|
Để tránh những cuộc tỷ thí với cối xay gió
Buổi sáng đầu năm chúng ta dậy và bóc tờ lịch đầu tiên. Con số "1" bình thường lúc ấy gợi biết bao nhiêu cảm xúc về thời gian, kỷ niệm, ước mơ, hạnh phúc... Lúc đó chúng ta đọc con số "1" đâu phải để biết ngày tháng. Chúng ta đọc để cảm nhận cuộc đời. Đó là một bài thơ vĩ đại.
Cách đây chừng sáu bảy năm, nhân bàn về sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi trong Thơ hay là cái chết của thời gian [1], tôi có đề cập đến định nghĩa thơ của giáo sư Phan Ngọc trong bài Thơ là gì [2]. Sau đó, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà đăng bài Thời gian không chết, chỉ có khoa học dễ bị "bức tử" mà thôi!, lên án tôi "làm nhiễu loạn các chuẩn mực định giá văn chương, đẩy tới sự “bức tử” các phát kiến khoa học ngay từ lúc mới ra đời" và ví tôi với kẻ "tỷ thí với chiếc cối xay gió". Tôi đã không trả lời, phần vì bận, nhưng lý do chính là tôi tin vào sự sáng suốt của bạn đọc - nhất là khi, nhờ có Internet, cả ba văn bản đều có thể tìm đọc dễ dàng. Trong bài này tôi nhắc lại cuộc thảo luận đó cũng chỉ nhằm đề cập đến một khía cạnh khác, liên quan đến vai trò của nền dịch thuật nước nhà. Nhưng trước hết xin tóm tắt mấy luận điểm chính.
Giáo sư Phan Ngọc, nhận xét rằng: "Các công trình ngôn ngữ học nước ngoài... không phải tới điểm thơ là gì mà cái nên thơ... là gì", và đưa ra định nghĩa: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này".
Giáo sư giải thích từ "quái đản" như sau: "Nói rằng hình thức tổ chức ngôn ngữ của thơ hết sức quái đản là nói rằng trong ngôn ngữ giao tiếp không ai tổ chức ngôn ngữ như thế". Ông nhấn mạnh: "Ta chỉ nghe nói những lời hoa mỹ về ngôn ngữ này (tức “ngôn ngữ quái đản” - NTL), mà không thấy một sự đối lập thích đáng (pertinent) giữa thơ và văn xuôi [3]”.
Trong bài viết nói trên, tôi cho rằng định nghĩa này không chặt chẽ, vì không chỉ thơ mà tất cả các thể loại văn học nói chung, kể cả tiểu thuyết, đều đáp ứng những điều kiện mà giáo sư Phan Ngọc đưa ra: "... nếu điều kiện đủ để một văn bản là được gọi là thơ là có 'tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này' thì một câu đối - mà tổ chức ngôn ngữ còn quái đản hơn nhiều: luôn luôn chỉ có hai câu, đối nhau cả về từ loại, ngữ nghĩa, ngữ âm, điển tích đến những trò chơi chữ...; và cũng 'bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này' - có phải là thơ không?".
Ngoài ra, tôi cũng lưu ý rằng: "Mọi ngôn ngữ sử dụng trong những lĩnh vực khác nhau đều có những nguyên tắc riêng mà trong ngôn ngữ giao tiếp không ai tổ chức ngôn ngữ như thế".
Trước hết, cần phải nói rằng định nghĩa thơ của Phan Ngọc rất giống một nửa - định nghĩa văn học của Roman Jakobson mà Eagleton trích dẫn trong Literary Theory: An Introduction (Nhập môn Lý luận Văn học): "Văn học... 'là một sự phá hoại có tổ chức đối với ngôn ngữ thông thường'" [4]. Như vậy, định nghĩa văn học của Jakobson, trước tôi rất nhiều, đã bác bỏ định nghĩa thơ của Phan Ngọc.
Nhưng ở đây tôi muốn bàn chuyện khác. Mặc dù hai định nghĩa hao hao giống nhau, tôi tin giáo sư Phan Ngọc chưa biết định nghĩa của Jakobson, vì nếu biết chắc giáo sư phải nhắc đến tên Jakobson, hay ít ra là áp dụng nó đầy đủ hơn - cho văn học nói chung chứ không chỉ cho riêng thơ. Vấn đề là ở chỗ, đây là một định nghĩa nổi tiếng thế giới của một trong những nhà ngôn ngữ và lý luận văn học nổi tiếng nhất thế kỷ XX. Vai trò của Jakobson lớn đến mức gần như trong suốt thế kỷ XX, giới ngôn ngữ và văn học chỗ nào cũng gặp ông. Có thể nói rằng hầu như bất kỳ sinh viên văn khoa có trình độ trung bình nào ở phương Tây cũng đều biết định nghĩa này. Bạn đọc có thể gặp nó trong rất nhiều tài liệu, trong đó cuốn Nhập môn Lý luận Văn học của Terry Eagleton có thể coi như là sách gối đầu giường của hàng chục triệu người học và dạy văn trong vài chục năm trở lại đây. (Còn cuốn sách của giáo sư Phan Ngọc có tên là Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học).
Tuy nhiên, vấn đề không kết thúc ở đây. Roman Jakobson không phải là người duy nhất định nghĩa văn học bằng cách đối lập ngôn ngữ văn học nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng, với ngôn ngữ thông thường. Đó là quan điểm chung của các nhà Hình thức chủ nghĩa Nga trong hai thập kỷ 1910-1920, trường phái Cấu trúc Praha những năm 1920-1930 (trong cả hai nhóm này Jakobson đều là một thành viên trụ cột), Phê Bình Mới (New Criticism) nở rộ ở Anh - Mỹ những năm 1940 và đã tàn lụi vào thập niên 1970, và chừng mực nào đó cả Tín hiệu học (Semiotics) sau này, mặc dù họ gọi thứ "ngôn ngữ thông thường" ấy bằng những cái tên khác nhau: "ngôn ngữ hàng ngày" (Shklovsky), "ngôn ngữ thực dụng" (Eikhenbaum), hay "ngôn ngữ giao tiếp" và "ngôn ngữ chuẩn" (Nhóm ngôn ngữ Praha)...
Shklovsky, chẳng hạn, trong Nghệ thuật như là thủ pháp (1917 - tiểu luận này gần đây đã được dịch sang tiếng Việt), cho rằng ngôn ngữ hàng ngày có xu hướng bị tự động hoá, vì thế văn học là thứ ngôn ngữ có chức năng làm lạ hóa ngôn ngữ giao tiếp, khiến cho quá trình tiếp nhận bị trì hoãn, và nhờ vậy người đọc có thể tiếp nhận sự vật như thể mới gặp lần đầu.
Jan Mukarovsky là môt ví dụ khác. Thành viên Nhóm ngôn ngữ Praha này viết trong Ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ thơ (Standard Language and Poetic Language - 1948) như sau: "Ngôn ngữ thơ, vì thế, không phải là ngôn ngữ chuẩn. Nói vậy không phải để phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa hai thứ ngôn ngữ, trong đó, đối với thơ, ngôn ngữ chuẩn là một cái nền phản ánh sự bóp méo có dụng ý thẩm mỹ của các thành tố ngôn ngữ của tác phẩm; nói cách khác, sự phá hoại cố ý quy phạm của ngôn ngữ chuẩn." [5]
Vấn đề cũng không kết thúc ở đây. Việc định nghĩa văn học bằng cách đối lập ngôn ngữ văn học (hoặc ngôn ngữ thơ nói riêng) với ngôn ngữ thường ngày, hay ngôn ngữ giao tiếp, đã bị rất nhiều học giả lớn bác bỏ. Xin đưa ra vài ví dụ. Eagleton viết trong cuốn Nhập môn Lý luận văn học vừa nhắc ở trên: "Các nhà Hình thức chủ nghĩa quan niệm ngôn ngữ văn học như là một hệ thống lệch chuẩn, một thứ cưỡng bức về ngôn ngữ: văn học là một loại ngôn ngữ 'đặc biệt', đối lập với thứ ngôn ngữ 'thông dụng' chúng ta thường dùng. Nhưng để thấy được sự lệch chuẩn thì phải biết được cái chuẩn sẽ bị lệch ấy là gì. Mặc dù "ngôn ngữ thông dụng" là khái niệm ưa thích của một vài triết gia ở Oxford, ngôn ngữ thông dụng của các triết gia Oxford chẳng có mấy điểm chung với thứ ngôn ngữ thông dụng của các công nhân bốc xếp ở bến tàu Glasgow. Ngôn ngữ mà cả hai thành phần xã hội này dùng để viết thư tình cũng thường khác với cách họ nói chuyện với giáo chức địa phương. Ý tưởng rằng có một thứ ngôn ngữ "bình thường", một thứ phương tiện giao tiếp như nhau đối với mọi thành viên trong xã hội, chỉ là một ảo giác".[6]
Trước đó, Mary Louise Pratt, nhà lý luận Mỹ, trong cuốn Toward a Speech Act Theory of Literary Discourse (1977) đã dành hẳn chương đầu tiên nhan đề Ngụy biện về "Ngôn ngữ thơ ca" (The "Poetic Language" Fallacy) để bác bỏ cách định nghĩa thơ dựa trên sự đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ giao tiếp. Trích dẫn Roger Fowler, người đã gọi sự đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ giao tiếp là "một trong những nguồn gốc lớn nhất của các lẫn lộn và sai lầm trong mỹ học thi ca" (one of the greatest sources of confusion and error in poetic aesthetics), bà viết: "Điều khiến học thuyết về ngôn ngữ thơ đáng ngờ nhất là ở chỗ mặc dù các môn đồ của nó luôn khẳng định cơ sở thực chứng cho sự đối lập ngôn ngữ thơ/ không thơ, thật ra họ chưa bao giờ kiểm chứng giả định của họ về diễn ngôn phi văn học so với các dữ liệu diễn ngôn thực tế, "thông thường", và trên thực tế họ cũng không cảm thấy có nhu cầu kiểm chứng... Nếu một sự kiểm chứng như thế được tiến hành, những giả định đó sẽ sụp đổ hoàn toàn và cùng với chúng cũng sự sụp đổ luôn hai ý niệm nòng cốt đối với thi pháp học cấu trúc: niềm tin rằng văn học khác hẳn với các loại phát ngôn khác về mặt chức năng và hình thức; và kèm theo nó là niềm tin vào tính độc lập ngôn ngữ của văn học".[7]
Tuy nhiên, những người bác bỏ cách quan niệm này sớm nhất và thuyết phục nhất lại là các tác giả Xô Viết, Valentin Nikolaevich Voloshinov (1884/5-1936), Pavel Nikolaevich Medvedev (1891-1938), và Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) - nhất là Bakhtin, người mà ảnh hưởng đến nay vẫn không ngừng tăng lên kể từ khi tác phẩm của ông được phương Tây biết đến vào thập niên 1970.
Cơ sở của sự đối lập là ngôn ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure. Trước kia, ngôn ngữ được coi như một công cụ giao tiếp bí ẩn do Thượng Đế ban cho con người. Ferdinand de Saussure, người thường được coi là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại, với cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916), đã giải thiêng cho ngôn ngữ bằng cách chỉ ra nguồn gốc xã hội của nó. Tuy vậy, Saussure quan niệm ngôn ngữ như một hệ thống đồng đại, trong đó mối liên hệ giữa các âm với nghĩa của chúng là hoàn toàn võ đoán. Một trong những điểm quan trọng nhất trong lý thuyết của Saussure là sự phân biệt hành ngôn (parole), tức hành vi nói trong thực tiễn, với ngôn ngữ (langue), một hệ thống khách quan chung cho mọi thành viên của một cộng đồng ngôn ngữ. Theo ông, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ (langue), chứ không phải là hành ngôn (parole). Chính ý niệm về một thứ ngôn ngữ chung cho mọi người như thế là xuất phát điểm cho sự đối lập ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ phi văn học. Người ta tin rằng bằng cách bóp méo thức ngôn ngữ chung đó, nhà văn sẽ tạo ra được tính văn chương (Literariness - một thuật ngữ của Roman Jakobson).
Trong tác phẩm kinh điển Chủ nghĩa Marx và Triết học ngôn ngữ (1929) [8], Voloshinov và Bakhtin phê phán mạnh mẽ lý thuyết ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure và đưa ra học thuyết ngôn ngữ được toàn thế giới công nhận là tốt nhất hiện nay, cho phép thoát ra khỏi ngõ cụt không chỉ của Chủ nghĩa cấu trúc mà cả Chủ nghĩa hậu cấu trúc và Giải tạo luận (Deconstruction) của Derrida. Voloshinov và Bakhtin phê phán hai xu hướng chính trong nghiên cứu ngôn ngữ. Xu hướng thứ nhất có thể gọi là Chủ quan cá nhân, coi ngôn ngữ như là sản phẩm của tâm sinh lý người nói. Xu hướng thứ hai, có thể gọi là Khách quan trừu tượng (bao gồm lý thuyết của Ferdinand de Saussure) quan niệm ngôn ngữ như một hệ thống ổn định với những quy luật của chính nó. Trong lý thuyết của Saussure, ngôn ngữ được nhìn nhận như là một thể thống nhất, tách rời khỏi các hoàn cảnh xã hội cụ thể, trong đó phát ngôn được đưa ra với một nghĩa xác định và người nghe chỉ có thể tiếp nhận một cách thụ động mà thôi. Voloshinov và Bakhtin chỉ ra rằng ngôn ngữ luôn luôn có tính đối thoại và phụ thuộc vào bối cảnh xã hội, rằng: "Ngữ nghĩa không nằm ở từ, cũng không nằm trong đầu người nói hoặc người nghe. Ngữ nghĩa là hiệu ứng do tương tác giữa người nói và người nghe được sản sinh ra thông qua thứ vật liệu là một phức hợp âm thanh cụ thể"[9]. Họ cũng chỉ ra rằng cơ sở của quan niệm về ngôn ngữ như là hệ thống các quy tắc hình thức nằm ở thực tế là các nhà ngữ học châu Âu chỉ căn cứ trên xác chết của những ngôn ngữ được lưu giữ trong các văn bản cổ. "Tư duy ngôn ngữ học châu Âu hình thành và chín muồi cùng với mối quan tâm về thứ xác chết của ngôn ngữ viết; hầu hết các phạm trù, cách tiếp cận và kỹ thuật cơ bản của nó được tạo ra trong quá trình nghiên cứu lại những xác chết đó"[10].
Trong một tác phẩm kinh điển khác, Phương pháp Hình thức trong Nghiên cứu Văn học [11] (1928), Medvedev và Bakhtin gọi sự đối lập giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường của các nhà Hình thức chủ nghĩa là "ngây thơ". Cái "ngôn ngữ giao tiếp" chung cho mọi người mà các nhà Hình thức chủ nghĩa dựa vào để đưa ra khái niệm ngôn ngữ văn học, và ngôn ngữ thơ nói riêng, không hề tồn tại. Medvedev và Bakhtin viết: "Một phát ngôn sơ đẳng nhất hay một sự biểu đạt đúng mực nhất vẫn có thể được tiếp nhận một cách nghệ thuật. Thậm chí một từ độc lập cũng có thể được tiếp nhận như là nột phát ngôn thi ca - có điều, dĩ nhiên, ở những tình huống trong đó nó liên hệ tới một bối cảnh cụ thể và được gán cho một chủ đề hay các yếu tố khác"[12].
Nhận xét của Medvedev và Bakhtin vô cùng tinh tế. Một ví dụ là buổi sáng đầu năm chúng ta dậy và bóc tờ lịch đầu tiên. Con số "1" bình thường lúc ấy gợi biết bao nhiêu cảm xúc về thời gian, kỷ niệm, ước mơ, hạnh phúc... Lúc đó chúng ta đọc con số "1" đâu phải để biết ngày tháng. Chúng ta đọc để cảm nhận cuộc đời. Đó là một bài thơ vĩ đại. Tôi tin chắc rằng rất nhiều người trong chúng ta đã từng và sẽ còn xao xuyến đọc bài thơ giản dị ấy - một bài thơ chẳng hề có bất kỳ một thủ pháp bóp méo, lệch chuẩn hay quái đản nào.
Bạn đọc có thể phản bác: Chắc gì Eagleton, Pratt, Bakhtin đã đúng, hoặc đúng hơn giáo sư Phan Ngọc.
Tôi hoàn toàn đồng ý. Điều tôi muốn nói đơn giản là: nếu các tác giả vừa kể được giới thiệu (chẳng hạn chỉ cần cuốn Nhập môn Lý luận Văn học của Eagleton được dịch), chắc giáo sư Phan Ngọc đã không đưa ra định nghĩa thơ nói trên, hoặc nếu đưa ra thì ông cũng đưa ra theo cách khác. (Xin lưu ý rằng chính Roman Jakobson cũng có một bài viết nhan đề là Thơ là gì?[13]). Nếu thế, chắc chắn tôi đã không có ý định bàn đến đến định nghĩa đó, hoặc nếu định bàn thì chắc cũng chẳng đến lượt - các nhà phê bình chuyên nghiệp làm điều đó giỏi hơn nhiều. Họ sẽ bảo tôi, "Tay này chỉ nhiễu sự. Có gì là mới đâu, định nghĩa ấy người ta đã bác bỏ từ lâu rồi".
Rõ ràng là nếu không có một nền dịch thuật tốt, những nhà nghiên cứu của chúng ta sẽ tiếp tục phát minh ra một nửa - định luật vạn vật hấp dẫn, hay tồi tệ hơn là nửa chiếc xe đạp, còn ai đó sẽ lại bị buộc tội "tỷ thí với chiếc cối xay gió".
* Bài đã in trên báo Văn Nghệ số 16/2007. Đây là bản đầy đủ do tác giả cung cấp.
-----
[1] In lại trong Minh triết của giới hạn, Hà Nội: NXB Hội Nhà Văn, 2005, tr. 37.
[2] Phan Ngọc, Thơ là gì, trong Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ, TP HCM, 2000, tr. 29.
[3] Ibidem.
[4] Nguyên văn: "...literature is a kind of writing which, in the words of the Russian critic Roman Jakobson, represents an 'organized violence committed on ordinary speech'" - Eagleton, Terry. Literary Theory - An Introduction, Minneapolis: U. of Minnesota P. 1983. tr. 2.
[5] Nguyên văn tiếng Anh: "Poetic language is thus not a brand of the standard. This is not to deny the close connection between the two, which consists in the fact that, for poetry, the standard language is the background against which is reflected the esthetically intentional distortion of the languistic components of the work, in other words, the intentional violation of the norm of the standard". Mukarovsky, Jan, "Standard Language and Poetic Language" Critical Theory since Plato. ed. Hazard, Adams, New York: Harcourt Brace Jovanovich, Inc, 1971, tr. 1050.
[6] Nguyên văn: "The Formalists, then, saw literary language as a set of deviation from a norm, a kind of linguistic violence: literature is a 'special' kind of language, in contrast to the 'ordinary' language we commonly use. But to spot a deviation implies being able to identify the norm from which it swerves. Though 'ordinary language' is a concept beloved of some Oxford philosophers, the ordinary language of Oxford philosophers has little in common with the ordinary language of Glaswegian dockers. The language both social groups use to write love letters usually differs from the way they talk to the local vicar. The idea that there is a single 'normal' language, a common currency shared equally by all members of society, is an illusion". tr. 4-5.
[7] Nguyên văn: "What makes the poetic language doctrine most suspect is the fact that although its disciples claim empirical support for the poetic/nonpoetic opposition, they in fact have never tested their assumptions about nonliterary discourse against real, "ordinary language" data, and indeed have felt no need to do so...[W]hen such a test is performed those assumptions collapse altogether and with them collapse the two central notions on which structuralist poetics is based: the belief that literature is formally and functionally distinct from other kinds of utterances and the concomitant belief that literature is linguistically autonomous" Pratt, Mary Louise, Toward a Speech Act Theory of Literary Discourse, Bloomington: Indiana U. P., 1977, (xii)..
[8] Tiếng Anh: Marxism and the Philosophy of Language, trans. Ladislav Matejka & I. R. Titunik, Cambridge: Havard U. P., 1973.
[9] Nguyên văn tiếng Anh: "Meaning does not reside in the word or in the soul of the speaker or in the soul of the listener. Meaning is the effect of interaction between speaker and listener produced via the material of a particular sound complex" Voloshinov/ Bakhtin, Marxism and the Philosophy of Language, Trans. L. Matejka and I.R. Titunik, in Morri, Pam, ed. Bakhtin Reader: Selected Writings of Bakhtin, Medvedev, Voloshinov, London: Edward Arnold, 1994, tr. 35. :
[10] "European linguistic thought formed and matured over concern with the cadavers of written languages; almost all its basic categories, its basic approaches and techniques were worked out in the process of revising these cadavers" (ibid).
[11] Tạm dich tên sách tiếng Anh: The Formal Method in Literary Scholarship, trans. Albert J. Wehrle, Baltimore: John Hopkins U. P., 1978.
[12] "The most elementary everyday utterance or apt expression may be perceived artistically in certain circumstances. Even and individual word may be perceived as as a poetic utterance - only, of course, under circumstances in which it is related to a definite background and supplied with a theme or other elements" (144).
[13]Roman Jakobson, What is Poetry?, in Language in Literature, ed. Pomorska, Krystyna and Rudy, Stephen, Cambridge: Havard U. P., 1987. p. 368.
|