|
Đô thị trong giác quan (trả lời Nguyễn Vĩnh Tiến)
Nguyễn Hữu Hồng Minh - [Region]
Thơ thay đổi rất chậm. Chỉ có những nhà thơ tiên phong luôn chú ý đến dòng chủ lưu của thơ, lắng nghe chính tiếng sóng thủy triều của lòng mình mới phát hiện thấy thơ thay đổi.
Nguyễn Vĩnh Tiến trong bài Gửi người Ăn hải cảng gần đây có ý chất vấn tôi rằng thế nào là tính đô thị hiện đại. Đích cuối cùng của thơ phải là hay, là mới chứ cần gì phải chia cắt biên tuyến nông thôn thành thị. Câu hỏi của anh đặt ra cho tôi rất đáng để ngẫm nghĩ. Rất tiếc, khi tôi chưa kịp trả lời thì ngay sau bài Qua sông với Lý Đợi anh đã giận dữ gọi tôi là “thầy bói”. Tôi không thích từ “thầy bói” lắm. Vì xem ra nó vẫn có vẻ quê kiểng, lại rất nông thôn. Nếu có thể thay đổi được chút ít thì với cấu trúc của câu này tôi muốn thay là “tiên tri”. Và trong bài viết này ngoài trao đổi với Nguyễn Vĩnh Tiến, tôi sẽ “thử tiên tri” về Thơ của thời Hiện đại.
Trước hết, tôi muốn xác định lại rằng trong bài viết Thơ Nguyễn Vĩnh Tiến: câu chuyện lôi thôi của con chồn hoang tôi chỉ phê bình tập thơ Những bình minh khác (NXB Hội Nhà văn 2002) chứ không đặt tham vọng phán xét về toàn bộ “thế giới quan” của Nguyễn Vĩnh Tiến. Bởi, một tập thơ đầu tay của một người viết trẻ chưa đủ để chứng minh điều gì, và như thế có nghĩa là Nguyễn Vĩnh Tiến còn có nhiều cơ hội để thay đổi. Cụ thể là những bài thơ gần đây của anh được đăng trên các trang web văn nghệ đã khác rất nhiều tinh thần thơ của anh trước đó. Anh triệt để canh tân cho một cuộc mà tôi muốn gọi là “thay máu thơ”.
Trở lại cuộc tranh luận về tập Những bình minh khác, tôi nghĩ Tiến không thích bài viết của tôi cũng là chuyện bình thường. Văn mình vợ người. Ai cũng cho rằng thơ mình hay, là “cái rốn của vũ trụ” chứ không ai muốn bị chỉ trích chê bai. Chỉ có một điều, tôi không đánh giá cao hai bài viết phản hồi của Tiến vì nó cho thấy anh viết rất đối đế. Thậm chí rất ẩu tả. Câu sau phản lại câu trước. Nó cho thấy Tiến không cẩn trọng trong khi viết đối thoại về chính thơ của mình. Tôi đã mất hết hứng thú tranh luận khi đọc những dòng “trắng phớ” liều lĩnh như sau của anh: “Tôi cũng chẳng băn khoăn gì khi các bạn ném những bài thơ của tôi vào cái nghĩa trang thơ mênh mông”. Hay “Đối với tôi, những đứa con tinh thần ấy, khi sinh ra, chúng đã có số phận riêng, còn tôi đã từ giã chúng từ lâu”(!?). Nếu đúng Nguyễn Vĩnh Tiến chẳng còn “băn khoăn gì” hay đã phủi tay “từ giã từ lâu” với chính những sáng tác của mình thì cớ tại sao tôi và bạn đọc lại quan tâm nhỉ? Hay tôi chính là kẻ cuối cùng đi đọc lại Những bình minh khác để tỉ mẩn viết một bài phê bình trong khi chính tác giả của nó thì “trí nhớ suy tàn”? Nếu tôi không nhầm thì Nguyễn Thanh Sơn trong cuốn Phê bình văn học của tôi (NXB Trẻ 2002) có dùng một hình ảnh rất độc đáo nhằm nói đến những nhà văn “vô trách nhiệm”, ít quan tâm đến số phận những tác phẩm đã viết. Sơn gọi đó là những kẻ vứt đứa con đẻ non của mình trên bậc thềm nhà người khác(!). Trong trường hợp này liệu Nguyễn Vĩnh Tiến có khác chăng?
Trở lại với những vấn đề tôi muốn trao đổi thêm với Nguyễn Vĩnh Tiến. Tôi sẽ không nói về đô thị nếu như chính nó không làm thay đổi hay đã có can thiệp lớn lao vào công việc chuyển động, làm mới thơ. Cũng như tôi sẽ không bao giờ viết về thơ Tiến khi không nhận thấy chính anh đang có một “ý thức ngầm” mãnh liệt nổ lực để thơ mình khác đi, hay chính xác hơn là “đập vỏ” để làm một cuộc cải cách thi ca hiện đại. Những gì Nguyễn Vĩnh Tiến muốn trao đổi với tôi đại loại như “Tôi đọc nhưng không thích các định nghĩa rối rắm về hiện đại và hậu hiện đại. Tôi không quá câu nệ vào các khái niệm ấy trong quá trình sáng tác” hay “Tôi là duy nhất, thời đại tôi có là duy nhất, và tôi cũng duy nhất một lần được sống và viết những gì phản ánh hoặc tác động lên tôi…” là ngụy biện và đầy giả dối. Bởi làm sao anh có thể sống hết mình cho thời đại anh đang có khi anh đang nhầm lẫn (hay cố tình nhầm lẫn?) về những yếu tính quan trọng của nó? Cái gì đã cho thấy thời đại anh đang sống khác với những thời đại trước đó? Liệu thời đại hôm nay có còn viết những câu thơ mùi mẫn, thể thức gò bó như thời đại hôm qua không? Nếu chấp nhận như thế liệu một cuộc sống đang chặt đứt quá trình tự vận động? Các định nghĩa rối rắm về thơ hiện đại hay Hậu hiện đại là gì? Liệu có phải do nhu cầu của văn hóa viết - văn hóa đọc, của xã hội, của kinh tế, chính trị, của chủ nghĩa thực dụng bành trướng đang có nguy cơ lan rộng trên khắp hoàn cầu hay đơn thuần chỉ là trò chơi vô thưởng vô phạt của những nhà phê bình hay lý thuyết gia không tưởng?
Trong bài viết Thơ Việt: Quay về Pathéon, thẳng tiến Postmodernism? Hay thời trang trên xác ướp? [] gần đây tôi có tranh luận lại với nhà thơ Hoàng Hưng về việc đã có những thử thách mới trong tiếp nhận và cảm thụ thơ. Nhưng như thế không có nghĩa đưa thơ về với những thách đố giả tạo, rẻ tiền hay dễ dãi. Ở cách tiếp cận đó tôi đã ngạc nhiên khi Nguyễn Vĩnh Tiến cứ buộc tôi phải ghi nhận tính hiện đại trong thơ anh khi tôi đã chứng minh “triết lý chồn hoang” trong tập Những bình minh khác là có thật. Tiến cho rằng bài viết Âm thầm chảy trong sáng và lặng lẽ của nhà thơ Đỗ Bạch Mai là “một cách nhìn khác”. Tôi đã đọc bài viết của chị Đỗ Bạch Mai. Quả đây là một bài viết có một cách nhìn khác tôi. Thôi thì cứ tạm chấp nhận nó. Bây giờ hãy khoan bàn về nông thôn hay thành thị. Cứ để bạn đọc tiếp nhận những câu thơ sau đây từ trong tập thơ thì biết ý kiến họ thế nào: “Vườn nhà ai rách như vườn chuối / Tiếng giã cua khô như giã phải càng” (!?). Có thể câu thơ đã lập lại phách nhịp “Ngoài thềm ơi chiếc lá đa / Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” của Trần Đăng Khoa nhưng hình ảnh, ngôn ngữ vụng về hơn rất nhiều.“Con đường làng có trứng vỡ và sữa tươi / Có thằng trẻ con không biết cười / Tay cầm sợi dây thừng không đầu không cuối” hoặc “Những con bọ chét có giấc mơ mọc trên đầu / Hai giấc mơ mọc ra bốn sợi râu / Tất cả nhìn tôi với khuôn mặt đớn đau / Với đôi mắt của những chiếc lá thủng / Tôi đứng giữa sân”…
Những triết lý “khủng khoẳng” như thế có thể tìm đầy rẫy trong tập sách. Lại nữa, khi quan niệm “Ý nguyện của tôi là luôn được ra đi, ghi được những biên bản duy nhất của những thời khắc bằng thơ…” hay như một câu tôi vừa nhắc ở trên “ Tôi là duy nhất, thời đại tôi có là duy nhất, và tôi cũng duy nhất một lần được sống và viết những gì phản ánh hoặc tác động lên tôi…” thì vô tình Tiến đã biến thơ của mình thành các Ghi chép và Nhật ký. Điều này có thể nhận thấy rất rõ khi dưới mỗi bài thơ của Nguyễn Vĩnh Tiến đều ghi rất rõ ngày giờ, năm tháng. Thậm chí chính xác đến từng giây, từng khoảnh khắc hơi thở của những bài thơ đã được viết ra. Như vậy càng chứng tỏ có thể chưa bao giờ Tiến sửa chữa một bài thơ đến lần thứ hai và nó như một biên bản trung thành của anh trước hai tên đồ tể có tên là Thời gian và Lịch sử. Điều này có thể khảo sát rất dễ dàng dưới 49 bài thơ trong tập Những bình minh khác. Phương pháp làm việc này, theo tôi, đã có nhầm lẫn. Nhật ký chưa bao giờ được xem là một thể loại chính thống của văn chương. Với thơ, như Nguyễn Vĩnh Tiến có tham vọng là “ghi được những biên bản duy nhất của những thời khắc” thì lại càng khó. Những nhà thơ hiện đại thường sửa chữa rất nghiêm ngặt tác phẩm của mình. Ngay cả những nhà văn còn làm việc như vậy. Milan Kundera tạm phân định để đánh giá như sau:“Để một bài thơ là một bài thơ nó cần phải được ai đó đọc, chỉ có thế người ta mới có bằng chứng rằng bài thơ khác với một thứ nhật ký giản đơn được đánh ngày tháng và có khả năng sống cuộc đời của chính nó, độc lập với người đã viết nó" []
Trong bài Gửi người Ăn hải cảng, Nguyễn Vĩnh Tiến phê bình tôi sau: “Nguyễn Hữu Hồng Minh loay hoay muốn lý giải về thơ hiện đại, muốn nó tương xứng với không gian của anh (cụ thể là một đô thị lớn như TP.HCM) “bởi đô thị có luật chơi riêng”. Tôi không tin thơ hiện đại lại dễ dàng được định nghĩa và định dạng đến thế”. Tôi muốn trả lời Tiến thế này: tôi không loay hoay lý giải gì về thơ hiện đại mà tôi đang trực tiếp sống, đang trực tiếp thở với thơ hiện đại. Chỉ cần đọc thơ tôi và theo dõi những tiểu luận viết về thơ của tôi gần đây Tiến cũng có thể nhận thấy điều đó. Ngay cả bài thơ Ăn Hải cảng của tôi mà Tiến thích, dùng lại nó để đặt nhan đề cho bài viết mình đã mở rộng như thế nào. “Tôi đã ăn một hải cảng trong vòng ba tiếng đồng hồ / Hải cảng đó hai mươi năm xa, bỗng quay về / Không nghĩ mình có thể ăn nhiều thế”. “Ăn” từ bê-tông, cốt thép, giàn khoan, cần cẩu, tàu thủy cho đến quán cóc, phố xá, đùi, mông, ngực, vú của các cô em xinh đẹp. Và cả ngày tháng phiêu bồng này nữa!…Vâng, tâm hồn chúng ta có thể “chén hết” thực tại ngổn ngang, một cách khoái khẩu thậm chí còn “nhai” và “nuốt” rất nhuyễn. Chỉ lưu ý với Tiến rằng lưu vực của bài thơ trên chính là ám ảnh của đời sống đô thị. Tôi cũng chưa bao giờ muốn thơ hiện đại tương xứng với không gian của chỉ riêng tôi. Mà không gian đó như Tiến chỉ ra cụ thể là đô thị lớn như Sài Gòn thì lại càng chật hẹp và nhỏ bé. Không gian thơ hiện đại theo tôi, ít ra cũng phải tương xứng với quan điểm sáng tạo của nhà văn Ý Italo Calvino trong tác phẩm Six Memos for the Next Millennium: “Những dự án mang tham vọng quá trớn có thể bị chối từ trong nhiều lĩnh vực nhưng không thể bị chối từ trong lĩnh vực văn chương. Văn chương chỉ còn sức sống nếu chúng ta tự đặt ra cho chính mình những mục tiêu bất khả lượng đạt, vượt quá tất cả những hy vọng về sự thành tựu. Chỉ chừng nào các nhà thơ và nhà văn tự đề ra cho chính mình những công tác không có bất cứ ai dám tưởng tượng đến thì văn chương ấy mới đạt được tác dụng của nó...” [].
Tôi thừa nhận thiếu sót của tôi khi Nguyễn Vĩnh Tiến chỉ trích “Nguyễn Hữu Hồng Minh đã có những lý luận lỏng lẻo về tính hiện đại…” hay trong lập luận sau: “Anh đã có kiểu tư duy lưỡng phân rất cảm tính khi cho rằng “Trong thơ, đô thị và làng quê không những chống đối nhau về thi pháp mà còn ở nội dung, cách thể hiện. Đơn cử nếu làng quê giản dị thì đô thị phức tạp. Nếu đô thị đầy rẫy mâu thuẫn thì làng quê “lề thói” và liền một mối, co cụm trong triết lý “tối lửa tắt đèn có nhau”. Toàn bộ những ý này là sai. Anh đã không đếm xỉa tới sự giao thoa và chồng lớp giữa các vùng miền, các quá trình “đô thị hóa nông thôn” và “nông thôn hóa thành thị”. Về mặt tâm thức, mặc dù chúng ta sống trong lòng đô thị nhưng không thể dễ dàng dùng phép chia giản đơn để khẳng định tỉ lệ ảnh hưởng của đô thị đối với văn hóa của chúng ta. Và tôi cũng không cho rằng, nếu ở đô thị, chúng ta sẽ có thơ hiện đại nhanh hơn là ở nông thôn…”.
Ở phần này, sơ suất của tôi là đã có những phân tích chưa rõ và chưa xác đáng lắm về cuộc “thay máu thơ” giữa đô thị và nông thôn. Nhưng tôi tin là khi chính Nguyễn Vĩnh Tiến nhìn ra thực trạng thơ trẻ ở Hà Nội hiện nay “các thi nhân công chức miền Bắc (tôi chỉ nói những người làm thơ trẻ miền Bắc) đang loay hoay và có phần hơi bế tắc trong lối đi…” thì ít nhiều họ cũng đang bị mắc kẹt trong tình thế tư duy lưỡng phân giữa nông thôn và thành thị ấy. Có nghĩa họ ngại thay đổi về đề tài, thi pháp. Khi những giá trị mới dễ bị thách thức (thậm chí chối bỏ) thì không biết bao giờ (khi nào) mới được bén gót đi vào văn học sử? Nói nông thôn và thành thị, tôi chỉ nhằm xoáy mạnh vào cái lực cản, sự trì trệ đang có nguy cơ ăn mòn thế giới quan sáng tạo của những người trẻ. Đó cũng là trình trạng bất động đáng phê phán “đong đếm từng ngày kỹ lưỡng” như ý một câu thơ của Tiến.
Điều cuối cùng tôi muốn trao đổi với Nguyễn Vĩnh Tiến, đó là lập luận “Đáng tiếc hơn cả là chính “cú sốc đô thị” làm cho thơ của các bạn hao hao giống nhau. Các bạn dùng những từ, những hình ảnh, những cấu trúc giống nhau, nhưng kết quả chỉ làm cho các bạn thêm lẫn lộn tuyệt vọng trong khói bụi đô thị…” [] là một nhận định tùy tiện và chủ quan. Sự thật, thời gian gần đây những người yêu thơ trong nước và hải ngoại đều có thể thấy rất rõ ràng rằng Thơ Sài Gòn đang đột biến với một biểu đồ gien rất lạ mà không một nhà phê bình chính thống nào còn đủ niềm tin vào chính mình để đưa ra một nhận định. Tôi cho rằng Tiến chưa có thời gian để đọc thật kỹ thơ Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Tấn Cứ, Thận Nhiên, Phan Bá Thọ, Inrasara, Trần Tiến Dũng, nhóm Mở Miệng…Tôi thấy họ đâu có lẫn lộn tuyệt vọng trong khói bụi đô thị. Tiến có hoa mắt nhìn nhầm không? Bụi khói bốc lên ở đâu ở một đám cháy giữa làng vào ngày cuối mùa ấy chứ…
Sài Gòn, 1/8/2004
|