hình ảnh của nàng quả là tiêu biểu cho những gì phản tự nhiên, phản quy luật đi lên của cuộc sống.
Đơn âm
Man Nương được kể từ điểm nhìn và bằng giọng của người kể chuyện-nhân vật xưng tôi. Đó là người đàn ông “đương sự” trong cuộc. Anh ta kể lại cuộc tình, săm soi người phụ nữ của mình và chính bản thân mình. Phạm Thị Hoài đã triển khai câu chuyện trong ý thức của người kể chuyện, bằng cách đó biến anh ta thành kẻ áp đặt và dẫn dắt người đọc theo những bình luận và nhận định của anh ta, đồng thời cũng biến anh ta thành ông chủ của Man Nương. Anh ta nắm Man Nương trong tay, tận chân tơ kẽ tóc và trình Man Nương cho thiên hạ theo chủ ý riêng, hình ảnh của Man Nương được trưng ra theo đúng những góc độ mà người kể chuyện mong muốn, không một chút khả năng tự vệ, không mảy may một cơ hội cho cô tự bào chữa. Kể cả cái tên Man Nương cô cũng không hề biết có nó: “ Man Nương ơi Man Nương. Không bao giờ em biết tôi gọi em như thế”. Cấu trúc đơn âm của giọng kể đẩy Man Nương thành một khách thể bị nhìn từ bên ngoài và làm tăng thêm tính mờ nhạt của nhân vật.
Man Nương - kết quả của những phép trừ
Các nhà văn phương Tây thế kỷ XX tìm thấy hứng thú trong những kỹ thuật biểu đạt nhằm hư vô hoá con người. Robbe-Grillet biến con người thành khoảng trống giữa các đồ vật, N. Sarraute quy giản con người thành những giọng nói. Phạm Thị Hoài đã thêm vào đó một kỹ thuật. Man Nương bị hư vô hoá trong ý thức người kể chuyện bằng kiểu định nghĩa trừ dần:
“...em không rón rén nhưng cũng không thật đàng hoàng...”
“...em không phải là một trang mỹ nữ...”
“...em không phải là hạng phụ nữ siêu việt...”
“...em không phải là hạng phụ nữ nổi loạn muộn mằn...”
“Em không có một quá khứ dại dột nào để bây giờ phải cân bằng.”
“Em cũng không hầm nhừ chúng mình trong nhiệt độ cao của những tâm hồn bây giờ mới biết bốc cháy. Em lại càng không xoa dịu lương tâm bằng cách phổ biến là vò xé. Không phức tạp, không riết róng, không ồn ào”
“Cứ trừ dần trừ dần đi, có thể còn lại là em, ôi Man Nương!”
Vậy cuối cùng còn lại cái gì? Rút cục không ai biết Man Nương thực ra là gì. Người kể chuyện không biết, độc giả lại càng không biết. Nhưng Man Nương không phải là số 0. Chẳng là gì cũng chẳng là số 0, tình trạng của Man Nương thật đặc biệt. Man Nương với những đường cong ngược , với một cái lược giống hệt lược của bao người khác, Man Nương không là cái này cũng không là cái kia. Kết quả của những phép trừ, Man Nương chính là sự mờ nhạt của tất cả những gì thiếu bản sắc, thiếu đặc điểm riêng, và có lẽ thiếu cả ý thức về bản thân mình. Man Nương chính là hình ảnh của con người trong một xã hội ở đó ý thức cá nhân không được phát triển một cách đầy đủ, ở đó con người bằng lòng với chủ nghĩa quân bình, bị nô lệ cho sự tầm thường, tẻ nhạt, cho tính chất quen thuộc bất biến, cho sự đồng hóa lẫn nhau. Cuộc ngoại tình của Man Nương là một trong những cuộc ngoại tình buồn tẻ nhất trong văn học. Không có lý do, không có khởi đầu. Nhà văn đem nhét nó vào căn phòng trống rỗng trơ trụi mà nhân vật không thể tin được đấy là không gian ái tình. Tình yêu của họ chỉ thu gọn vào hành động làm tình. Cảm xúc, có lẽ vẫn còn nhưng là một thứ xa xỉ phẩm, chủ yếu là động tác, động tác. Yêu như một việc phải làm: “ Tay cũng thế môi cũng thế nói chung cái nào vào cái ấy rồi tất cả cùng trật tự đi tới đích hoặc thỉnh thoảng không đi tới đích. Tinh thần chung là không sáng tạo”. Những động tác yêu không chút nghệ thuật, không chút kỹ thuật. Những nghệ thuật kỹ thuật đó người đàn ông đều biết rất rõ và còn miêu tả tương đối tỉ mỉ. Nhưng đó là cách thức của người khác, ‘tôi nghe người ta nói..”, “nghe nói...”, không phải cách của họ. Họ cứ như thế suốt hai tiếng từ buổi chiều này sang buổi chiều khác. Họ bằng lòng với việc không là nhân vật của những cuốn tiểu thuyết bán chạy, bằng lòng với việc không là nội dung của một hàng tít lớn. Cuộc ngoại tình nhờ nhờ của họ có họ hàng với cuộc đời nhờ nhờ của hai cô Quỳnh, Dao trong Toả Nhị Kiều của Xuân Diệu. Họ thoát khỏi sự nhàm chán tầm thường của đời sống gia đình hàng ngày để rơi vào một sự nhàm chán tầm thường khác.
* * *
Kỹ thuật tạo đối âm giữa hình thức câu văn dàn trải, gấp gáp và nội dung nhạt nhẽo, đơn điệu của cuộc ngoại tình, trên thực tế, có giá trị như một phản tỉnh. Đó là đối nghịch giữa ý thức người kể chuyện - tác giả và ý thức người kể chuyện - nhân vật xưng tôi.
Để cho câu chuyện diễn ra trong cái nhìn chủ quan và qua giọng kể đơn âm của người đàn ông trong cuộc, Phạm Thị Hoài đã cho thấy thế nào là tình trạng không ý thức của một ý thức đang hướng về chính trạng huống của mình. Cái mà đối với người kể chuyện-tác giả là một vấn đề quan trọng thì với người kể chuyện- nhân vật không được đặt ra như một vấn đề dù anh ta nhìn thấy nó rất rõ. Cuộc ngoại tình chấm dứt như đã bắt đầu, không chút ấn tượng, không làm thay đổi bất kỳ điều gì.
Vả lại bản thân cuộc ngoại tình đó cũng không là gì cả. Bởi vì chính Man Nương, đối tượng tình cảm, cũng chỉ là kết quả hư vô của những phép trừ. Phạm Thị Hoài, với Man Nương, đã bộc lộ nỗi lo âu về tình trạng thiếu bản sắc và thiếu ý thức cá nhân của con người. Nỗi lo âu không chỉ của riêng bà nhưng nó thực sự đã trở thành của riêng bà dưới hình hài của Man Nương.
Hà Nội, 2000
Chú thích:
[1] Trong truyện ngắn này, kiểu câu dài xuất hiện tương đối nhiều, ví dụ: “ Phải sững sờ vài giây trước điều kỳ diệu thấp thoáng rồi có hai cách, hoặc vừa dịu dàng cúi xuống đặt môi vừa khe khẽ ngắm như thể đấy làm bằng pha lê bằng sứ Tàu bằng ngọc lan bằng hai giọt sương khổng lồ, hoặc tay phải bao giờ cũng là tay phải có một nhà văn đã nói về nỗi bất hạnh của những kẻ thuận tay trái cuống cuồng mơn nắn vò xé từ bên này qua bên kia từ bên kia qua bên này như thể chẳng kịp như thể nó sắp đột ngột vượt lên thách thức như một dải Hoàng Liên Sơn hay sắp biến mất sau trận động đất, cách hai là cách như dại cách một là cách như ngây”. Các từ các mệnh đề gối lên nhau, từ này gọi từ kia tạo nên tốc độ gấp gáp cho câu văn, vì thế câu tuy dài nhưng người đọc phải đọc với nhịp điệu hối hả và không thể dừng lại giữa chừng.
|