|
Vincent Lam và cuốn sách lần lữa về Việt Nam
33 tuổi, Vincent Lam đã là một bác sĩ thành danh. Nhưng một cơ hội lớn với văn chương đã mở ra trước mắt anh nhờ cuộc gặp gỡ tiểu thuyết gia nổi tiếng Margaret Atwood. Lam sắp xuất bản một cuốn tiểu thuyết về Việt Nam. > Vincent Lam: ‘Margaret Atwood là nhà văn mẫu mực’
Năm 2002, khi đang làm bác sĩ trên tàu Akademik Ioffe, Lam tình cờ gặp Atwood. Anh mạnh dạn hỏi, liệu nữ văn sĩ có thể đọc và góp ý cho những truyện ngắn của anh.
Lúc đó, Atwood không mấy để ý đến người độc giả xa lạ. Bà hỏi lại: "Thế anh muốn tôi nói những lời có cánh hay những lời chân thực?".
Cây bút trẻ trả lời với một tinh thần cầu thị: "Tôi đang viết một cuốn sách và không biết triển khai tiếp như thế nào. Tôi nghĩ, bà hiểu rõ công việc viết lách, sao bà không chia sẻ một số kinh nghiệm với tôi?".
 |
| Nhà văn Vincent Lam. |
Về sau, Atwood gửi e-mail cho Lam, với một lời nhắn ngắn gọi: "Xin chúc mừng, anh viết được đấy". Nhưng không chỉ có vậy, nhà văn còn nhặt ra một truyện, thay đổi cấu trúc của nó và hướng dẫn Lam viết một truyện khác dựa trên những hiểu biết của anh về căn bệnh SARS. Lam nghe lời và Contact Tracing ra đời, trở thành truyện ngắn hay nhất trong tuyển tập Bloodletting & Miraculous Cures xuất bản năm 2006 của anh.
Kể lại cuộc gặp gỡ với Margaret Atwood, anh nói: “Nghề y dạy cho tôi một điều rằng, nếu không biết điều gì đó, hãy mạnh dạn hỏi những người hiểu biết hơn. Nó giúp tôi biết khiêm nhường".
Lam bắt đầu viết từ năm 14 tuổi để đăng báo và tham gia những cuộc thi nhỏ. 15 tuổi, anh đoạt giải tại một cuộc thi truyện ngắn, phần thưởng là một khóa học viết văn do tiểu thuyết gia Jane Urquhart giảng dạy. "Lúc đó, tôi là học viên trẻ nhất trong lớp", anh kể.
Bloodletting & Miraculous Cures là tập truyện đầu tay của Vincent Lam. Cuốn sách xoay quanh một nhóm sinh viên và những mối quan hệ của họ trong bối cảnh dịch SARS bùng phát ở Toronto (Canada) năm 2003.
 |
| Một hình ảnh về Sài Gòn trên trang web của Lam. |
Xuất bản năm 2006 với 5.000 bản in, dù tác giả còn là một cái tên hoàn toàn mới mẻ nhưng Bloodletting & Miraculous Cures vẫn có sức tiêu thụ tốt. Nhà xuất bản nhanh chóng in thêm bản bìa mềm. Và rồi, vượt qua mọi sự trông đợi, cuốn sách bất ngờ lọt vào chung khảo Giller - giải thưởng văn học uy tín của Canada, từng tôn vinh những tên tuổi khổng lồ như Margaret Atwood, Rohinton Mistry, Michael Ondaatje, M.G. Vassanji và Alice Munro. Cuối cùng, Lam trở thành nhà văn trẻ nhất giành chiến thắng và cũng là tác giả đầu tiên đoạt giải này ngay từ cuốn đầu tay. Anh lĩnh phần thưởng trị giá 20.000 bảng Anh còn Bloodletting & Miraculous Cures tiêu thụ được thêm 250.000 bản, chỉ tính riêng ở Canada.
Tại lễ trao giải Giller hồi tháng 112006, Lam nhắc nhiều đến cha - một người đàn ông gốc Trung Quốc, di cư sang Việt Nam, rồi lại tiếp tục đưa cả gia đình sang Canada sinh sống. Ông trải qua nhiều nghề, từ xây dựng, đầu bếp và bây giờ là một cố vấn nông nghiệp tại Ấn Độ.
Chính cuộc đời nhiều trải nghiệm di cư của ông đã khiến Lam luôn muốn viết cuốn tiểu thuyết mang tính tự truyện về gia đình mình. Sau nhiều lần lữa, cuốn sách đang đi đến hồi kết.
“Tác phẩm có tên Cholon, Near Forgotten (Chợ Lớn, gần như đã lãng quên). Đó là cuốn sách đầu tiên tôi định viết. Năm 14 tuổi, tôi đã muốn viết nó. Khi tôi xin kết thúc công việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tôi cũng muốn viết nó. Nhưng rồi tôi cứ băn khoăn về nó và quyết định viết Bloodletting trước. Đó là cuốn tiểu thuyết bị trì hoãn nhiều nhất".
Năm 2004, Vincent Lam sang Việt Nam, tìm lại họ hàng và sưu tầm tư liệu để viết Cholon, Near Forgotten. Anh chụp khá nhiều hình ảnh về Sài Gòn và đưa lên trang web cá nhân. Cholon, Near Forgotten là câu chuyện về một người đàn ông tên là Percival Chen. Ông chạy từ Quảng Đông sang Việt Nam năm 1945 và kiếm ăn bằng nghề dạy tiếng Anh tại Sài Gòn. Khi chiến tranh Việt Nam nổ ra, Chen rời Việt Nam. Năm 1998, ông bị bệnh ung thư và rơi vào cảnh chờ chết. Trong cảnh sống đó, Chen chỉ chờ đợi những chuyến viếng thăm của các con cháu - những người sống tản mát khắp nơi trên thế giới và luôn ngần ngại khi đối diện với quá khứ không quê hương của mình.
(Nguồn: TOL)
|