|
Thomas Hardy và những vần thơ muộn màng về vợ
Điều mà không một ai, kể cả Hardy có thể ngờ tới là có một ngày, Emma lại trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho ông. Những năm cuối đời, Emma đau yếu. Bà qua đời trước khi Hardy kịp nói lời từ biệt. Vài tháng sau khi bà mất, hàng chục bài thơ với những kỷ niệm đẹp đẽ đã trào ra từ trái tim nhà văn.
Năm 1912, khi đã ở tuổi 72, Thomas Hardy bắt đầu ngồi viết một loạt thơ tình về vợ mình, Emma. Nhưng có rất nhiều lý do khiến sự xuất hiện của những tác phẩm này được coi là một điều khó hiểu. Thứ nhất, quan hệ vợ chồng của nhà văn vốn đã ghẻ lạnh, xa cách suốt hàng năm trời. Nhà văn thường để vợ nằm một mình trên gác mái, nơi bà thường viết những lá thư gửi cho bạn bè kể về sự tàn nhẫn của ông.
Trong lúc đó, Hardy đã là một nhà văn nổi tiếng, và cũng tai tiếng bởi thói lăng nhăng không chỉ với một mà đến vài phụ nữ. Tiếng tăm của Hardy được gây dựng dựa trên những cuốn tiểu thuyết gây tranh cãi như Tess of the d'Urbervilles (Tess nhà d'Urbervilles) và Jude the Obscure (Jude – kẻ vô danh). Thứ hai, Hardy nổi tiếng là người kịch liệt lên án hôn nhân. Một giám mục nhà thờ đã công khai đốt cuốn Jude của ông, còn một tờ báo dưới thời Victoria, do quá sốc bởi nội dung cuốn sách, đã dùng phép chơi chữ, gọi Jude the Obscure là "Jude the Obscene” (Jude – thứ khiêu dâm).
Điều mà không một ai, kể cả Hardy có thể ngờ tới là có một ngày, Emma lại trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho ông. Những năm cuối đời, Emma đau yếu. Bà qua đời trước khi Hardy kịp nói lời từ biệt. Vài tháng sau khi bà mất, hàng chục bài thơ với những kỷ niệm đẹp đẽ đã trào ra từ trái tim nhà văn.
 |
| Ở tuổi 72, Hardy bắt đầu nhớ về những kỷ niệm đẹp của cuộc hôn nhân đầu tiên. |
Thomas Hardy gặp Emma Gifford năm 1870 khi ông còn là một kiến trúc sư làm việc tại nhà thờ St. Juliot. Bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp hoang dã, làn da tươi mát, mịn và trắng hồng của Emma, Hardy nhẫn nại theo đuối Emma, bất chấp sự phản đối kịch liệt của gia đình bà, bởi Thomas Hardy sinh ra ở đẳng cấp thấp hơn. Họ kết hôn năm 1874. Những năm đầu của cuộc hôn nhân, hai vợ chồng ông sống khá vất vả. Nhà văn viết về đêm còn ban ngày vẫn cặm cụi với công việc của một kiến trúc sư. Những khó khăn vật chất dần được giải quyết khi cuốn tiểu thuyết Desperate Remedies được xuất bản. Cuộc hôn nhân diễn ra êm ấm được một thời gian đầu. Càng về sau, thế giới của Hardy càng được mở rộng, trong khi thế giới của Emma ngày càng bó hẹp lại. Bà dần đánh mất hình ảnh của một người phụ nữ mà ông từng đem lòng yêu. Có điều kiện quen biết với nhiều phụ nữ thượng lưu thanh lịch và sang trọng, Hardy không tiết kiệm những lời vãn ve, ong bướm. Điều đó khiến Emma – một con chiên ngoan đạo - uất hận đến phát điên lên. Khi chuyển lên sống lặng lẽ trong căn gác mái, bà cay đắng nhưng kiên quyết xa cách với người chồng trăng hoa.
Một ngày vào tháng 11/1912, bà Hardy trông có vẻ rất mệt mỏi. Dù bị đau lưng nhưng Emma cảm thấy vẫn đủ sức để rời gác mái, xuống tầng 1 tiếp chuyện hai người bạn đường đột đến thăm vợ chồng bà. Một trong hai vị khách, Rebekah Owen, về sau kể lại rằng, bà Hardy dường như “rất trầm cảm, bị kích động và tỏ ra rất dễ u sầu trước bất cứ chuyện gì”. Ngày hôm sau, Gowring, bác sĩ của Hardy bất chợt nhìn thấy Emma. Trước đó, ông không biết gì nhiều về bà. Gowring khẳng định bà giống như người bị thiếu dinh dưỡng. Nhưng ông cho biết, bà từ chối để ông khám sức khỏe.
Sáng hôm sau 27/11, cô hầu gái của Emma hoảng hốt khi nhìn thấy dung mạo của bà, vội vã chạy vào phòng gọi nhà văn. Khi họ vào phòng Emma, bà đã nằm sóng xoãi trên phòng, rên rỉ vì đau đớn và không còn nói được. Một lúc sau, bà qua đời. Bác sĩ kết luận, Emma chết vì suy tim. Ông còn nói với Hardy rằng, bà bị những chấn thương sâu sắc từ bên trong.
Sức khỏe của Emma Hardy đã yếu đi từ nhiều năm trước. Bà bị ho và viêm họng. Điều đáng ngại hơn là tình trạng tinh thần của bà thường xuyên rơi vào bất ổn. Ngoài ra, Emma còn bị bệnh ảo tưởng. Bà luôn cho rằng, bà là một nhà văn lớn, vĩ đại hơn cả ông chồng nổi tiếng của mình; rằng chính bà là người đã viết một hoặc 2 cuốn tiểu thuyết mà người ta vẫn coi là của ông. Trong khi đó, trên thực tế, Emma chỉ là người thư ký, chép lại và sửa lỗi chính tả cho nhà văn. Bản thân Emma cũng thích viết lách và đã viết được một số tiểu luận về tôn giáo không ai hiểu nổi. Đến nỗi, một số bạn thân của bà đã van xin bà đừng xuất bản chúng. Emma thường xuyên có những hành động bất bình thường. Thỉnh thoảng, bà mặc chiếc áo yếm trắng dành cho trẻ con, khoác thêm những dải ruy băng màu xanh và tung tăng đi lại trong nhà như một đứa trẻ.
Trong số khoảng 80 bài thơ viết vào một thời gian ngắn trước khi qua đời, Hardy đã bày tỏ sự hoài nhớ sâu sắc về một xã hội nước Anh thời kỳ tiền công nghiệp, đồng thời tỏ ra hoài nghi về sự vững chắc của hệ thống đạo đức và tôn giáo thời Victoria. Viết về Emma, Hardy không rủa xả mình vì đã thờ ơ, lạnh lùng với bà mà ông nhớ tiếc về những năm tháng ngọt ngào họ từng có với nhau. Điều Hardy nhớ tiếc không phải là vợ ông mà là hình ảnh người con gái Emma Gifford ông từng tha thiết yêu thương.
Trong thời gian viết những bài thơ này, nhà văn đang yêu Florence Emily Dugdale – người thư ký, về sau trở thành vợ thứ của ông. Emily Dugdale lúc đó mới chỉ ngoài 30, ít hơn ông tận 40 tuổi. Nhưng trong di chúc viết trước khi qua đời, Hardy yêu cầu được yên nghỉ cạnh phần mộ của Emma.
(Nguồn: slate, timesonline)
|