|
Tạ Duy Anh: 'Tôi là người không dễ bị khuất phục'
Sự trong sáng, thánh thiện "sống chung" với cái tàn nhẫn, vô lương, bên cạnh những trang viết lạnh lùng, khắc nghiệt là nhiều dòng chữ tươi trẻ và đầy ắp tình cảm với con người và cuộc sống, Tạ Duy Anh mang đến cái nhìn đa chiều về hiện thực. Nhà văn tâm sự với eVăn.
- Sau khi đọc những tác phẩm như "Lão Khổ", "Đi tìm nhân vật", "Thiên thần sám hối"... người ta khó lòng tưởng tượng được một Tạ Duy Anh tươi trẻ, trong sáng trong những sáng tác cho tuổi thần tiên... Anh nghĩ sao về văn học viết cho thiếu nhi của Việt Nam và theo anh đâu là yếu tố quyết định sự thành công của một tác phẩm viết cho thiếu nhi?
- Đó là một nhận định khiến tôi rất ngạc nhiên nhưng cũng khá thú vị. Tôi chỉ biết viết thôi chứ không biết giảng giải cho người khác.
- Trong đề từ cho cuốn "Đi tìm nhân vật", anh coi mình là học trò của những bậc thầy như Doxtoievxki, Nam Cao nhưng tác phẩm lại thể hiện khá rõ những hơi hướng của Franz Kafka. Anh có thể nói gì về điều đó?
 |
| Nhà văn Tạ Duy Anh. | - Chỉ đơn giản là cả Kafka, Nam Cao và tôi cùng ảnh hưởng Doxtoievxki, vì khi viết xong Đi tìm nhân vật tôi mới đọc Lâu đài và tập truyện ngắn của Kafka. Những gì tôi biết về nhà văn đáng kính phục và đáng sợ này cũng chỉ dừng lại ở đấy. Tôi không dám đọc thêm tác phẩm của ông vì lo ngại không thoát ra được để còn tí gì là tôi.
- Trong các tác phẩm của mình, anh có cái nhìn khá bi quan về cuộc sống. Cảm hứng này xuất phát từ đâu?
- Từ những gì đang làm ra thứ mà người Việt vẫn hằng tin là cuộc sống.
- Tác phẩm của anh được giới trong nghề đánh giá cao, nhưng thường bị chìm đi, không gây được sự chú ý của dư luận. Theo anh, tại sao lại như vậy?
- Ở một chỗ khác, căn cứ vào số sách được tái bản của tôi (gần 10 cuốn trong năm 2004) trong đó nhiều cuốn in lại liên tục, chẳng hạn 6 lần trong vòng một năm cho cuốn Thiên thần sám hối và nhiều đầu nậu đang chờ để tái bản Đi tìm nhân vật với số lượng lớn (khi nó hết hạn lưu đày, đương nhiên là chưa biết đến bao giờ), người ta có xu hướng nhận định ngược lại. Tuy nhiên, nếu cả hai đều đúng thì chỉ có nghĩa là tôi không quan tâm đến điều đó.
- Anh cảm thấy thế nào khi tác phẩm của mình viết ra thường xuyên gặp khó khăn trong quá trình in ấn, phát hành?
- Nó chỉ gặp khó khăn khi xin cấp phép thôi. Đôi lúc nó khiến tôi cảm thấy ngột ngạt nhưng chính điều đó càng khích lệ tôi sống và viết theo cách của mình. Tôi là người không dễ bị khuất phục bằng các yếu tố của ngoại cảnh. Tôi có một niềm tin không ai lay chuyển được là những gì xứng đáng tồn tại thì không gì có thể vùi dập được và ngược lại thì dù có nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa cuối cùng cũng vào sọt rác. Điều đó đã và đang xảy ra với nhiều người. Mỗi cuốn sách cũng có số phận riêng, gắn với lịch sử mà nó ra đời. Nếu hôm nay nó bị đối xử bất công thì có nghĩa là một lúc nào đó người ta không chỉ phải nhớ lại nó, mà còn phải nhớ lại cả những gì người ta chỉ muốn quên đi. Tôi bị nhiều người trách sao đường quang không đi lại cứ thích lao vào bụi rậm, từ việc lấy vợ cho đến việc viết lách. Có như thế mới là tôi. Càng khó càng nhiều cảm hứng. Từ bé tôi đã rất thích một mình vượt qua những con đường người khác khôn ngoan tránh đi vào.
- Văn học Việt Nam hiện nay vẫn chưa và dường như không buồn thoát khỏi lối văn chương tả chân thông thường. Anh nghĩ sao về ý kiến này?
- Tôi tự thấy mình là người cả nghĩ nhưng điều bạn quan tâm và hỏi thì tôi chưa hề để tâm đến.
- Anh nghĩ thế nào về các tác phẩm văn học ăn khách và các tác phẩm văn học mang tính nghệ thuật đích thực?
- Có tác phẩm ăn khách nhưng không mấy giá trị nghệ thuật; có tác phẩm vừa hay vừa ăn khách; có tác phẩm ở đẳng cấp cao nhưng đương thời chỉ một ít độc giả có nhu cầu..., thực tế này luôn tồn tại trong mọi nền văn học và đừng nghĩ nó không lành mạnh. Điều đáng sợ chính là khi người ta tìm mọi cách để cổ xuý cho cái tầm thường.
- Anh nhìn nhận thế nào về đời sống văn học hiện nay (bao gồm các sáng tác trẻ, hoạt động phê bình, các giải thưởng văn học...?)
- Đang có một cuộc vật lộn quyết liệt trong giới cầm bút sinh sau năm 1975, trước hết để chối bỏ sự áp đặt những khuôn mẫu giá trị đạo đức và thẩm mỹ đã khiến văn học bị khinh rẻ một cách xứng đáng. Với việc họ không dễ bị những bùa bả giải thưởng cám dỗ là điều mà chúng ta có thể hy vọng. Tôi chia sẻ với những gian nan của họ đồng thời cũng mừng cho họ, khi họ không có được sự hậu thuẫn rầm rộ của giới phê bình như những cha anh họ; khi họ bị dị nghị, ghen ghét ở chỗ này chỗ khác. Rút cục họ cho thấy không thể cứ chấp nhận mãi một nền văn học nghèo nàn như chúng ta vẫn tự hào.
Hoạt động phê bình là lĩnh vực từ lâu tôi không quan tâm. Tôi có những bậc thày mà bất cứ bài viết nào của họ - không chỉ về văn học, nghệ thuật - tôi cũng phải tìm đọc và điều đó là đủ cho nhu cầu đọc phê bình của cá nhân tôi. Tuy nhiên thời gian gần đây, lẫn vào trong số những Mr. 100.000 (ám chỉ những nhà phê bình chỉ cần một trăm ngàn đồng là có thể muối mặt ngợi ca một cuốn sách rẻ tiền) có vài gương mặt mà tôi thấy cần phải trân trọng nhắc đến họ. Đó là Cao Việt Dũng, Phạm Xuân Thạch, Nguyễn Thanh Sơn, Cầm Thi và nếu rộng lượng hơn - tôi muốn nói nếu xét ở khía cạnh động cơ - thì có thể kể thêm cả Nguyễn Chí Hoan... Hình như họ đang đưa ra một thứ ngôn ngữ phê bình khác hẳn những gì trước đây vẫn được tôn lên thành khuôn mẫu. Tôi đọc được ở họ trước hết là một sự học hành khá cẩn thận, một bản lĩnh văn hoá, bản lĩnh nghề nghiệp và cái chính là họ thực sự muốn làm sang trọng trở lại nghề phê bình như nó xứng đáng được hưởng, vốn bị rớt giá thê thảm quá lâu. Một người mà tôi muốn nhắc đến bằng tất cả sự yêu mến là nhà phê bình, dịch giả Phạm Xuân Nguyên. Ông từng là người đơn độc khi chỉ biết cổ vũ cho nghệ thuật. Ông thuộc số rất ít, cực kỳ ít những nhà phê bình vô vụ lợi mà tôi biết mặc dù tôi rất không thích thói ham chơi của ông. Riêng về các giải thưởng thì tôi thật sự không có gì để nói ngoại trừ nếu bạn hỏi về giải xổ số.
Thu Hà thực hiện
|