Đời sống văn nghệ

Thứ tư, 05/07/2006, 09:33
 

Đôi điều suy nghĩ cùng Giáo sư Phong Lê

Đôi điều suy nghĩ cùng Giáo sư Phong Lê

Những tài năng văn học đang xuất hiện

Đặng Hiển

Trên báo Văn Nghệ 1/7/2006, giáo sư Phong Lê đưa ra vấn đề: đến bao giờ thì nền văn học thời Đổi mới của chúng ta có đỉnh cao? Đây là điều mà tất cả những người Việt Nam và những ai yêu mến Việt Nam và văn học Việt Nam đều quan tâm suy nghĩ và mong mỏi.

Nhìn chung, tôi tâm đắc với hầu hết những luận điểm của giáo sư trong bài. Nhân đây, tôi cũng xin mạnh dạn đóng góp thêm vài ý kiến về vấn đề mà giáo sư Phong Lê nêu ra.

Trước nhất, tôi hoàn toàn đồng ý với sự khẳng định của Giáo sư Phong Lê là nền văn học Việt Nam đã có những đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và đã có những giai đoạn phát triển cao như giai đoạn nửa sau thế kỷ 18, giai đoạn 30-45, 45-75, đồng thời cũng chia sẻ với ông nhận định văn học Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2006) chưa có những thành tựu thật xuất sắc và những tên tuổi nổi lên rõ rệt.

20 năm là một quãng dài đối với đời người nhưng đối với sự phát triển của nền văn học thì đó chỉ là một thời gian ngắn. Vì thế văn học Việt Nam 20 năm qua trong bối cảnh biến đổi chóng mặt của lịch sử, xã hội, chưa phát triển đến độ chín, chưa gặt hái được những quả chín, đó cũng là điều bình thường.

Theo nhiều nhà lý luận, muốn có được những thành tựu xuất sắc (tác phẩm, tác giả), văn học phải hội tụ được 3 yếu tố chính sau đây:

- Sự tự do của nhà văn (được xã hội bảo đảm).

- Sự dũng cảm của nhà văn (dám đảm nhiệm và hoàn thành sứ mệnh mới mà không sợ bị búa rìu của những tư tưởng lạc hậu hoặc bảo thủ trong đó có cả định kiến và thị hiếu thẩm mỹ cũ).

- Cái tâm và cái tài của nhà văn.

Về điều thứ nhất, Giáo sư Phong Lê đã nhận định: “Văn học hôm nay đang đứng trước một tình thế thuận lợi cho sự phát triển - có dễ hơn bất cứ giai đoạn nào trước đây. 20 năm trước, nếu nhu cầu “cởi trói” đặt ra là đúng, thì sự tháo cởi đến nay quả là điều không còn nghi ngờ. Ai có khả năng và ham muốn viết đều có thể viết hết mình…”. “Cái được gọi là cá tính sáng tạo hoặc chủ thể sáng tạo đã được chú ý nếu không nói là được coi trọng…”, “và giao lưu thì đang mở ra rất nhiều cái mới và lạ của thế giới bên ngoài”. Giáo sư Phong Lê cũng chỉ ra rất đúng “vấn đề còn lại là ở cái phía chủ quan, ở sự chuẩn bị của chính ngay nhà văn, ở mọi thứ vốn nhà văn cần có để trở thành người viết có nghề, trước khi trở thành tài năng”.

Tuy nhiên cuối cùng, như là tiểu kết phần này, giáo sư Phong Lê lại vận dụng ý của Mác, nhận định “không phải là tạo ra thật nhiều Raphael mà tạo ra hoàn cảnh để những ai có Raphael trong người đều có thể tự nhiên nảy nở”. Như vậy Giáo sư Phong Lê lại đặt lại vấn đề hoàn cảnh môi trường là điều mà ông đã khẳng định ở trên là chưa bao giờ thuận lợi như bây giờ. Dường như cho rõ hơn, ông nói đến “sự quan tâm đến các hoàn cảnh, môi trường, khí hậu tự nhiên cho sự thanh lọc dần những cái vô bổ, cái tầm tầm, cái nhảm và cả cái xấu, cái độc hại…”. Điều này đúng nhưng cần được nói cụ thể thêm là đâu đó, một số biên tập viên, lãnh đạo biên tập… vẫn còn chưa thật sự đổi mới và nâng cao tư duy, nhận thức lý luận, còn rụt rè, nhút nhát. Và phê bình văn học lâu nay vẫn chưa làm được nhiệm vụ bà đỡ của tài năng, người định hướng vun đắp mà vẫn còn làm người đứng chờ, người phán bảo chung chung hoặc đôi khi người bốc thơm vô lối (Những người viết văn và bạn đọc trong cả nước đang mong chờ một tờ báo chuyên về phê bình văn học ra đời. Mục phê bình văn học trên các báo văn hóa văn nghệ chỉ được dành cho 1 đến 2 trang trong khi tác phẩm văn học theo đúng nghĩa ra đời mỗi năm kể có đến vài trăm).

Các nhà văn thế hệ đổi mới nhiều người thực sự có năng khiếu, có học vấn khá cao nhưng còn thiếu vốn sống và nhất là thiếu một động lực của tâm hồn. Trong lúc dân tộc, nhân dân và cả nhân loại đang đứng trước những vấn đề lớn lao, bức xúc, một số cây bút trẻ vẫn chỉ băn khoăn về những điều thứ yếu (những điều này cũng rất đáng quan tâm nhưng nếu chỉ dừng lại với nó mãi thì không đủ), hoặc gõ vào những cánh cửa đã mở rồi (như giải phóng tình dục chẳng hạn). Ngay cả vấn đề giải phóng cái tôi cũng là vấn đề cần phải tiếp tục nhưng phải đặt nó trong cái chung là giải phóng con người, phát triển toàn diện con người và thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, quyền bình đẳng và công bằng xã hội… Đề cao cái tôi trong sáng tác là rất đúng nhưng coi cái tôi là cứu cánh của nghệ thuật thì nên xem lại. Khẩu hiệu “Tôi nói”, “Tôi viết”, “Tôi phê bình” nêu ra là tốt nhưng chưa đủ. Bielinsky, nhà phê bình văn học vĩ đại của nước Nga thế kỷ IX có nói đại ý: nhà thơ lớn là nhà thơ mà đau khổ và hạnh phúc đều ăn sâu vào đời sống xã hội. Chỉ có nhà thơ nhỏ mới chỉ vì mình mà đau khổ và cũng chỉ anh ta nghe thấy tiếng nói lí nhí của anh ta… V.I.Lênin khi ca ngợi Liev Tolstoy có nói: “Nếu trước mặt ta là một nghệ sĩ thực sự vĩ đại thì ông ta phải phản ánh trong những tác phẩm của mình ít ra là vài mặt căn bản của cách mạng”. Mặt khác nếu đề cao quá cái tôi dễ dẫn đến sự tự cao tự mãn mà đối với nhà văn, “tác phẩm hay nhất của mình bao giờ cũng là tác phẩm chưa viết”…

Các nhà thơ mới cách đây bảy chục năm đã làm cuộc cách mạng thi ca thành công không chỉ vì họ có nhiều tài năng mà trước nhất vì họ đã đi đúng hướng đó là hướng dân tộc, hiện đại. Nỗi buồn trong thơ mới vừa là nỗi buồn nhân thế có tính chất muôn thuở vừa là nỗi buồn dân tộc, nỗi buồn non nước, “một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa” (Trường Chinh). Họ phủ định thi pháp quá khứ nhưng không phủ định thi ca quá khứ, ngược lại còn trân trọng kế thừa tinh hoa của thơ ca dân tộc (thơ ca bác học và dân gian). Họ học tập nước ngoài nhưng không đánh mất mình mà càng làm giàu thêm, làm mới thêm mình.

Về vốn sống, người viết trẻ ngày nay đang sống hết mình ở nơi mình ở, nơi mình công tác. Đó cũng là điều tốt nhưng cũng nên tranh thủ đến với những nơi đầu sóng ngọn gió của cuộc sống, nơi có những công trình lớn sắp xếp lại giang sơn, đến với những hầm than đầy nhọc nhằn, ở đó có những con người lấm láp, chân thật và chứa lửa ở trong lòng. Đến với những làng quê có cả cường hào mới lẫn những kẻ “ám sát cánh đồng” (chữ của Nguyễn Quang Thiều), đến với những vùng biển trắng khăn tang sau bão, đến với những con người oan khổ không chỉ vì cái ác mà còn vì sự vô cảm, đến với những con người vượt lên bất hạnh làm nên những kỳ tích, đến với những tấm lòng bác ái, những cuộc đời vị tha như trong truyện cổ tích… Cố nhà văn Hà Xuân Trường trong tham luận tại Hội nghị lý luận phê bình văn học lần thứ nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm 2004 cũng có những ý kiến khá xác đáng: “Tôi cho rằng một trong những nguyên nhân gốc của sự thiếu những tác phẩm tầm cỡ là do lực lượng cốt cán của văn nghệ ta không bám chắc vào những vấn đề lớn của xã hội. Về phía lãnh đạo, thiếu sự mạnh dạn khuyến khích nghệ sĩ dám xông xáo vào những vấn đề nóng hổi của cuộc sống, người nghệ sĩ còn thiếu tự tin, do đó phê phán các hiện tượng tiêu cực không đến tận cùng, cũng như ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của nhân dân chưa đến đỉnh. Phê phán không đi đến tận cùng, ca ngợi không lên tới đỉnh thì không thể có đỉnh trong tác phẩm” (Tạp chí Nhà văn, 10/2003, trang 74).

Tóm lại, cái trở ngại lớn nhất cho sự phát triển tới đỉnh cao của văn học chính là sự tự định hướng, là động lực sáng tạo của người viết, nói theo cách nói quen, đó là cái tâm của người viết. “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du). Khi có tâm cao sáng thì cảm xúc và sự sống nhiều khi tự nó trở thành nghệ thuật, và nội dung tư tưởng cảm xúc mới sẽ thúc đẩy và làm nảy nở những sáng tạo mới về hình thức nghệ thuật. Đi tìm những hình thức mới trước khi có nội dung mới là một việc làm ngược, lấy ngọn làm gốc, phá vỡ tính thống nhất thẩm mỹ giữa nội dung và hình thức, cũng là làm giảm đi, làm mất đi chân giá trị của văn học. Thêm nữa với cái tâm đó, người viết sẽ nghĩ đến người đọc nhiều hơn trong lúc viết để có cách viết giản dị hơn, đi vào lòng người hơn, giảm bớt khoảng chênh thẩm mỹ giữa người đọc và nhà văn, từ đó nâng dần trình độ thẩm văn mới cho người đọc.

Dĩ nhiên, sự tu dưỡng, nâng cao cái tâm cũng như cái tài chủ yếu là ở người viết nhưng toàn xã hội, từ các cấp lãnh đạo đến các tổ chức văn hóa xã hội, đến người đọc đều có trách nhiệm hỗ trợ tạo điều kiện. Và như thế lo gì không có những Raphael mới hình thành nơi những người đã có chút Raphael trong mình. Mà những con người có chút Raphael ấy, theo tôi, đã và đang xuất hiện với những sáng tác đầu tay đầy hứa hẹn của họ.

1/7/2006

Các bài khác:
 

 
Tác giả Tôtem sói lộ diện
Góp ý với Y Ban về "I am Đàn bà"
Vi Thùy Linh từng mơ làm diễn viên điện ảnh
Nguyễn Ngọc Tư: 'Tôi điên không đều'
 
 
A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z
Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm
Ring - vòng tròn ác nghiệt
Mio, con trai ta