|
'Cái kỳ quái' của nền khoa cử phong kiến trong 'Lều chõng'
1. Trong lời đề từ cho tác phẩm Lều chõng (3/1939), nhà văn Ngô Tất Tố đã viết: “Lều chõng với nước Việt Nam không khác một ông tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hoặc vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hoá, rồi lại chính nó đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Vì nó, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài đã hiện ra nhiều cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp”.
Như vậy ngay từ đầu ông đã công khai bày tỏ thái độ đoạn tuyệt với nền khoa cử giáo dục phong kiến một cách không vương vấn, nuối tiếc.
Điều này khác hẳn với nhà văn Chu Thiên cùng thời. Ra đời sau Lều chõng ba năm, tiểu thuyết phóng sự Bút nghiên (1942), và ngay sau đó là tiểu thuyết Nhà Nho (1943) của Chu Thiên như một tiếng nói ngợi ca về một thời vang bóng của nền khoa cử giáo dục phong kiến với một tâm trạng hoài cổ da diết.
Thực ra tâm trạng hoài cổ nói chung không chỉ có ở Chu Thiên, mà còn thấy ở một số nhà văn khác. Nó được hiểu như một thái độ phản kháng thực tại. Và nhất là trong bối cảnh những năm sau 1940, xã hội Việt Nam đang trở nên hết sức ngột ngạt, bế tắc, các nhà trí thức và các văn nghệ sĩ hoang mang, không biết thời cuộc đi về đâu. Cho nên một trong những hướng giải thoát khỏi tâm trạng này là tìm về những vẻ đẹp xưa. Nguyễn Tuân là một trường hợp tiêu biểu như vậy, thể hiện rõ nhất trong tập Vang bóng một thời (1940). Hay cũng có thể nhắc đến tiểu thuyết Thanh đạm (1943) của Nguyễn Công Hoan. Cho nên, việc tiếp cận đề tài khoa cử giáo dục phong kiến theo cách của Chu Thiên có thể hiểu và phần nào cảm thông được. Tuy nhiên trước yêu cầu canh tân văn hoá đương thời, thì cách tiếp cận đó không tránh khỏi màu sắc bảo thủ, lạc hậu.
Trong khi đó, Ngô Tất Tố lại dứt khoát ngay từ đầu chọn thái độ nhập cuộc. Trước hiện tại, ông phê phán cái chế độ sưu thuế quái gở đương thời trong tác phẩm Tắt đèn, những hủ tục quái gở ở chốn thôn quê qua Tập án cái đình và Việc làng (được ông gọi ra bằng những chữ như: hủ tục, ổ hủ bại, lệ làng, cái gánh nặng, những dây tệ tục; chỗ bẩn thỉu, tối tăm… trong luỹ tre xanh…”. Khi nhìn về quá khứ, ông lại bóc trần sự “kỳ quái” của chế độ thi cử phong kiến xưa qua Lều chõng. Như vậy, nhìn vào sáng tạo của Ngô Tất Tố, thấy nhất quan một điểm này: ông hướng về những cái kỳ quái, lựa chọn và miêu tả những cái kỳ quái của đời sống xã hội xưa và đương thời. Toàn bộ tài năng và nhiệt hứng của nhà văn tập trung phanh phui cho thật sáng tỏ những cái kỳ quái muôn hình vạn trạng đó.
2. Nhìn ra cho được những cái kỳ quái không dễ. Chỉ có khi nào nhận thức ra được cái văn minh, tiến bộ, cái cần hướng đến thì lúc đó mới có thể nhìn ra cái kỳ quái như là những cái phản tiến bộ, phản nhân văn, phản văn hoá. Cho nên cái nhìn của cụ Ngô Tất Tố về đời sống thực sự là một cái nhìn văn hoá, do cảm quan văn hoá mang lại.
Vậy thì bộ mặt của những cái kỳ quái trong cái nhìn của cụ Tố là như thế nào?
Thứ nhất, đó là những cái xưa, cũ không còn hợp thời, cần phải dứt khoát đoạn tuyệt với nó; nếu khư khư giữ nó, sẽ cản trở cho công cuộc tiến hoá đương thời. Lều chõng, Tập án cái đình, Việc làng thuộc dạng này.
Thứ hai, đó là những cái tàn ác, phi nhân tính dồn đẩy con người rơi vào cảnh ngộ cùng đường tuyệt lộ, gây ra những thảm cảnh đau đớn. Tắt đèn, Dao cầu thuyền tán… thuộc loại như vậy.
Thứ ba, những cái “ngu dốt giả dối” đã “làm hại cho tư tưởng quốc dân” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống cần phải “nhổ cỏ” . Tinh thần này thể hiện trong hàng loạt các bài báo về sự kiện, vụ việc, nhân vật ở khắp mọi nơi, thuộc đủ các loại hạng người được đăng trên các báo chí đương thời.
Điều quan tâm lớn nhất của ông là những cái kỳ quái, quái gở trong xã hội cần phải loại bỏ. Cái kỳ quái đồng nghĩa với phản văn hoá. Như vậy có thể nhận định rằng: Ngô Tất Tố miêu tả đời sống không phải dừng lại ở sự kiện bề mặt có tính xã hội học, mà bao giờ ông cũng suy xét, soi ngắm nó dưới góc nhìn văn hoá trước yêu cầu canh tân văn hoá và phát triển xã hội. Bài toán đặt ra đối với ông là làm sao cho quốc dân đồng bào có cơ hội thoát ra khỏi những cái kỳ quái, quái gở để có được một cuộc sống văn minh hơn, nhân văn, dễ chịu hơn.
3. Trở lại với tác phẩm Lều chõng. Nhà văn không dừng lại ở chỗ miêu tả tình trạng dở mếu dở cười của trường thi và những thân phận người thi, mà ông đặt vấn đề sâu xa hơn: Tâm lý khoa cử và quan trường của người Việt.
Chúng ta vẫn nghe nói rằng người Việt có truyền thống hiếu học. Điều đó không sai. Trước kia, trừ những gia đình nghèo khó, không có điều kiện cho con cái theo học, còn hễ gia đình nào có mức sống nhỉnh hơn một chút đều muốn gửi con theo thầy kiếm ít chữ thánh hiền. Trong cái hành vi cho con đi học, bao giờ cũng nhen nhóm một hy vọng: biết đâu con mình chẳng đạt bia đá bảng vàng, rồi sau này mũ áo xênh xang sắm vai ông nghè ông cống. Nếu không đỗ đạt, người dân lại tự nhủ: thôi thì biết dăm ba chữ thánh hiền cũng quý, để mỗi khi đứng trước ban thờ tổ tiên cũng còn có đôi chữ nghĩa mà biết khấn vái cho có lề có lối… Nhìn chung ai cũng có cái tâm lý theo học ước mong có ngày vinh hiển để được làm quan.
Học để đi thi, và thi đỗ để ra làm quan là một tâm lý có ý nghĩa thống trị nền khoa cử giáo dục thời phong kiến. Nếu nhìn vào Bút nghiên của Chu Thiên, người đọc bắt gặp nhiều lần những lời cửa miệng của người lớn khuyên bảo, động viên nhân vật Tâm học hành theo cách như: “Cố mà học đi cháu ạ, cố học giật lấy cái cử nhân để rồi làm Tiên chỉ làng này mà ăn thủ lợn”, “Học thi đỗ làm quan, tước lộc vua ban, thày cũng được nhờ”… Có một lời khuyên rất đáng chú ý của ông cậu (cũng trong vai thầy đồ) đối với Tâm rằng: “Mọi bậc là mọi nghề, như làm ruộng, thợ mộc, thợ rèn, thợ sơn, cho chí người dệt vải, người đi cầy, đều thấp kém cả. Chỉ có người đọc sách là cao quý. Đọc sách tức là đi học. Đi học biết chữ thi đỗ làm quan, áo xanh áo đỏ, mũ cao áo dài, võng lọng vua ban thật là sung sướng danh giá hơn người… Mãn triều chu tử quý, tận thi độc thư nhân. Đầy triều những vị quan áo đỏ áo tím, đều là những người chịu đọc sách cả. Đấy cháu hiểu chưa. Đi học được quý trọng như vậy, cháu có thích học không?”.
Lời khuyên này là một minh chứng hùng hồn cho tâm lý thích làm quan, trọng quan tước của người Việt. Đến đây, chúng ta có thể tham khảo ý kiến của nhà văn, nhà báo Bá Dương trong cuốn Người Trung Quốc xấu xí. Ông nói: “Đối với người Tây phương: tri thức là quyền lực. Đối với người Trung Quốc: quyền lực là tri thức”1. Học hành khoa cử nghìn đời của chế độ phong kiến đã hình thành nên một cách để đo đếm, đánh giá con người rằng: Cái giá trị của một con người là ở chỗ anh ta làm chức tước gì chứ không phải anh ta có học vấn như thế nào. Đây là điểm hạn chế không chỉ của người Trung Hoa mà của cả người Việt. Tư tưởng này vẫn đè nặng lên cuộc sống ngày hôm nay. Người Việt hôm nay dù đói khổ bằng mấy cũng cố cho con đi thi để vào Đại học, hy vọng rồi ra sau này ít thì cũng có công ăn việc làm nhàn nhã, sang trọng, nhiều thì biết đâu lại được làm quan, mà làm quan thì vừa danh giá lại vừa giàu có, vừa có quyền lại có tiền… Cho nên mới sinh ra nhiều thảm cảnh trong việc lều chõng lên kinh ứng thí. Đau lòng hơn, có cả những em học sinh do tâm lý đổ vỡ quá mức nên đã quyên sinh cho đỡ xấu hổ với bạn bè, đỡ bị bố mẹ nguyền rủa. Thân phận nhân vật cụ già tóc bạc chân yếu tay run, mặt mũi xám ngoét, không chống đỡ nổi cái mưa rét ở trường thi nên bị ngã được miêu tả trong Lều chõng cũng là một thân phận bi hài. Khi được hỏi : “Khốn nạn! Bấy nhiêu tuổi đầu, còn thi với cử làm gì cho khổ thế này?”, nhân vật trả lời: “Các thày cứ làm ơn dắt lão đến cửa trường… Lão thi sáu khoá rồi, khoá này mới được vào đệ nhị; sống chết lão cũng vào trường cái đã”. Phải chăng Ngô Tất Tố liên tưởng đến hình ảnh người cha của mình cũng đã sáu lần lều chõng mà danh vẫn hoàn không?2 Nhà văn đã viết về quang cảnh trường ốc với một cái nhìn trào lộng xuyên suốt, quán xuyến trong toàn tác phẩm. Ông đã tấn công vào tâm lý chạy theo công danh, quyền lực của người Việt. Xét trên phương diện văn hoá, ông đã vượt xa Chu Thiên của hai tác phẩm ra đời sau đó mấy năm với một nhãn kiến rộng rãi, hướng về tương lai, hướng về sự tiến bộ.
4. Kết thúc tác phẩm Lều chõng là cảnh đoàn viên của Đào Vân Hạc sau một lần hỏng thi do phạm huý mà bị bắt vào ngục, suýt nữa bỏ mạng; và cận cảnh hơn là chốn buồng the của vợ chồng Vân Hạc và Ngọc. Trước nhất nói về nhân vật người vợ. Đây là một cô gái trong suốt cuộc đời của mình ôm cái mộng muốn được làm bà nghè bà cống (một mong ước phổ biến của các cô gái con nhà khá giả thời xưa: Lấy chồng cho đáng tấm chồng - Bõ công trang điểm má hồng răng đen). Đầu tiên, mộng ước này đã bị đổ vỡ do nghè Long không ngó ngàng gì đến cô nữa. Cái cảnh cô bị ngất lên ngất xuống hôm đi đón nghè Long vinh quy bái tổ là một cảnh tượng có một không hai. Cụ Tố rất tinh quái khi cho mấy bà già nhà quê vén quần lên để lấy cái thứ nước màu vàng xoa vào mặt và đổ vào mồm cô Ngọc lúc đang phải cảm. Nhà văn đã tiến hành giải thiêng cái cảnh vinh quy ngay lập tức. Rồi sau đấy ít lâu, cô ta được Vân Hạc kết hôn. Cô không quản ngại vất vả sớm khuya, chịu vò võ một mình cho chồng đèn sách ăn học, lều chõng đi thi. Bao nhiêu chí hướng, mộng ước của nhà vợ, của vợ, của thầy, của bạn dồn vào Vân Hạc mong giật được bảng vàng. Nhưng rốt cuộc, xôi hỏng bỏng không. Cảnh đoàn viên cuối cùng tác giả để cho cả hai vợ chồng trò chuyện. Cả hai nhận ra cái khốn khổ khốn nạn của kiếp lều chõng. Vợ ân hận vì đã ra sức động viên, ép uổng chồng. Chồng trách yêu vợ. Cả hai ngâm lên câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ: “…Kiếp sau xin chớ làm người - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Rồi cảnh ái ân nồng thắm của đôi vợ chồng khép lại tác phẩm như là một tiếng reo hoan lạc cáo chung cho cái mộng ước quan trường mà cả hai bấy lâu theo đuổi. Cụ Ngô Tất Tố đã miêu tả khung cảnh ái ân ấy với một niềm vui thanh thoát, trong đó không giấu nổi nụ cười đầy vẻ giễu cợt cả cái nền khoa cử giáo dục phong kiến xưa kia. Hoá ra, hạnh phúc lớn nhất của đời một con người chẳng phải đâu xa, chẳng phải ở bảng vàng võng lọng, chẳng phải ở quan tước bổng lộc, mà ở ngay trong tình cảm tương đắc vợ chồng dưới một mái nhà êm ấm. Liệu có nên coi đây là một tuyên ngôn nhân sinh của cụ Tố không nhỉ?... Kết quả cuối cùng của mộng ước bảng nhãn thám hoa, quan tước là một kẻ suýt mất mạng trong chốn khoa trường như Vân Hạc, một kẻ cũng suýt mất mạng ngoài sa trường, giờ đây lại bị giáng làm lính thường xung vào đội quân dẹp giặc Quảng Nam như nghè Long.
5. Công bằng mà nói, lên tiếng phê phán tâm lý chạy theo khoa cử quan trường thì Ngô Tất Tố không phải là người đầu tiên. Các nhà trí thức trước đó và cùng thời ít nhiều cũng đã nói đến như Phan Kế Bính, Đào Duy Anh3… Nhưng Ngô Tất Tố là người lên tiếng đánh vào tâm lý khoa cử và quan trường trong truyền thống người Việt bằng ưu thế của riêng ông, nghĩa là bằng văn chương một cách có hiệu quả. Loại tâm lý này ngày hôm nay vẫn đang rất trầm trọng với nhiều biến tướng tinh vi khác nhau4. Bằng một viễn kiến đáng nể, với một giọng điệu hài hước hóm hỉnh, lắm khi tinh quái, cụ Ngô Tất Tố đã dọn lên bàn tiệc văn chương một vấn đề bất ổn thuộc về văn hoá nước nhà. Đây là khả năng tự ý thức văn hoá của dân tộc mà những bậc trí thức thực sự như ông mới có thể có được. Với sự nghiệp văn học, khảo cứu, biên dịch, báo chí nói chung và tác phẩm Lều chõng nói riêng, cụ Ngô Tất Tố xứng đáng là một nhà trí thức, một nhà văn hoá theo đúng nghĩa của danh xưng này.
----------
1 Do Nguyễn Hồi Thủ dịch, NXB Văn nghệ, USA,1999, tr.215
2 Ông nội nhà văn 7 lần lều chõng đi thi mà chỉ đậu tú tài. Còn cụ thân sinh ra Ngô Tất Tố cũng đã 6 lần lều chõng, và cả sáu lần thất bại, rốt cục cam chịu thân phận hương sư.
3 Phan Kế Bính trong cuốn Việt Nam phong tục, xuất bản năm 1915 có viết: “Xưa nay lối khoa cử giáo dục của ta là một con đường rộng rãi phẳng phiu cho bọn sĩ phu. Sĩ phu có do con đường ấy xuất thân mới là chính đồ, mà sự vinh hạnh về sau cũng bởi đó mà ra cả. Bởi vậy nhân tâm nước mình say mê bia đá bảng vàng, cố sức mà dùi mài truyện hiền kinh thánh, có người đầu bạc mà vẫn chịu khó đeo bộ lều chiếu để đua ganh với bọn thiếu niên, mà rút lại thì có gì đâu, học chẳng qua cũng là học văn chương, thi chẳng qua cũng là thi văn chương. Ai may ra hiển đạt, cũng phải nhờ có tài trí riêng mới chuyển vận được việc đời, chứ chuyên một lối văn chương có mấy khi mà làm nên được việc. Vậy mà ta mê mẩn mấy trăm năm nay, vẫn chưa hết tỉnh” (Dẫn theo bản in của NXB Hà Nội, 1999, tr.285).
Học giả Đào Duy Anh cũng nhận xét: “Cái thói trọng từ chương, ưa hư văn đã thành một thứ thiên tính của dân tộc ta. Với cách giáo dục ấy thì người thiên tư lỗi lạc cũng phải nhụt đi, huống gì những người tư chất tầm thường, thực là một thứ giáo dục giết chết nhân cách vậy” (Việt Nam văn hoá sử cương, 1938. Dẫn theo bản in NXB TP HCM, tr.290).
4 Chương trình thời sự ngày 23/11/2005 của Đài truyền hình VN đã đưa ra một con số thống kê đáng giật mình: Hiện nay nước ta có khoảng 9.000 người có trình độ Tiến sĩ trở lên, trong đó, số người quản lý chiếm 70%, và số người trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu chỉ vào khoảng 30%. Đây là một tỉ lệ không bình thường ở một đất nước đang trong từng ngày từng giờ hô hào công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
(Tham luận trong Hội thảo khoa học Những phát hiện mới về thân thế và tư cách nhà văn hoá Ngô Tất Tố, tổ chức tại Báo Hà Nội mới, ngày 28/11/2005. eVăn đặt lại đầu đề).
|