Đời sống văn nghệ

Thứ bảy, 02/10/2004, 09:08
 

Lại Nguyên Ân: 'Tôi nêu vấn đề là để từng bạn đọc tự tìm lời giải'

Đinh Bá Anh

Dư luận văn nghệ đang xôn xao về bài viết "Hoài Thanh có 'đạo văn'?" của ông Lại Nguyên Ân đăng trên tạp chí Thế Giới Mới, số 602, ngày 13/9/2004. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Lại Nguyên Ân về "vụ việc" này.

- Xin chào ông Lại Nguyên Ân! Đi đâu bây giờ tôi cũng thấy người ta nói về bài "Hoài Thanh cũng "đạo văn"?" của ông. Xin cho biết, ông đã viết bài này trong bối cảnh nào?

- Trước hết nhắc bạn: bài viết của tôi nhan đề “Bản quyền thuộc về ai?”. Trước sau tôi chỉ thừa nhận nhan đề ấy là của mình. Chính vì muốn nhấn vào điều cần nói bằng nhan đề này, tôi mới nhờ đến diễn đàn Văn nghệ Trẻ, sau khi Thế Giới Mới đăng nhưng sửa hẳn nhan đề mà không hề trao đổi trước với tôi.

Bài này tôi viết ngay sau hôm dự một diễn đàn nhỏ của Ban văn nghệ Đài truyền hình Việt Nam về vấn đề này. Buổi ấy bàn về “đạo văn”, riêng tôi, tôi nghĩ nhiều về bản quyền. “Đạo văn” là sự xâm phạm bản quyền. Nhưng bản quyền là vấn đề rộng lớn hơn nhiều. Sự vi phạm bản quyền , nạn “đạo văn” tuy là thời sự trong báo chí, xuất bản, nhưng là điều không dễ hình dung, không dễ nhận diện. Để thông tin về vấn đề này, cần có những ví dụ đơn giản, đập thẳng vào mắt. Ví dụ tôi đưa ra đạt được tiêu chí về tính rõ ràng, bạn đọc dễ nhận diện.

- Vâng, như vậy Thế Giới Mới đặt tít lại như thế cũng đâu có sai gì so với nội dung bài báo?

- Không sai lắm, nhưng xin nhắc lại, "đạo văn" không phải là vấn đề tôi muốn nhấn mạnh; tôi muốn nhấn mạnh đến chuyện "bản quyền". Mọi kết quả của sự sáng tạo đều có bản quyền của người tạo ra nó.

- Thế nhưng dư luận bây giờ không quan tâm đến chuyện bản quyền. Người ta chỉ quan tâm đến chuyện Hoài Thanh có đạo văn hay không. Đấy là vấn đề. Vậy chúng ta hãy chỉ nói về chuyện "đạo văn" thôi, ông nghĩ sao?

- Cũng được thôi. Tôi cũng muốn nói chuyện thẳng thắn và sòng phẳng về vấn đề này.

- Vậy chúng ta hãy căn cứ vào bài viết của ông trên Thế Giới Mới. Đầu tiên, ông đặt vấn đề thế nào là đạo văn. Rồi ông đưa ra hai trích đoạn văn bản, một của Hoài Thanh, một của Lê Tràng Kiều. Ông kết luận: "Không cần biện luận dài lời cũng đã thấy rõ sự tương đồng về nhận định và về cấu tạo câu văn giữa hai đoạn văn của hai văn bản". Như vậy, theo ông thì có thể coi sự "tương đồng về nhận định" và "tương đồng về cấu tạo câu văn" là hai chuẩn mực để đặt ra nghi vấn về việc đạo văn? Ông có tham khảo điều luật nào về "đạo văn" khi đưa ra nhận định này hay không? Tôi hỏi câu này vì biết ông làm việc lâu năm trong ngành xuất bản.

- Ở ta chưa có chế định nào rõ ràng và cụ thể về việc đạo văn, bởi vậy ngay đầu bài tôi đã nêu một vài xác định rút từ một vài quyển bách khoa nước ngoài. Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là "bản quyền tinh thần" chứ chưa hẳn là chuyện giống nhau từng câu từng chữ. Mỗi ý tưởng có một cấu tạo ngôn ngữ để diễn đạt nó. Ý tưởng và cấu tạo ngôn ngữ đó trước tiên nảy ra từ một người. Ý tưởng của nhóm hẳn cũng nảy từ một người, cộng thêm những bổ sung và biên tập của các thành viên khác trong nhóm.

Trở lại sự việc cụ thể. Năm 1936, tức là năm Lê Tràng Kiều viết và công bố loạt bài về Thơ Mới trong đó có nhận định mà tôi trích trong bài viết của mình, thì ông đã là người nổi trội trong văn giới và báo giới, là người chủ trì việc biên tập tờ “Hà Nội báo”: khi đó Hoài Thanh mới bắt đầu nổi lên trong cuộc đọ bút với “chiến tuyến hợp nhất”. Theo tôi, Lê Tràng Kiều đã có những nhận xét rất quan trọng về Thơ Mới. Và ý kiến ông, tuy thế cũng chỉ là một trong số những ý kiến đáng kể mà thôi. Phải tới 6 năm sau (tức năm 1942), Hoài Thanh mới thực sự nổi lên sau khi công bố Thi nhân Việt Nam 1932-1941. Những ai đọc lại một cách hệ thống dư luận đương thời Thơ Mới về Thơ Mới sẽ thấy Hoài Thanh thừa hưởng rất nhiều từ những phân tích và đánh giá đó. Tất nhiên trong sự nhận định trái ngược nhau của đương thời, Hoài Thanh thiên về cách nhìn như của Lê Tràng Kiều, của Tự Lực Văn Đoàn (các ý kiến của Lê Ta, Khái Hưng, Thạch Lam, Xuân Diệu,...). Và Hoài Thanh không che giấu định kiến thậm chí ác cảm đối với trường thơ Bình Định (Hàn Mặc Tử, Bích Khê ), bộc lộ sự khó chịu ra mặt với Nguyễn Vỹ…

Đương thời quyển “Thi nhân Việt Nam 32-41” dù được trân trọng, vẫn không hề được đánh giá cao. Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) xem nó như một sưu tập (1), Vũ Ngọc Phan gọi nó là một quyển hợp tuyển, nhân thể trách Hoài Thanh chọn thơ “dễ dàng, rộng rãi quá”, “thiên về lượng hơn là về phẩm”(2). Từ sau tháng 8/1945 đến khi Hoài Thanh qua đời,1982, ông phủ nhận thành tựu của mình là “Thi nhân Việt Nam 32-41”. Giữ giá cho “Thi nhân Việt Nam 32-41” suốt thời gian ấy là những người hoạt động văn nghệ ở đô thị miền Nam. Sự tín nhiệm này, như một dư luận dân gian hóa, cứ tiếp tục được nuôi dưỡng tiềm tàng. Đến những năm 1990-92, khi Thơ Mới được đưa lại vào chương trình học ở môn văn trường phổ thông, “Thi nhân Việt Nam 32-41” từ chỗ chính thức được thừa nhận giá trị lại bắt đầu trở thành đối tượng của những tán dương đủ loại, từ chừng mực đến vô giới hạn.

Ngày hôm nay, trong mắt nhiều người, “Thi nhân Việt Nam 32-41” như là hòn Thái Sơn cho nên cái tội báng bổ của tôi xem ra mới lớn!

Trở lại chuyện đang bàn, theo tôi, việc Hoài Thanh thừa hưởng sự nhận định trước ông về Thơ Mới là hiển nhiên, và đó chẳng phải lỗi gì cả. Song những chỗ như ví dụ tôi nêu ra thì lại là quá giới hạn của sự kế thừa trong học thuật: dùng lại cả ý tứ lẫn cấu trúc đoạn văn mà không hề ghi chú gì cả. Thử nhớ mà xem, Chế Lan Viên viết câu thơ “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về” là phải lập tức ghi chú mượn ý câu thơ Huy Cận “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”!

- Trở lại dư luận trong văn giới. Rất nhiều người đã phản ứng với bài viết của ông. Chẳng hạn, ông Trần Mạnh Hảo, sau khi đưa ra nhiều dẫn chứng về việc Hoài Thanh đã cộng tác trong tình anh em với Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư thế nào, rồi ba ông này đồng quan điểm, chí hướng ra sao, để nhận định rằng Hoài Thanh không hề đạo văn, và rằng ông Lại Nguyên Ân đã "trông gà hóa cuốc", và đã "xúc phạm Hoài Thanh". Ông nói gì?

- Tôi nghĩ, chính ông Trần Mạnh Hảo cũng không thể xác quyết được điều này. Căn cứ hiện nay chỉ có thể ở văn bản. Văn bản là như vậy thì phải nhận xét như vậy.

Cách đây không lâu, Trần Mạnh Hảo nêu trường hợp một nghiên cứu sinh B. đạt học vị tiến sĩ bằng một đề tài do Gs. S. hướng dẫn, ít lâu sau lại thấy Gs. S. in ra cuốn sách đứng tên mình mà nội dung chính là luận án đã hướng dẫn nghiên cứu sinh kia, nói rằng đây là điều mình trăn trở tìm tòi từ nhiều năm trước! Trần Mạnh Hảo yêu cầu hoặc phải thu hồi văn bằng tiến sĩ kia, hoặc phải hủy tác quyền cuốn sách nọ: yêu cầu nghe cũng có lý. Một hóa đơn thì lĩnh một xuất thưởng thôi chứ, sao lại lĩnh hai lần? Vậy Trần Mạnh Hảo hãy áp dụng yêu cầu ấy mà phân xử chuyện này đi mới nhất quán chứ?

Nhân đọc những ý kiến ngắn trên Văn nghệ Trẻ, tôi thấy một “nền nếp” khá phổ biến ở người mình là không dám nghĩ rằng những người chức trọng quyền cao, những người danh to tiếng lớn lại có thể sai lầm, thậm chí những sai lầm nhỏ nhặt, những lỗi lầm xoàng xĩnh! Thành tích thường hữu danh mà khuyết điểm thường vô danh. Không biết đến bao giờ mới tạo được trong cộng đồng mình cách nhìn danh nhân như…cầu thủ chuyên nghiệp, tức là có thể hôm trước nhận danh hiệu “quả bóng vàng”, hôm sau ra sân vẫn có thể phạm lỗi bị phạt thẻ đỏ! Danh nhân cũng là người làm một nghề gì trước khi được hậu thế tấn phong chứ? Tôi muốn khuyên “hãy đối thoại với danh nhân thay vì sùng bái họ”, nhưng cầm chắc như nói không đúng chỗ. Nếu bạn biết ở Trung Hoa bây giờ có người đưa ra sự đánh giá rất thấp về di sản Lỗ Tấn chẳng hạn, bạn có gửi thư sang đòi trừng trị?

- Trong bài viết của mình, ông nói rằng các nhà nghiên cứu, sưu tập (cụ thể ở đây là các vị Nguyễn Ngọc Thiện, Cao Kim Lan, Hà Minh Đức trong cuốn: Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX , Nxb. Lao động, 2002) đã không thấy hiện tượng trùng lặp giữa hai văn bản hoặc nếu thấy thì đều coi nó là nhỏ nhặt. Ông viết: "...cái tên Lê Tràng Kiều đã bị quên thì cho quên luôn thể (!), trong khi ý muốn đề cao tên tuổi Hoài Thanh ở hai vị giáo sư lại quá lớn, chẳng hạn?". Ông Nguyễn Ngọc Thiện đã phản ứng, rằng bài của ông "khiên cưỡng và quy chụp", rằng ông Ân đã "chẻ sợi tóc làm tư", "nói quá đáng lấy được", "thiếu tôn trọng người quá cố"... Điểm đáng chú ở đây là ông Nguyễn Ngọc Thiện viết: "...Chúng tôi không đặt vấn đề xem xét bản quyền chỉ thuộc về một người nào công bố bài viết trước như ông Ân muốn. Đơn giản vì không có căn cứ khoa học nào để đi đến kết luận này." Ông nghĩ sao?

- Tôi có lời bình luận ngắn thế này: Không thể nghĩ rằng người có học vị cao, đang hưởng lương chính ngạch nhà nước để nghiên cứu khoa học mà lại “vô tư” đến vậy trước những phương diện không thể bỏ qua trong nghiên cứu. Có thể không kết luận được, chưa giải quyết được... vì mọi thứ đâu có dễ dàng. Nhưng “không đặt vấn đề” thì đầu óc nhà nghiên cứu để đi đâu trong khi ngập vào đống tài liệu? Phải chăng tác phong làm việc “ngồi hội đồng” chấm duyệt các loại luận án dự án... đã được “tự bạch” qua đây?

- Không chỉ các nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình... không vừa ý với bài của ông, thậm chí những người cho đăng bài của ông cũng tỏ vẻ "ân hận". Ông Hoàng Xuân Tuyền, thành viên tòa soạn báo Văn nghệ Trẻ, "có đôi lời "giải thích" về việc cho đăng bài của ông như sau: "...với tư cách là một thành viên trong tòa soạn, người viết bài này xin được phép có đôi lời vắn tắt rằng tít bài "Hoài Thanh cũng "đạo văn"?" đã được ông Lại Nguyên Ân đổi thành "Bản quyền thuộc về ai?" để mang tới Văn nghệ Trẻ vào thời điểm số báo 39 đã sắp sửa đưa in. Một cái tít hiền lành về một vấn đề tử tế và thời sự như vậy do chính ông tác giả quen tên tự tay mang tới là nguồn cớ khiến cho người biên tập và xếp trang - lắp ngay bài của ông Ân vào chỗ trống. Vậy nên mới thành chuyện." Cứ theo ý này, thì hình như ông Lại Nguyên Ân cũng biết khôn khéo (đổi tít bài, làm cho vấn đề trở nên "hiền lành", "tử tế".) và lựa thời điểm (nhằm đúng lúc báo đang lên trang, và vẫn còn chỗ trống) để "đi" bài? Liệu đây có phải là "bí quyết" đăng bài của ông?

- Tôi gửi bài cho Văn nghệ Trẻ bằng e-mail, hôm sau tôi tới tòa soạn để thưa rằng tôi có bài xin được in. Đỗ Bạch Mai cho biết e-mail của báo đang trục trặc. Tôi thấy Bảo Ninh đang dùng máy bèn nhờ mở thư ra in giao bài cho Đỗ Bạch Mai rồi ra về. Đấy là lần đầu tiên tôi bước vào toà soạn Văn nghệ Trẻ ở tầng thượng nhà 17 Trần Quốc Toản. Đọc mấy dòng trên tôi mới biết bài của mình được in là may mắn nhờ... “khoảng trống biên tập”! Nhân đây, tôi cũng muốn hỏi người viết bài ấy đã đọc bản gốc hay bản chụp “Hà Nội báo” mà dám chắc rằng 3 dấu hỏi sau tên Lưu Trọng Lư trong đoạn trích là do tôi (Lại Nguyên Ân) tự ý thêm vào?

Về việc tòa soạn “Văn nghệ Trẻ” xin lỗi thân nhân Hoài Thanh, riêng tôi có lời can. Sự tình là thế này: chúng tôi động đến Hoài Thanh đơn giản vì ông là một tác gia, từng can dự đời sống văn nghệ, chứ nếu thân nhân quý vị không là tác gia, cái viết không đáng để ý thì có dễ gì chúng tôi động bút? Di sản của ngòi bút người trước còn được người sau đem bàn bạc; - ấy là cái triệu hay chứ đâu phải dở? Tư tưởng người trước được người sau phân tích phê phán; - ấy là dấu hiệu về sức sống dù sao vẫn còn của nó. Cấm hậu thế bàn bạc phê phán tự do cũng như buộc hậu thế chỉ được lặp lại như những phiên bản cứng queo, khô xác; - là hai cách khả thi để làm tiêu biến sức sống của tư tưởng người xưa. Tôi không dám nghĩ rằng các quý tử của bậc danh nhân lại dại dột đến vậy.

- Câu hỏi cuối cùng: Hoài Thanh có đạo văn của Lê Tràng Kiều hay không, theo ông?

- Tôi viết bài, lại chịu bị ném đá nữa, như bước đầu đã thấy, là để người đọc tự trả lời, tự thuyết phục mình, chứ không phải để tung ra giữa chợ một tiếng kêu mất của. Tiếng kêu ấy nếu có cũng không phải của tôi. Vả cũng quá muộn rồi.

Đinh Bá Anh thực hiện
_______________

(Để theo dõi nội dung bài phỏng vấn, bạn đọc có thể tham khảo các bài có liên quan trước đó của các ông: Lại Nguyên Ân, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Ngọc Thiện, Hoàng Xuân Tuyền, Phạm Quang Trung.)

Chú thích của Lại Nguyên Ân:

(1) Nói chuyện thơ nhân quyển "Thi nhân Việt Nam 1932-1941"/ “Thanh nghị” số 19; 1942. Nguồn: Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lý trí // Đinh Phương Anh và Phạm Vĩnh Cư tuyên chọn và chú thích. Nxb.Văn học, Hà Nội, 1996, tr.128-138.

(2) Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại. Tái bản, Nxb. KHXH.,1989, t.2, tr.605.

Các bài khác:
 

 
Tác giả Tôtem sói lộ diện
Góp ý với Y Ban về "I am Đàn bà"
Vi Thùy Linh từng mơ làm diễn viên điện ảnh
Nguyễn Ngọc Tư: 'Tôi điên không đều'
 
 
A B C D Đ E F G H
I J K L M N O P Q
R S T U V W X Y Z
Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai
Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm
Ring - vòng tròn ác nghiệt
Mio, con trai ta