“Tôi chỉ muốn cứu cuộc đời mình, muốn được dùng cuộc đời mình một cách xứng đáng như tôi mơ ước, chứ không vì chạy theo một tình yêu nào”, nhà văn Dạ Ngân bộc bạch.
- Nói theo kiểu kinh tế thị trường, chị đang là nhà văn "ăn khách". Chị nghĩ sao?
- Cuốn tiểu thuyết Gia đình bé mọn của tôi đang được đọc, được chú ý nhiều. Có lẽ do tôi đã tìm được con đường đi vào lòng bạn đọc trong cái mê cung sách dày đặc hôm nay. Tôi đã viết một cách cẩn trọng, hết mình để phụng sự độc giả. Còn ăn khách ư? Chỉ hy vọng lần tái bản này mua thêm một số sách tặng bạn bè. Lần in vừa qua bỏ hết tiền nhuận bút ra mua mà vẫn chưa đủ để tặng. Nghề văn xứ mình là vậy. Bỏ công viết, bỏ tiền nhuận bút ra mua sách, gửi đi biếu, bạn bè chịu đọc cho đã là vui.
- Chị từng nói viết văn phải có lòng can đảm...
- Tất nhiên. Viết văn là viết lại những gì mình đã trải qua, mà có được cái chân thực nghệ thuật (ít nhất là không giả dối, không phân bua, khoe mẽ) là phải can đảm lắm. Nó đụng chạm đến nhiều chuyện, nhiều người, nhất là đụng đến những nỗi đau của chính mình. Mà đời tôi, tuy không đến nỗi “hồng nhan bạc phận", nhưng cũng phải nói là hơi bị truân chuyên...
- Nghe nói chị có một tình yêu lớn, một gia đình đề huề, sao lại gọi là truân chuyên?
- Truân chuyên quá đi chứ. Có người phụ nữ Việt Nam nào thuộc thế hệ như tôi mà không truân chuyên? Mười tuổi mồ côi cha - ba tôi bị Ngô Đình Diệm kết án 20 năm tù, đày ra Côn Đảo rồi bị thủ tiêu ở đó. Sau đó không lâu ông tôi mất vì đau buồn. Rồi người đàn ông duy nhất còn lại trong gia đình là anh tôi vào cứ kháng chiến. Gia đình tôi chỉ còn những người đàn bà phải bươn chải sống với mấy mẫu vườn tạp bên bờ sông Cái Lớn hoang vắng. Cuối cùng chúng tôi cũng lần lượt vào cứ, theo gót ba và anh. Tôi tham gia cách mạng lúc 14 tuổi. Việc đầu tiên tôi được giao là nghe radio Hà Nội, rồi chép tin lại cho các chú làm báo. Tôi có duyên nợ với Hà Nội từ hồi đó chăng? Tuổi trẻ của tôi trải qua trong khốc liệt, tôi không mất mạng, nhưng tuổi thanh xuân của tôi đã bị giết trong chiến tranh rồi. Không ai có quyền được lựa chọn, kể cả chuyện lấy chồng trong chiến tranh. Cuộc hôn nhân bị cái sống và cái chết xô đẩy ấy đã làm sóng gió thêm nỗi truân chuyên của tôi sau này.
- Như vậy, chiến tranh cũng có công trong việc hình thành tài năng của nhà văn đó chứ. Chị nghĩ thế nào?
- Vâng, chiến tranh làm được nhiều thứ, nó hủy diệt rác rưởi và làm bật dậy những phẩm chất mà ngày thường người ta không dễ sáng lên. Nhưng sâu xa, bản chất của chiến tranh là hủy diệt. Chiến tranh hủy diệt tuổi trẻ của tôi, nhưng chiến tranh cũng dạy tôi lòng vị tha và khát vọng sống. Nếu ít tình người và ít lo cho người khác, anh không thể đương đầu với cái chết và nỗi sợ chết được. Vị tha và khát vọng là hai đức tính không thể thiếu để làm nên cái gọi là tài năng của nhà văn.
- Chị đi qua nỗi truân chuyên như thế nào?
- Ông bà mình có câu "mình tính không bằng trời tính". Chúng tôi gặp nhau khi cuộc hôn nhân của cả hai ở “bên bờ vực thẳm". Anh Thân (nhà văn Nguyễn Quang Thân) gặp tôi ở Vũng Tàu, với chiếc quần mua bằng những thước vải của phiếu vải bao cấp, còn những chỗ rách trên đầu gối được dán lại bằng hồ. Anh bảo tôi đó là "sáng kiến" của anh thời chống Pháp. Nhưng tôi thì biết đó là do sự thiếu vắng của bàn tay người vợ. Và tôi đã tin khi anh nói cả đời anh chỉ mơ một người vợ mà trong đó có tình tri kỷ, một người hiểu anh và “a tờng” cùng anh trong mọi phương diện, chủ kiến, viết lách, quan niệm sống. Lúc đó tôi cũng đang trong tâm trạng tìm kiếm, tôi ba mươi tuổi, ba mươi tám kg, gầy mòn không chỉ vì đói mà vì những stress thường xuyên trong cuộc sống gia đình. Không đau khổ nào lớn hơn khi người ta phải sống với một người mình không yêu hoặc không yêu mình nữa. Khi người ta không yêu nhau nữa, phải bỏ nhau thì không nên quy lỗi cho ai.
- Hình như cô Mỹ Tiệp trong "Gia đình bé mọn" không nghĩ thế?
- Có lẽ như thế. Chỗ này nhân vật Mỹ Tiệp “xã hội” hơn tôi. Cô ấy nhìn thấy cái nguyên nhân sâu xa những thảm kịch gia đình mình. Nhà văn Nhật Tuấn trong một bài viết về Gia đình bé mọn nhận xét rất đúng: Ngay từ những ngày hòa bình đầu tiên, sự bất an và dang dở đã đeo bám lấy nàng; để sống cho được “là chính mình”, là tính cách và lương tri của chính mình, nàng buộc phải đương đầu với một cuộc chiến mới - đau đớn và kinh hoàng không kém thời chống Mỹ: Cuộc chiến chống lại cái xấu xa, cái ti tiện đang dâng lên như nước lụt xung quanh nàng. Chỗ này “gia đình bé mọn” không còn “bé mọn” nữa. Và cuốn tiểu thuyết đã bước vào xã hội, có một ý nghĩa xã hội.
- Cuối cùng chị cũng đã có một “gia đình bé mọn” hạnh phúc?
- Cái này thì anh nên hỏi thêm ông xã tôi. Nhưng không nhà văn nào có thể nói mình đã qua hết truân chuyên. Nhà sư nói thế được, quẳng lại mùi tục lụy để vào cõi Phật, nhà văn thì không thể. Nếu anh giàu có, viên mãn, không còn uẩn ức thì anh viết bằng cái gì? Cũng tự trời sinh ra thế. Nhà, đất, vàng, bạc không đồng hành với thơ. Nhưng tôi cũng phải quen dần với nước mắt khi phải xa con và môi trường miền Tây thân thuộc của tôi. Chúng tôi là hai nhà văn hẹn sống với nhau cho đến trọn đời. Tất cả năm đứa con đều gọi anh Thân là bố và ba. Con riêng của anh ấy coi tôi như cô và bạn, hai mươi năm nay hai đứa con tôi cũng coi anh ấy như người cha thứ hai của chúng. Chúng tôi có tất cả chín đứa cháu nội, ngoại rồi. Trong thâm tâm tôi không phân biệt con tôi cũng như con anh ấy.
(Nguồn: Thể thao)