|
Assia Djebar - người tha hương giữa hai thế giới
Assia Djebar là một nhà văn người Algeria viết bằng tiếng Pháp. Tác phẩm của bà đã được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng trên thế giới. Djebar hiện là giáo sư chuyên ngành văn học các nước nói tiếng Pháp tại Đại học New York.
Mùa đông năm ngoái, khi đang ở Paris và bế tắc với cuốn tiểu thuyết mới của mình, bà được nhà sử học tên tuổi Pierre Nora rủ rê làm đơn tham gia vào Viện Hàn lâm Pháp.
"Ông ấy nói: Tại sao lại không nhỉ? Đằng nào thì lúc này bà cũng đang rảnh rỗi. Đây có thể là sự chuyển hướng thú vị đấy", bà kể. Thế là theo như thông lệ, bà viết 39 bức thư tay gửi tới 39 viện sĩ, đề xuất mong muốn được ngồi vào chiếc ghế trống của Viện Hàn lâm do viện sĩ quá cố Georges Vedel để lại, đồng thời gửi kèm bản copy có chữ ký 2 trong số 15 tác phẩm đã xuất bản của mình.
Djebar nhận được những hồi âm khá lịch thiệp. Nói chung các thành viên Viện Hàn lâm tỏ ra khá hiếu khách trước đề xuất của nữ nhà văn, mặc dù có một thành viên xì xầm rằng ông thà bỏ phiếu cho một kẻ đồng tính còn hơn là chọn một nhà văn đến từ Algeria.
Tháng sáu năm ngoái, Djebar, 69 tuổi trở thành người Hồi giáo đầu tiên và là người phụ nữ thứ tư lọt vào Viện Hàn lâm Pháp, thậm chí còn được văn giới Pháp ủng hộ nồng hậu. Mặc dù con đường đến với Viện Hàn lâm của Djebar có phần mang tính hình thức, chiếu lệ nhưng nhớ đến một người bạn bị sát hại chỉ vì viết và giảng dạy bằng tiếng Pháp chứ không phải là tiếng Ảrập, bà tin rằng đây là một bằng chứng cho thấy ngôn ngữ không chỉ dừng lại là một công cụ, một đối tượng nghiên cứu của các nhà ngữ pháp học.
Văn học các nước nói tiếng Pháp - một nền văn học được giảng dạy ở Mỹ nhiều hơn ở Pháp, mang ý nghĩa lớn hơn ý niệm về đặc trưng của một dân tộc, lớn hơn chức năng của một hệ thống ký hiệu giao tiếp của con người mà Viện Hàn lâm ra sức bảo vệ. Được sử dụng như một khái niệm xác định đối với những công dân thuộc các nước từng là thuộc địa của Pháp, "Francophonie", ở góc độ nào đó, vừa mang sắc thái kẻ cả vừa mang ý nghĩa phân biệt dân tộc. Nhưng với Djebar, khái niệm này còn mở rộng đến những nhà văn không sinh ra và lớn lên tại Pháp như Samuel Beckett và Jean-Jacques Rousseau.
Djebar sinh ra trong khoảng thời gian Pháp đang đặt ách thống trị lên Algeria, trong đó có mục tiêu xóa bỏ ngôn ngữ mẹ đẻ của nước này theo cách vừa cưỡng chế vừa tự nguyện. Mẹ của Djebar, hiện sống tại Paris, mãi về sau mới dám học tiếng Pháp. Bố bà dạy tiếng Pháp nhưng vẫn là một người theo chủ nghĩa truyền thống. Tên khai sinh của Djebar là Fatima-Zohra Imalayene, bà đổi tên để làm vừa lòng bố khi bắt tay vào sự nghiệp viết lách. Bố Djebar muốn bà theo đuổi việc học hành nhằm giải phóng bản thân khỏi những giới hạn của một người phụ nữ Ảrập truyền thống.
Năm 1955, Djebar là người phụ nữ Algeria đầu tiên nhập học tại trường École Normale Supérieure. Bà bắt đầu viết từ rất sớm, cuốn tiểu thuyết đầu tay La Soif xuất bản năm 1957, đã giúp bà xây dựng thành công hình ảnh một Françoise Sagan của Algeria trong lòng độc giả Pháp. Bên cạnh những trang văn sống động và phong phú bằng tiếng Pháp, Djebar nhận ra bà còn có thể viết bằng tiếng Ảrập cổ.
Ở một góc độ nào đó, Djebar là một kẻ tha hương ở cả hai thế giới Pháp và Algeria. Nhưng là một nhà sử học được đào tạo bài bản và là một nhà văn có trình độ học vấn cao, bà là kẻ tha hương có cái nhìn sắc sảo về cả hai đất nước chứ không phải là một lữ khách lơ ngơ trong những trang viết của mình.
L'Amour, la Fantasia (1985) - tác phẩm đầu tiên trong bộ tứ bốn tác phẩm nổi tiếng của Algeria - là cuốn tiểu thuyết kết hợp giữa lịch sử xâm lược Algeria của Pháp với câu chuyện về một người phụ nữ. Cả hai đều là những kẻ bị tù ngục. Người phụ nữ Pháp bị giam hãm bởi những ràng buộc của truyền thống còn những kẻ đi xâm lược bị ám ảnh bởi nỗi lo lắng, bất an.
Djebar rời École Normale sau khi tham gia vào một cuộc biểu tình của sinh viên rồi sang Marốc làm việc và dạy học tại Mặt trận giải phóng dân tộc của những người tỵ nạn. Năm 1962, Algeria giành độc lập, bà trở về quê hương nhưng rồi lại nhanh chóng rời bỏ mảnh đất này khi nhà chính quyền ra lệnh chỉ được dạy tiếng Ảrập trên lãnh thổ Algeria. "Tôi được đào tạo về ngành lịch sử và tôi không thể chấp nhận rằng lịch sử chỉ tồn tại chỉ duy nhất trong tiếng Ảrập".
Vào những thời gian gián đoạn trong quá trình viết lách và đặc biệt là những thất bại khi nỗ lực viết văn bằng tiếng Ảrập cổ, Djebar chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và đoạt giải tại Festival phim Venice năm 1977.
Các nhà lý luận của chủ nghĩa nữ quyền ca ngợi những trang viết của Djebar về đời sống của phụ nữ Ảrập nhưng bà từ chối những mỹ từ vinh danh này, bởi "đó không phải là thực tế đã khơi gợi nguồn cảm hứng của tôi. Tôi viết từ những trải nghiệm của con người nói chung", bà nói. Bình luận chính thức do Hội chợ sách Frankfurt đưa ra khi trao giải Hòa bình cho bà năm 2000 đánh giá, Assia Djebar là người có "đóng góp quan trọng trong việc củng cố lòng tự tin của phụ nữ ở thế giới Ảrập".
(Nguồn: IHT)
|