|
Một số xu hướng biến dạng trong dịch thuật
Nguyễn Duy Bình
Trong dịch văn học, việc trung thành tuyệt đối với bản gốc là điều bất khả. Để bản dịch của mình được công nhận như là một tác phẩm nghệ thuật đích thực, dịch giả thường tiến hành các thao tác khiến cho bản dịch có các xu hướng biến dạng nhất định.
Bài viết này sẽ đề cập đến các xu hướng như hợp lý hóa, tường minh hóa, xu hướng kéo dài, thẩm mỹ hóa hay xu hướng giảm chất. Việc nghiên cứu các xu hướng này sẽ giúp chúng ta hiểu hơn những băn khoăn, trăn trở của những người dịch văn học.
Ngày nay, trong số những người làm công tác dịch văn học hay phê bình dịch văn học, không ai lại không biết đến câu ngạn ngữ của Ý “Traductore, tradittore”, “dịch là phản” hay, nặng lời hơn, có người còn nói “dịch là diệt”. Không phải ngẫu nhiên mà từ lâu đời nay, dịch giả thường sống trong một sự mặc cảm, nếu không phải là vì “nhai lại” điều người khác đã nói thì cũng là vì họ bị xem, hoặc là tự xem, là một kẻ phản bội. Mặc dầu vậy, ít người có thể trả lời câu hỏi: “Họ phản bội như thế nào?”. Trong bài viết này, dựa vào công trình nghiên cứu của Antoine Berman và vốn hiểu biết ít ỏi về dịch thuật của mình, chúng tôi sẽ cố gắng trả lời câu hỏi này bằng cách đề cập tới một số xu hướng biến dạng trong dịch thuật.
Antoine Berman là một nhà triết gia, nhà dịch thuật học nổi tiếng ở Pháp cũng như ở phương Tây. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về dịch thuật nói chung và dịch văn học nói riêng. Ta có thể kể đến cuốn Thử thách từ nước ngoài (Epreuve de l’Etranger) trong đó tác giả đã nghiên cứu lý thuyết dịch thuật của các văn nghệ sĩ theo trường phái lãng mạn Đức và nêu ra tầm quan trọng của dịch văn học trong việc hình thành nền văn học và bản sắc văn hóa nước Đức. Ngoài ra ông còn thành công với cuốn Hướng tới phê bình dịch thuật: John Donne (Pour une critique des traductions: John Donne) và cuốn Bản dịch và bản gốc hay quán trọ từ miền xa (La traduction et la lettre ou l’auberge du lointain). Trong cuốn này, tác giả đã phân tích các xu hướng dịch thuật mà ông gọi là biến dạng ở Pháp.
Ngay trong phần đầu chương sách có tên Phân tích dịch thuật và phân loại sự biến dạng, Antoine Berman đã thông báo: “Tôi sẽ nghiên cứu ngắn gọn cách thức biến dạng văn bản gốc trong tất cả các bản dịch và làm cho bản dịch không đạt được mục tiêu đích thực của nó” (49:1999).
Các xu hướng biến dạng tạo thành một thể thống nhất và có mục đích là phá đi một cách có hệ thống bản gốc để bảo toàn “nghĩa” và “hình thức đẹp”. Điều này có nghĩa là khi dịch một văn bản, ta chỉ quan tâm đến việc chuyển tải được nghĩa của văn bản gốc và diễn đạt nó bằng một ngữ đích trong sáng, trau chuốt, hợp lời ăn tiếng nói của độc giả bản dịch (chúng tôi tạm gọi là công chúng đích). Quan niệm về dịch thuật như thế này không có gì xa lạ vì xưa nay, bất cứ ở nước nào, phần lớn tất cả mọi người đều hướng tới một bản dịch như vậy. Bởi thế các dịch giả Việt nam thường lấy quy tắc dịch của Nghiêm Phục “Tín, Đạt, Nhã” làm phương châm của mình. Tuy nhiên, kiểu dịch “dân tộc trung tâm” (ethnocentriste) này không phải khi nào cũng làm cho giới phê bình dịch thuật hài lòng vì các thao tác biến dạng của các dịch giả.
Antoine Berman liệt kê được một số xu hướng biến dạng trong dịch thuật. Đó là: hợp lý hóa, tường minh hóa, xu hướng kéo dài, thanh cao hóa, tầm thường hóa, giảm chất, giảm lượng, thuần nhất hóa, phá nhịp điệu, phá lớp nghĩa hàm ẩn, phá tính hệ thống của văn bản, phá hệ phương ngữ, phá thành ngữ, tục ngữ.
Trong giới hạn bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số xu hướng chủ yếu:
1. Xu hướng hợp lý hóa
Đây là xu hướng thay đổi cấu trúc cú pháp của các câu văn hoặc đoạn văn của bản gốc để sắp xếp lại theo một trình tự hợp lý hơn với tư duy công chúng đích. Theo Antoine Berman, các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, thường có cấu trúc rườm rà theo hình cây (nhiều câu lặp lại, nhan nhản các quan hệ từ và phân từ quá khứ, câu dài, câu không có động từ) và chúng hoàn toàn đối lập với tư duy logic theo đường thẳng. Chính vì thế mà một dịch giả tác phẩm Anh em nhà Karamazoz của Dostoievski đã viết: “Văn phong nặng nề của Dostoievski đặt ra cho dịch giả một vấn đề nan giải. Việc tái tạo lại các câu văn rườm rà của nhà văn này là điều không thể mặc dù nội dung rất phong phú”.
Đặc điểm của văn xuôi là “đầy bụi rậm”. Ngôn ngữ văn xuôi có đặc điểm là đa logic. Hợp lý hóa trong dịch thuật triệt tiêu điều đó. Thông thường thì việc hợp lý hóa trong dịch thuật biến cái cụ thể trong bản gốc thành cái trừu tượng, biến cái riêng thành cái chung để sắp xếp lại cấu trúc cú pháp theo đường thẳng. Điều này được thể hiện bằng việc dịch động từ bằng danh từ hoặc dịch hai danh từ bằng một danh từ khác chung nhất. Ví dụ khi dịch câu: “Tôi đi săn về” sang tiếng Pháp. Người dịch có xu hướng danh từ hóa việc đi săn và chỉ giữ lại động từ “về”: “Je reviens de la chasse” (Thí dụ của Cadière). Hoặc khi dịch sang tiếng Việt câu: "Dans la chambre de Marie, il y a le salon (bộ xa-lông), la table (bàn), le fauteuil(ghế bành), la chaise (ghế dựa)", ta có xu hướng dịch bằng một danh từ chung chung đại loại như "bàn ghế".
2. Xu hướng tường minh hóa
Nhà thơ Galway Kinnel có một nhận xét rất xác đáng và có thế coi đó như là định nghĩa của xu hướng này: “Bản dịch có khả năng rõ hơn bản gốc chút ít” (The translation should be a little clearer than the original).
Như thế, khi mà dịch giả gặp trong bản gốc câu nào đó, hoặc đoạn nào đó tối nghĩa, khó hiểu hoặc là hàm ẩn thì dịch giả thường giải nghĩa ra, diễn đạt lại. Kết quả là bản dịch dễ hiểu hơn, dễ tiếp cận hơn. Antoine Berman khẳng định có một xu hướng tường minh hóa tích cực và một xu hướng tường minh hóa tiêu cực. Tường minh hóa tích cực là nói rõ cái gì đó không hiển nhiên, ẩn giấu, kìm nén trong bản gốc. Nhận xét sau đây của Heidegger biện minh một cách thuyết phục kiểu dịch này: “Qua việc dịch thì tư duy được chuyển tải vào tinh thần của ngôn ngữ khác và khả năng bị biến đổi là không tránh khỏi. Nhưng sự biến đổi này có thể trở nên phong phú vì nó làm cho trung tâm của vấn đề xuất hiện dưới một ánh sáng mới”. (Questions I, Gallimard, Paris, 1968, tr. 10)
Nhưng chúng ta đều biết là nhiều khi tác giả cố tình đưa vào tác phẩm những chỗ khó hiểu, hàm ẩn và điều đó có thể tạo nên phong cách hoặc thể hiện ý đồ nghệ thuật của ông ta. Khi đó tường minh hóa sẽ mang ý nghĩa tiêu cực. Việc chuyển từ văn bản đa nghĩa sang văn bản đơn nghĩa hay việc dịch theo kiểu giải thích đều là kiểu dịch tường minh hóa mà ta vừa nêu ra.
3. Xu hướng kéo dài
Tường minh hóa hay hợp lý hóa làm cho bản dịch có xu hướng dài hơn bản gốc. Antoine Berman nhận định rằng xu hướng kéo dài có thể làm phương hại tới nhịp điệu của tác phẩm. Xem xét đoạn Hai thái cực (les deux infinis) của Pascal mà Phạm Quỳnh dịch sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về xu hướng này:
Bản gốc bằng tiếng Pháp:
« …Car enfin qu’est-ce que l’homme dans la nature ? Un néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant, un milieu entre rien et tout. Infiniment éloigné de comprendre les extrêmes, la fin des choses et leur principe sont pour lui invinciblement cachés dans un secret impénétrable ; également incapable de voir le néant d’où il est tiré, et l’infini où il est englouti ».
Bản Việt ngữ của Phạm Quỳnh:
“Vì rút lại thì người ta trong cảnh vật này là gì? Đối với cái thái cực thì người ta là một cái hư vô, đối với cái hư vô thì người ta là một cái thái cực, nghĩa là một khoảng giữa cái có và cái không. Người ta còn xa lắm mới hiểu được cái cùng cực, cho nên cái nhẽ cứu cánh cùng cái nguyên lý vạn vật còn bí mật không tài nào khám phá được; không thể biết được cái hư vô ở đấy mà ra, mà cũng không thể biết được cái thái cực tiêu diệt về đấy”.
Ta có thể thấy là bản Việt ngữ dài hơn bản gốc. Bản tiếng Pháp dài 66 từ trong khi bản Việt ngữ dài đến 104 từ. Dịch giả Phạm Quỳnh đã thêm đại từ, lặp lại động từ để chuyển tải được nghĩa của văn bản nguồn và bảo đảm một tiếng Việt uyển chuyển và phong phú. Chẳng hạn trong bản gốc, "l’homme" (con người) chỉ xuất hiện một lần nhưng trong bản dịch "người ta" xuất hiện đến 4 lần. Như vậy, để hợp với tư duy công chúng đích, để trở nên dễ hiểu, rõ ràng thì bản dịch phải dài hơn bản gốc. Đây là một xu hướng khó có thể tránh khỏi.
4. Thẩm mỹ hóa
Về hình thức, bản dịch có xu hướng "nhã" hơn bản gốc. Các dịch giả văn học thường cố dịch cho hay, cho uyển chuyển cho nên khi dịch thơ thì họ thi vị hóa, dịch văn thì họ tu từ hóa. Antoine Berman cho rằng tu từ thẩm mỹ hóa nhằm dùng những lời văn thanh nhã bằng cách sử dụng bản gốc như một nguyên liệu. Từ nguyên liệu này dịch giả thêm "hoa lá cành" để bản dịch của mình hay hơn. Lâu nay người ta khen ông này dịch hay, chê ông kia dịch dở thực chất là khen chê về khả năng ngôn ngữ và văn chương của dịch giả. Còn để nhận xét về một bản dịch thì điều kiện tối thiểu là phải biết cả ngữ đích và ngữ nguồn. Những người khen ông Thúy Toàn dịch thơ Nga hay, tán dương ông Huỳnh Lý dịch văn Pháp giỏi chắc gì đã đọc cả bản gốc lẫn bản dịch? Khi chúng ta đọc bản dịch bài thơ Mes heures perdues của Félix Arvers qua bản Việt ngữ của Khái Hưng thì ta thấy là bản dịch có vẻ thơ mộng hơn, trữ tình hơn, nhiều chất thơ hơn là bản gốc:
"Lòng ta chôn một khối tình. Tình trong giây phút mà thành thiên thu. Tình tuyệt vọng, nghĩa thảm sầu. Mà người gieo thảm cơ hầu không hay.
Hỡi ơi, người đó ta đây. Sao ta thui thủi tháng ngày chiếc thân. Dẫu ta đi trọn đường trần. Tình ta dễ đã một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười. Nhìn ta như thể nhìn người không quen. Đường đời lặng lẽ gót tiên. Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh. Xem thơ nào biết có mình ở trong. Xem rồi lòng lại hỏi lòng. Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?"
Bằng thể lục bát uyển chuyển đặc trưng Việt Nam, bằng những hình ảnh ước lệ rất phương Đông, bằng những câu chữ trau chuốt, bóng bảy, trữ tình, bản dịch này là một thí dụ tiêu biểu cho xu hướng thẩm mỹ hóa trong dịch dịch thơ nói riêng và dịch văn học nói chung.
Mặt trái của xu hướng thẩm mỹ hóa là khi dịch đoạn văn mang tính thông tục, dịch giả thường dùng một thứ tiếng lóng giả tạo, ít dung tục hơn và như thế không phản ảnh đúng tinh thần của bản gốc. Trong dịp tranh luận về vấn đề "Tín, Đạt, Nhã", dịch giả Trần Thiện Đạo có nêu quan điểm của mình như sau: "Nhã là nếu trong tác phẩm, có những câu hết sức lủng củng, thì tôi dịch cũng lủng củng. Nhã là phải tôn trọng văn phong của tác giả. Tôi muốn nói thêm là không phải tác giả nào có tiếng thì cái gì cũng hay cả. Camus có những đoạn viết rất lủng củng, có những chữ rất xoàng nữa. Như thế mà một dịch giả lại “nâng cao” những chỗ ấy thì đó không phải là dịch mà là phản". Như vậy, thẩm mỹ hóa trong dịch thuật, dịch cho hay, cho suôn sẻ, đẹp đẽ chưa hẳn là tốt.
5. Giảm chất
Bản dịch thường thường bị "nghèo hóa" về chất lượng, tức là nó không đảm bảo được cái hay của phong cách, sự phong phú tượng thanh, tượng hình của ngôn từ, của ngữ điệu hay cách nói, sự giàu có về ngữ nghĩa… Đặc biệt, khi chúng ta dịch những tác phẩm văn thơ từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay tiếng Pháp, khả năng không bảo toàn sự giàu đẹp của tiếng Việt là rất lớn. Ta có thể nhận xét rằng, tiếng Việt của chúng ta là một ngôn ngữ rất giàu chất thơ. Efim Etkind, một nhà phê bình dịch thuật, cho rằng tiếng Nga là một trong những thứ tiếng giàu chất thơ nhất. Ta cũng có thể khẳng định như vậy đối với tiếng Việt giàu đẹp của mình. Một trong những đặc trưng của tiếng Việt là từ láy. Cho nên khi dịch các từ này sang tiếng Pháp chẳng hạn thì xu hướng giảm chất trong quá trình chuyển dịch được thể hiện rất rõ ràng:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo". (Nguyễn Khuyến)
Trong hai câu thơ này, các từ láy "lạnh lẽo", "tẻo teo", rất tượng hình, rất đặc trưng. Bản dịch sang tiếng Pháp trong cuốn Mille ans de littérature vietnamienne (Nghìn năm nền văn học Việt Nam, được xuất bản tại Pháp) không diễn tả được các từ ấy:
"Une mare automnale morne et froide Sur l"onde limpide, un petit sampan, tout menu".
Từ "froide" (lạnh, rét) trong tiếng Pháp không đúng sắc thái của "lạnh lẽo". Tương tự như vậy đối với từ "petit" (nhỏ) và tiếp theo nó là "tout menu" (rất nhỏ) không thể diễn tả được từ "tẻo teo" trong tiếng Việt.
Như vậy, dịch văn học là một công việc đầy rủi ro vì người dịch có khả năng không trung thành với bản gốc về phong cách hay thẩm mỹ, ngữ nghĩa hay ngôn từ, nội dung hay hình thức. Các xu hướng biến dạng đã trình bày ở trên chưa phải là tất cả nhưng đã thể hiện phần nào mặt trái của tấm huân chương mà các dịch giả, dù cho tầm cỡ nhất, thường mang trên mình. Thế đôi ngả mà dịch giả thường phải đối diện là: Bản dịch của mình hoặc trở thành một cô gái đẹp mà không chung thủy (Belle infidèle, theo cách nói của G. Mounin) hoặc trở thành một cô gái chung thủy mà không ưa nhìn. Trong phần lớn trường hợp, dịch giả thường đi theo con đường của cô gái đẹp, và như thế, trong các bản dịch của họ, các xu hướng biến dạng mà chúng tôi vừa trình bày xong được thể hiện một cách rõ ràng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BERMAN, Questions I, Gallimard, Paris, 1968.
2. Berman Antoine, La traduction et la lettre ou l"auberge du lointain, Editions du Seuil, 1999.
3. BERMAN, Antoine. Pour une critique des traductions: John Donne. Gallimard, 1995. 279 p.
4. LEDERER Marianne, (1994), La traduction aujourd’hui, Hachette F.L.E, Vanves.
5. MARGOT Jean-Claude, (1979), Traduire Sans Trahir, L’Age d’Homme.
6. Milly Jean, (1992), Poétique des textes, Nathan, Paris.
7. NGUYEN, Khac Vien et HUU Ngoc. Mille ans de littérature vietnamienne, une anthologie. Cahors. Editions Philippe Picquier: 1996. 411 p.
8. OSEKI-DÉPRÉ Inês, (1999), Théories et pratiques de la traduction littéraire, Armand Colin.
9. Vu Van Dai, (2002), Aspect théorique de la traduction, Université des langues étrangères Hanoi.
|