|
Nguyễn Quang Thân: 'Văn chương kỵ nhất giống nhau'
"Nếu như sức sáng tạo ta thấy được trong những tác phẩm vĩ đại của văn học thế giới bùng cháy lên như một đụn rơm thì nhiều tác phẩm của văn học VN chỉ thấy được ngọn lửa và sức nóng của những que diêm. Hơn nữa, những que diêm lại cháy trong gió hoặc chưa kịp cháy thì đã có những cái miệng chỉ rình chực để thổi tắt chúng”, nhà văn Nguyễn Quang Thân tâm sự về văn chương và công việc của người cầm bút.
- Sau khi cuốn sách "Gia đình bé mọn" của nhà văn Dạ Ngân xuất bản, rất nhiều độc giả tò mò muốn tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhân vật và các nguyên mẫu của tác phẩm, trong đó nhân vật Đính được coi là người mang hình bóng của chính ông. Ông nghĩ sao về điều này?
 |
| Nhà văn Nguyễn Quang Thân. | - Tôi sẽ không trả lời câu hỏi này bởi nó không giúp ích gì cho độc giả trong việc nhận thức tác phẩm, ngược lại nó còn "tầm thường hóa" sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Mỗi một nhà văn khi viết đều có những nguyên mẫu nhất định nhưng khi đi vào tác phẩm văn học, nhân vật sẽ có một đời sống riêng. Nhà văn sử dụng đời tư của chính mình làm chất liệu cho quá trình sáng tác nhưng là để khái quát một vấn đề xã hội nào đó rộng hơn cuộc đời của một cá nhân. Việc đọc tác phẩm theo khuynh hướng hiếu kỳ và thiển cận như vậy sẽ làm tổn hại đến giá trị đích thực của tác phẩm.
Nói rộng ra, báo chí hiện nay đang có xu hướng khai thác đời tư của các nhà văn, làm đòn bẩy marketing cho tác phẩm. Nhưng theo tôi, về cơ bản nhà văn không phải là người của công chúng, không nên hành xử theo "phong cách người của công chúng" như với các ca sĩ, diễn viên... Lao động của nhà văn thể hiện qua tác phẩm và đó cũng là phương tiện bày tỏ của nhà văn với độc giả chứ không phải bản thân họ hay đời tư của họ. Buồn thay nếu nhà văn không được đọc và độc giả chỉ biết họ không phải qua tác phẩm mà là qua đời tư, ví dụ họ nợ nần, bỏ vợ hay mê cá độ bóng đá chẳng hạn.
- Một số ý kiến cho rằng văn học VN đang bế tắc khi các tác phẩm vẫn lặng lẽ ra đời rồi lặng lẽ chìm đi trong dư luận, rất ít cuốn sách tạo được sự chú ý và có chỗ đứng trong lòng độc giả. Ông nghĩ sao?
- Đó là một thực tế mà ai cũng nhìn thấy. Nhưng theo tôi, thành tựu về truyện ngắn là rất đáng ghi nhận nếu chúng ta nhìn lại xuất phát điểm của nền văn học hiện đại VN. Từ khi Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn xuất hiện đến nay mới chỉ khoảng 80 năm nhưng những bước phát triển của truyện ngắn là không thể phủ nhận, đặc biệt là sự đóng góp rất lớn của giai đoạn 1930-1945, một bước nhảy vọt khó tưởng tượng nổi đối với bất kỳ nền văn học nào. Chắc chúng ta đều biết, những truyện ngắn Nga đầu thế kỷ hai mươi mốt không khác bao nhiêu so với những truyện ngắn của Pushkin viết giữa thế kỷ mười chín như Phát súng hay Con đầm pích chẳng hạn. Vậy mà truyện ngắn Phạm Duy Tốn so với Thạch Lam (cách nhau chỉ hơn mười năm) đã khác nhau bao nhiêu cả về ngôn ngữ lẫn bố cục..
Trong sự bất hạnh vì bị Pháp đô hộ, văn học VN lại có cái may mắn được tiếp xúc với văn hóa Pháp. Nó là một "cú hích" để tiếng Việt thay đổi một cách nhanh chóng. Tất nhiên nếu không có sự tiếp xúc với văn hóa Pháp, tiếng nói của chúng ta cũng sẽ thay đổi nhưng chậm hơn rất nhiều. Sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa này đã giúp các trí thức VN tìm thấy những giá trị tiến bộ của văn hóa Pháp như "Tự do, bình đẳng, bác ái" để phục vụ cho sự đổi mới nền văn học dân tộc. Nếu lấy mặt bằng truyện ngắn Anh, Pháp giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu 20 so sánh với văn học từ 1930 đến nay của ta thì không có sự chênh lệch lớn, nhưng nhìn chung văn học Việt Nam vẫn chậm hơn văn học thế giới khoảng 50 năm. Sau thế chiến II, văn học thế giới chịu những chấn động lớn về mặt xã hội, làm tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Các nhà văn trên thế giới đã tìm được những hình thức thể hiện mới trong ngôn ngữ, hình tượng, lối viết... Đó là điều mà chúng ta chưa có. Truyện ngắn VN hiện nay viết rất được nhưng chưa thoả mãn được gu thẩm mỹ của độc giả, nhất là lớp trẻ.
Chẳng hạn, văn học Nga đã bừng sáng từ đầu thế kỷ trước với những tác phẩm viết về nội chiến, về cuộc sống đời thường của Bun-ga-cốp, Ivanốp hay Phađêép... Văn học Trung Quốc đã thắp lên những kỳ đài ngôn ngữ với “văn học vết thương” cách đây ba mươi năm với Ba Kim, Trương Hiền Lượng... rồi những tác phẩm nhìn lại một cách nghiêm nhặt quá khứ của Mạc Ngôn, Lý Nhuệ hay Cao Hành Kiện nữa. Nhưng cách mạng, chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và giai đoạn cam go của quá trình xây dựng sau hòa bình ba mươi năm của ta trở lại đây mới được thể hiện khá sơ sài, chưa làm người đọc thoả mãn. Nỗi buồn chiến tranh là cuốn tiểu thuyết Việt Nam khá nhất viết về chiến tranh, có lẽ là cuốn sách VN được dịch nhiều nhất, được đọc nhiều nhất trên thế giới. Nhưng nó lại bị báo chí lạnh nhạt ngay trên quê hương mình. Còn đề tài cải cách ruộng đất, xứng đáng được hy vọng cho nhiều tiểu thuyết hay thì gần như vẫn là một đề tài cấm kỵ và các nhà văn vẫn né tránh.
Còn tiểu thuyết VN, theo tôi, vẫn đang ở trong cái vòng phấn mà người ta vẽ ra cho nó hoặc do các nhà văn tự vẽ ra cho chính mình.
- Như ông vừa nói trên, văn học VN phát triển chậm hơn văn học thế giới khoảng nửa thế kỷ, ông giải thích cho sự chậm chạp này như thế nào?
- Theo tôi có hai lý do chính:
Thứ nhất là sự hội nhập của mình vào nền văn minh chung của nhân loại (chứ không riêng gì văn học) mới chỉ đến đó.
Thứ hai là các nhà văn VN luôn luôn phải nhường bước cho những nhiệm vụ không phải văn chương trong một thời kỳ dài. Trong chiến tranh mỗi con người đều cần phải hy sinh một thứ gì đó, mà thường là hy sinh thứ quý giá nhất. Thanh niên hy sinh tuổi trẻ còn nhà văn hy sinh tự do sáng tạo. Trong chiến tranh nhà văn không thể vô trách nhiệm đến mức thả dây cương cho tự do sáng tạo và mọi thể nghiệm văn chương. Họ làm tuyên truyền nhiều hơn văn chương.
Nhà văn cần nhận thức đó là sự hy sinh chứ không thể nhầm lẫn, coi đó là bản chất, là điểm dừng của sáng tạo văn học.
Có thể thấy một phần văn học VN chịu di chứng của những sự hy sinh tự nguyện nhưng mặt khác, thực tế đời sống văn học hiện nay không đòi hỏi nhà văn phải hy sinh cái quý nhất cả mình. "Khi đại bác cất lên thì thơ ca im tiếng", bây giờ không còn tiếng đại bác nhưng có cảm giác như bước đi của văn học vẫn còn rất rón rén. Đáng lẽ những hiện tượng như Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thế Hoàng Linh phải xuất hiện sớm hơn, đa dạng hơn và đáng lẽ khi họ xuất hiện chúng ta không phải la lên một cách ngỡ ngàng như vậy. Nếu có nhiều cách đánh giá khác nhau, thậm chí một trời một vực với những sáng tạo mới mẻ trong văn học thì càng tốt chứ sao? Điều ấy là rất bình thường trong một xã hội bình thường.
- Văn học VN hiện nay vẫn dừng lại ở lối tả chân mà chưa có những sáng tạo thực sự bứt phá, mới lạ về phong cách và phương pháp sáng tác như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và vô số những thứ “chủ nghĩa” khác nữa ở bên ngoài, lý giải của ông về hiện trạng này như thế nào?
- Tôi nghĩ tài năng là rất hiếm hoi và có lẽ Thượng đế chia không đều trên trái đất. Hơn nữa tài năng văn học chỉ xuất hiện ở những dân tộc có một quá trình trau dồi tiếng mẹ đẻ của mình từ lâu đời. Còn chúng ta mới thoát ra khỏi lối văn biền ngẫu, chúng ta vẫn còn “bị hy sinh”, chúng ta chưa nên vội vàng mơ ước đến những kỳ đài ngôn ngữ diệu kỳ. Thượng đế cho chúng ta một Nguyễn Du là cũng rất đáng được an ủi rồi. Vậy thì, hãy đợi đấy!
Hơn nữa, từ 1945 đến nay dân tộc mình phải làm quá nhiều việc, toàn những việc vĩ đại. Trong bối cảnh đó, các nhà văn thường vẫn phải làm chung một việc, nghĩ một cách, nên họ viết thường giống nhau. Mà giống nhau là điều kỵ nhất của văn chương, chưa có tác phẩm lớn bởi vì trăm đôi đũa có thể bó thành bó đũa chứ không thể cộng lại thành cột cờ.
- Ngoài những nguyên nhân khách quan đó, ông nghĩ gì về vai trò của các yếu tố chủ quan như tri thức văn hóa, trình độ học vấn của nhà văn VN đối với những sáng tác của họ?
- Tri thức văn hóa là một yếu tố rất quan trọng nhưng sáng tạo văn học có những đặc thù riêng. Nếu nhà văn có sức sáng tạo mạnh mẽ, họ có thể phần nào đó khắc phục được những hạn chế về tri thức văn hóa và trình độ học vấn của mình. Tầm khái quát về đời sống của các nhà văn nằm ở ngọn lửa sáng tạo nhiều hơn là ở tầm hiểu biết. Nhưng nếu như sức sáng tạo ta thấy được trong những tác phẩm vĩ đại của văn học thế giới bùng cháy lên như một đụn rơm thì nhiều tác phẩm của văn học VN chỉ thấy được ngọn lửa và sức nóng của những que diêm, hơn nữa, những que diêm lại cháy trong gió hoặc chưa kịp cháy thì đã có những cái miệng chỉ rình chực để thổi tắt chúng.
Tôi không tin việc nhà văn VN chưa đạt đến tầm cỡ thế giới là vì tri thức văn hóa kém bởi kiến văn của nhiều nhà văn nước ta thuộc nhiều thế hệ không thua kém so với các nhà văn trên thế giới. Nhưng họ vẫn không có tác phẩm tầm cỡ thế giới. Tuy vậy, để lý giải vì sao chúng ta chưa có những tác phẩm tầm cỡ thì cần có cả một công trình nghiên cứu công phu chứ không thể đổ cho tri thức văn hoá của nhà văn.
Có một điều tôi nghĩ chắc chắn đúng là chúng ta chưa có được một cảm hứng sáng tạo xã hội mạnh mẽ để khơi dậy tiềm năng sáng tạo không chỉ cho các nhà văn mà thôi.
- Ông đánh giá thế nào về đời sống phê bình hiện nay?
- Phê bình theo tôi là đã chết hẳn. Tất nhiên, chúng ta có nhiều sách dở hơn là sách hay nên các nhà phê bình thường bào chữa rằng không có sách đáng để họ vung roi ngựa. Nhưng phê bình một cuốn sách dở cũng có ích như khen một cuốn sách hay, thậm chí còn có ích hơn nên khó mà đồng ý sự bào chữa đó. Phê bình nghiêm túc đang vắng bóng nếu không kể những bài điểm sách, những bài viết giao đãi bạn bè trên báo chí. Thẳng thắn mà nói, dù có rất nhiều sách dở nhưng các nhà phê bình không dám chê và nếu có sách hay (thực ra cũng có đấy chứ?) thì họ cũng không dám khen đúng với những gì đáng khen vì “vấn đề nhạy cảm”(!). Sao ở đâu cũng thấy nhiều cái “không dám” như thế không biết!
Thu Hà thực hiện
|