|
Tôi là Coriander (trích - phần 2)
Có gì đó thay đổi ở mẹ tôi từ sau khi đôi hài bạc xuất hiện. Mẹ có vẻ lo lắng và không để tôi rời khỏi tầm mắt. Rồi một chuyện lạ khác xảy ra. Lúc đó tôi đang chơi ở trong vườn.
3
Đôi hài bạc
Có gì đó thay đổi ở mẹ tôi từ sau khi đôi hài bạc xuất hiện. Mẹ có vẻ lo lắng và không để tôi rời khỏi tầm mắt. Rồi một chuyện lạ khác xảy ra. Lúc đó tôi đang chơi ở trong vườn. Bọn Đầu Tròn1 đang tìm bắt tôi, thế là tôi trốn dưới chiếc ghế dài trong vườn: tôi phải trốn, vì tôi là một chàng hoàng tử đóng giả làm một cô bé. Đó là một nơi trốn rất lý tưởng. Không ai biết tôi ở đó, kể cả bọn Đầu Tròn, và tôi có thể nghe được đủ loại chuyện của người lớn. Mẹ tôi có rất nhiều bạn và khách đến thăm để hỏi xin bà một lời khuyên hay một phương thuốc.
Thật thà mà nói thì tôi không biết trái tim lại có thể gây ra nhiều rắc rối và bất hoà đến thế. Nó có thể tan vỡ rồi được chữa lành. Nó có thể bị thương rồi lại khỏi. Nó có thể được đem cho rồi lại được trả lại, bị mất rồi lại được tìm thấy. Tất cả những điều đó có thể diễn ra mà bạn vẫn sống, dù chỉ là sống tạm, theo cách nói của một số người.
Trong số những người khách của mẹ có cô Patience Tofton. Tôi không chú ý lắm cho đến khi chợt nghe thấy cái tên Robert Bedwell. Lập tức tai tôi vểnh lên vì tôi vẫn thường chơi với hai đứa con trai của ông Bedwell. Họ sống cùng trên phố Thames, cách nhà chúng tôi một quãng. Tôi đoán hẳn ông Bedwell phải từng có vợ cũng như hai thằng bạn tôi có mẹ, nhưng tôi không nhớ gì về bà ta.
Patience Tofton vừa kể lể vừa thút thít.
- Anh ấy sẽ muốn một người vợ có học thức. - Cô khóc cay đắng. - Một người vợ trẻ hơn tôi. Tôi đã làm gái già quá lâu rồi.
Quả là điều ngốc nghếch nhất tôi từng nghe. Ông Bedwell đâu còn trai trẻ gì. Ông ấy hẳn sướng điên khi biết rằng cô Patience Tofton, một phụ nữ ưa nhìn, tóc sáng màu và hàm răng còn nguyên vẹn, lại thích mình.
Tôi ngó ra từ bên dưới cái ghế. Mẹ đang dịu dàng và từ tốn nói với cô Tofton. Tôi không nghe được mẹ nói gì, chỉ thấy sau đó mẹ hôn lên hai má cô ta.
- Rồi mọi chuyện sẽ ổn phải không chị? - Cô Tofton hỏi khi đứng lên để ra về.
Tôi nhảy ra khỏi chỗ trốn của mình và kêu lên:
- Đương nhiên là ông ấy sẽ lấy cô! Đừng ngại ngần nữa. Hai đứa con của cô đang rất mong được chào đời đấy.
Huyên thuyên xong tôi mới nhận ra có lẽ mình đã làm một việc không nên chút nào. Cô Tofton quá kinh ngạc, tôi đoan chắc với các bạn như vậy. Mặt cô ta xanh mét đi, rồi cô ngất xỉu, ngã xuống như một thân cây bị đốn hạ vậy.
Tôi chạy vào trong nhà, tự nhủ tốt nhất là nên biến đi cho đến khi nghe thấy tiếng cổng vườn đóng lại. Sau đó tôi đứng ngó qua cửa sổ buồng ngủ và thấy ông Bedwell dìu cô Tofton về nhà.
Lát sau, mẹ bước vào phòng và tới ngồi lên giường tôi.
- Điều gì đã khiến con nói như thế với cô Tofton? - Bà hỏi.
- Con không biết. - Tôi đáp, quả thực tôi không biết - Con chỉ chắn chắn là cô ấy sẽ lấy ông Bedwell vào ngày hạ chí và họ sẽ có một con trai và một con gái.
- Đó là tất cả sao?
- Vâng. - Tôi nói, ngẫm nghĩ thêm một lát. - Con dám chắc như thế.
- Coriander, - Mẹ nói và nhìn thẳng vào mắt tôi - Con giống mẹ. Nhưng hãy nhớ, con phải giữ không cho ý nghĩ của mình tuôn ra đầu lưỡi.
- Từ giờ con sẽ không thốt ra một lời nào về những ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu nữa - Tôi đáp vẻ biết lỗi.
- Thế thì thật đáng tiếc. - Mẹ cười lớn - Chúng ta thỏa thuận rằng con có thể nói với mẹ, cha con và chị Danes, nhưng không nói với ai khác nữa.
- Vậy con có được đi đôi hài bạc không?
- Không, Coriander. Hãy nghe mẹ, đôi hài ấy không hợp với con đâu. - Giọng mẹ bỗng buồn vô hạn. - Mẹ từng có một đôi hài như thế. Mẹ đã đi chúng suốt mười bảy năm. Mẹ muốn con có một đôi hài khác, một đôi hài do chính con chọn, chứ không phải đôi hài sẽ dẫn con đến nơi mà con không nên tới.
- Nhưng con chọn đôi hài ấy! - Tôi kêu lên. - Con muốn có chúng!
- Ôi Coriander, con chưa đủ lớn để hiểu đâu. - Mẹ dịu dàng - Con phải tin mẹ. Mẹ biết điều gì là tốt nhất cho con.
Nhưng còn có điều gì tốt hơn đôi hài bạc cơ chứ?
Trong nhà, sinh nhật tôi luôn được tổ chức long trọng và tôi được tặng rất nhiều quà để kỷ niệm ngày chào đời. Năm nay mẹ đã sắp xếp một chuyến du ngoạn bằng thuyền về phía thượng lưu sông. Tôi dậy sớm và nằm trên giường trong khi ánh mặt trời phản chiếu những gợn nước dập dềnh lên quanh phòng, lắng nghe tiếng những người rao hàng đi lên cầu. Ngay khi người canh đêm rung chuông báo ngày mới, tôi bật dậy, chạy xuôi hành lang, ào vào phòng cha mẹ. Tôi thấy mình như một con quay đang xoay tít vì phấn khích.
- Hôm nay là ngày của con! Dậy thôi! - Tôi kêu lên, kéo những tấm màn che quanh chiếc giường gỗ sồi và nhảy ùm vào giữa giường.
- Cha biết rồi. - Cha tôi cười lớn. - Cả phố này cũng biết nữa.
Rồi ông cúi xuống lôi ra một cái hộp từ dưới gậm giường.
Bằng những ngón tay run lên vì hồi hộp, tôi mở cái hộp . Tôi biết chắc trong đó có gì. Và chúng đây: một đôi hài da màu bạc xỉn xấu xí, nặng nề. Một sự bắt chước tồi tệ, một bản sao thảm hại. Không có gì giống như đôi hài bạc đã được bỏ bên ngoài cửa vườn.
Tôi thấy nước mắt dâng đầy lên mắt, cổ họng nghẹn cứng.
- Cha xin lỗi, cưng. - Cha tôi nói. - Con không thể đi đôi hài kia được. Cha mẹ hy vọng con sẽ thích đôi này.
Tôi trèo xuống giường. Tất cả những náo nức của cả ngày hôm ấy đã biến mất. Tôi phải cố ngăn những giọt nước mắt thất vọng khỏi trào ra.
- Con thử đi xem nào. - Mẹ nói.
Tôi thử. Đôi hài nặng chịch, bóp chặt lấy chân tôi. Tôi quay đi và cảm thấy hết sức khổ sở.
- Coriander. - Mẹ gọi. Tôi quay lại và nhìn vào căn buồng. Sàn nhà đã biến thành biển cả và chiếc giường là một con tàu, cách tôi một khoảng rất xa. Tôi nghe thấy tiếng cha mẹ gọi tôi từ xa vẳng lại. Tất cả xảy ra trong khoảng một phút hay thậm chí còn ít hơn thế. Có thể tôi đã mơ. Cũng có thể không phải là giấc mơ. Cảnh tượng ấy luôn ám ảnh tôi, và tôi thường tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi biết vâng lời và quên đôi hài bạc đi. Liệu khi ấy mọi chuyện có trở nên tốt đẹp không?
Chậm chạp và buồn bã, tôi quay về phòng mình. Chị Danes đã đợi sẵn để mặc quần áo cho tôi.
- Ồ, sao mặt lại chảy dài xuống thế kia, chim sẻ nhỏ của chị? - Chị hỏi. - Em không thích đôi hài mới sao?
Tôi lặng thinh.
- Thế thì chắc em cũng chẳng muốn xem quà của chị rồi. - Chị Danes nói, lôi trong túi tạp dề ra một cái bọc cột bằng dải ruy-băng lụa.
Bên trong là một cái hộp khâu vá hình con ếch được thêu rất đẹp, với kim, một cái đê và một chiếc kéo bé xíu, lại có cả một quyển sách bằng vải với đủ loại mũi khâu khác nhau. Trong chốc lát, tôi ngạc nhiên quá đỗi tới mức quên khuấy luôn cả những đau khổ vì đôi giày bạc.
Tôi ngồi lại một mình với cái gói nhỏ của tôi trong khi chị Danes sang phòng mẹ. Tôi nghe thấy tiếng cha gọi đem nước nóng tới, và cả tiếng đôi hài bạc gọi tôi. Ban đầu tôi nghĩ mình chỉ tưởng tượng ra thế, nhưng rõ ràng tôi có thể thấy tiếng gọi đến từ chỗ nào, như thể nó là một làn khói thuốc bốc lên từ chiếc tẩu của cha tôi. Tôi đứng lên, theo nó xuống tầng dưới và vào phòng làm việc.
"Coriander, Coriander, hãy đi chúng tôi vào đôi chân nhỏ xinh của cô,
Chúng tôi đang đợi. Êm ái và sáng lấp lánh, chúng tôi sẽ cùng cô tung tăng xuống phố."
Tôi đứng lặng ở đó, nghe những lời mời mọc. Cuối cùng, thu hết can đảm vào đôi tay run rẩy, tôi mở cửa phòng.
Căn phòng tối om. Con cá sấu nằm im lìm như vị chúa tể của chiếc tủ gỗ mun, chiếc chìa khoá ở đầu dải băng treo lủng lẳng trên hàm răng nó đầy mời gọi.
Tôi khép cửa lại và đứng tựa lưng vào đó, tay vẫn giữ nắm đấm cửa, tim đập thình thịch. Không khí yên lặng bao trùm cả căn phòng. Tôi cứ đứng đó. Phải quyết định thôi. Tôi có dám làm chuyện này không? Tôi tự nhủ là có. Tôi chỉ muốn nhìn thấy đôi hài một lần nữa, chỉ vậy thôi.
Tôi cố đẩy một cái ghế lại gần tủ để trèo lên và với lấy chiếc chìa khoá. Cái ghế quá nặng, tôi phải kéo lê nó, cố gắng không phát ra tiếng ồn và đợi một lúc để chắc rằng không ai nghe thấy. Tôi trèo lên ghế. Nhón chân lên, tôi giáp mặt với con cá sấu. Nhìn gần trông nó còn đáng sợ hơn, tựa hồ như nó có thể sống lại bất cứ lúc nào.
Tôi có muốn thấy lại đôi hài đến mức ấy không? ?, có chứ, tôi còn muốn hơn thế là đằng khác. Tôi nhắm hờ mắt lại. Run bắn lên vì sợ, tôi thò tay vào miệng con cá sấu và chộp lấy chiếc chìa khoá. Nếu như con cá sấu có táp hai hàm răng của nó lại thì tôi cũng không cảm thấy hay nhìn thấy gì hết.
Tôi trèo xuống và mở tủ. Bên trong có nhiều ngăn kéo nhỏ bằng gỗ tuyết tùng chạm khảm rất đẹp. Tôi không biết nên mở ngăn nào.
Tôi đứng yên nín thở, và rồi lại nghe thấy tiếng gọi ấy, lần này chỉ như một tiếng thì thầm: "Coriander, Coriander."
Tôi mở ngăn kéo cuối cùng và thấy chúng nằm đó, đôi hài kỳ diệu nhất trên thế gian. Chúng tựa như thuỷ tinh. Chúng tựa như kim cương. Chúng tựa như những vì sao.
Ồ, tôi thầm nghĩ, mình chỉ đi thử thôi thì có sao?
Đôi hài vừa vặn như thể chúng được làm riêng cho tôi. Tôi đứng đó mê mẩn trước vẻ đẹp của chúng. Tôi đứng như thế bao lâu không biết, nhưng hẳn phải khá lâu bởi tôi giật mình nghe tiếng gọi, lần này không phải là tiếng thì thầm.
- Coriander, Coriander! Con bé đi đâu rồi?
Tôi vội kéo đôi hài ra, nhưng chúng không chịu rời khỏi chân tôi. Như thể chúng đã dính chặt vào tôi vậy. Trong lúc sợ bị phát hiện, tôi cũng xoay sở để đóng được ngăn tủ, đặt cái chìa khoá trả lại miệng con cá sấu vừa vặn trước khi chị Danes mở cửa.
- Coriander, em đang làm gì trong này vậy, cô bé ngốc? - Chị hỏi. - Cả nhà tìm em khắp nơi. Đi nào, thuyền sắp rời bến rồi.
Một điều thuận tiện của việc sống ngay sát bờ sông là chúng tôi có cửa cống và cọc buộc thuyền của riêng mình, vì thế có những bậc thang hẳn hoi dẫn xuống chỗ con thuyền đang đợi. Như thế có nghĩa là không phải vén váy lên cao cho khỏi ướt và đôi hài của tôi không bị phát hiện. Tôi tự nhủ là đến tối sẽ tháo chúng ra và để lại chỗ cũ, nhưng hôm nay thì chúng là của tôi.
Chúng tôi đi thuyền ngược về phía thượng lưu, qua Whitehall, nơi thành phố bắt đầu nhường chỗ cho những cánh đồng và bãi cỏ rộng, nước sông mất dần vẻ đục lờ và trở nên trong sạch hơn cũng như không khí. Đến một đồng cỏ đầy hoa, những người chèo thuyền kéo con thuyền lên bờ. Sau đó thì mọi người bắt đầu biến một ngày thảnh thơi rỗi việc trở nên hết sức dễ chịu và thoải mái. Những giỏ đồ ăn được bày dưới tán cây, những chai rượu được ngâm xuống nước cho lạnh, và dây câu được buộc lên cho những ai cần một chút thể thao.
Nhân lúc mọi người đang tất bật chuẩn bị, tôi lẻn ra ngồi bên bờ sông ngút ngàn cỏ, hy vọng lần này sẽ cởi được hài. Tôi kéo đôi hài và chúng tuột ra không chút khó khăn. Tôi liền nghĩ chắc hẳn chuyện kỳ quái trong phòng làm việc là do tôi tưởng tượng ra. Tôi vùi đôi hài dưới lớp lá khô, nơi tôi biết sẽ không ai phát hiện ra.
Mẹ tôi cũng tháo giày tất ra rồi hai tay khẽ nâng vạt váy, bà vui vẻ đuổi tôi chạy quanh cánh đồng. Tóc mẹ buột ra, xoã tung, còn mũ của tôi thì bay mất tiêu trong lúc chúng tôi chạy vòng vòng cho đến khi ngã phịch xuống cười như nắc nẻ. Tôi kết những vòng hoa cúc dại và hái thêm bao nhiêu hoa để gài lên tóc mẹ. Tôi vầy nước dưới sông, ngắm những con cá nhỏ bơi qua ngón chân tôi rồi quay tròn như một chiếc cối xay gió trong cánh tay cha tôi.
Ngày hôm ấy trôi qua. Đã đến lúc lấy lại đôi hài bạc. Tôi cẩn thận giữ váy trùm kín chân khi chúng tôi nằm dưới bóng sồi, trên những tấm thảm và gối như những hoàng đế La Mã, thưởng thức bữa tiệc thịnh soạn trong ánh mặt trời cuối ngày xuyên qua kẽ lá lốm đốm thay cho ánh nến. Cha tôi còn thuê ba nhạc công chơi những bản nhạc du dương. Với điều vui thú ấy, tôi quên bẵng mất mình đã làm gì, cho đến tận khi chúng tôi quay về nhà.
Màn đêm đã buông xuống dòng Thames, xua đi ánh sáng ban ngày. Những người lái đò đã thắp đèn trên thuyền, dòng sông lấp lánh và dập dềnh như hòa vào điệu vũ cùng ánh sáng. Tôi buồn ngủ díp mắt sau một ngày tuyệt diệu tràn ngập không khí trong lành và thức ăn ngon.
Bỗng nhiên, mẹ tôi gắt hỏi:
- Coriander, con lấy đôi hài này ở đâu?
Tôi lập tức tỉnh ngủ và kinh hoàng nhận thấy đôi hài đang lộ ra.
- Con... - Tôi ấp úng. Tôi biết mình đang gặp rắc rối to. - Con xin lỗi, nhưng đôi hài kia đi làm chân con đau.
- Thế là hư lắm. - Mẹ nói vẻ thất vọng.
- Con định nói là - Cha tôi lên tiếng. Ông đang ôm tôi. - Con đã trèo lên ghế và thò tay vào miệng con cá sấu để lấy chìa khoá sao?
Tôi gật đầu.
- Chà, chà, ấn tượng đấy. Đúng là một hành động dũng cảm với một cô bé sợ con cá sấu như con.
Mẹ không nói gì và quay đi. Tôi biết mẹ không bằng lòng.
- Ôi Eleanor, em yêu. - Cha nói. - Anh biết con không nên làm thế, nhưng hôm nay là ngày của Coriander kia mà. Sao không cho con đôi hài luôn đi? Nó xứng đáng có được chúng đấy!
- Đây là đôi hài đẹp nhất mà con đã từng đi. - Tôi nói, hồi hộp đến nỗi không dám cả cử động, sợ cha sẽ đổi ý.
Mẹ tôi quay lại, nhìn chằm chằm đôi hài.
- Con cởi chúng ra có dễ không? - Bà hỏi tôi.
- Dễ lắm ạ - Tôi đáp. Tôi đã không nói thật.
- Đấy. Có lẽ chúng ta đã làm to chuyện lên quá thôi. - Cha tôi nói - Một đôi hài thì có thể đem đến tai hoạ gì chứ?
Mẹ tôi đáp:
- Chúng có thể đem đến rất nhiều tai hoạ, và anh cũng biết thế, Thomas ạ.
4
Đôi cánh quạ
Tôi vẫn còn ngây ngất với thắng lợi về đôi hài bạc. Mẹ không nhắc đến chúng nữa và tôi biết mình đã được tha lỗi. Đôi hài đã là của tôi và đó mới là điều đáng kể. Tôi quyết định ngày mai sẽ mang chúng khi đi cùng chị Danes ra phố làm mấy việc lặt vặt như thường lệ.
- Chúng sẽ bị dính bùn và các thứ rác rưởi đấy. - Chị Danes nói, vén mái tóc tôi gọn vào trong mũ và vuốt phẳng lại chiếc váy của tôi. Tôi không muốn nói ra, nhưng tôi biết là chị đúng. Đôi hài của tôi không hợp với những con phố nhớp nhúa của London.
- Không, chúng sẽ không bị bẩn đâu. Đây là đôi hài có phép mà. - Tôi bảo chị.
- Có phép à? - Chị Danes hỏi, lấy chiếc giỏ đan bằng cành liễu từ trên giá bếp xuống. Chúng tôi sẽ đem thuốc đến cho vợ của một người buôn vải sống ở trên cầu, gần đây bà ta bị khó ở.
Mẹ bước vào phòng với một nắm thảo mộc.
- Con không định đi đôi hài ấy đấy chứ, con yêu? - Bà hỏi.
- Có chứ. - Tôi bướng bỉnh đáp. - Con sẽ đi chúng.
- Chúng sẽ bị hỏng đấy.
- Chúng sẽ không bao giờ bị hỏng cả. - Tôi cả quyết. - Sáng nay con đã phù phép cho chúng.
- Thế con có nghĩ rằng, - Mẹ mỉm cười cúi xuống và nói. - sẽ tốt hơn nếu con phù phép cho chúng luôn đưa con về nhà an toàn không?
Cả hai chúng tôi cùng nhìn xuống và ngắm đôi hài một cách trang nghiêm hồi lâu.
- Đẹp thật. - Cuối cùng mẹ tôi nói. - Trước kia mẹ đã... - Bà bắt đầu, nhưng rồi lại thôi không nói nữa mà quay sang hôn tôi. - Thôi, con đi đi.
Tôi vẫn còn nhớ hôm đó là một sáng mùa xuân dễ chịu, hứa hẹn những nóng ấm sắp đến. Con phố hẹp trước cửa nhà tôi đầy ắp những người hối hả chen lấn nhau đi về phía cầu. Tôi nắm chặt tay chị Danes. Tôi còn rất thấp nên chỉ thấy toàn váy dài và những ống chân tiến lại rồi chen qua tôi. Những người bán hàng rong, thợ học việc và người đưa nước đang la hét. Rồi giữa đám người và âm thanh hỗn độn bỗng xuất hiện một bầy ngỗng kêu quàng quạc, nghe như tiếng cả trăm bà hàng cá đang mặc cả vậy. Tôi kéo tạp dề chị Danes, nài chị bế tôi lên. Tôi sợ bầy ngỗng.
- Ôi Coriander, em quá lớn để phải bế rồi. - Chị cằn nhằn, nhưng vẫn bồng tôi bên hông, và tôi có thể thấy được chúng tôi đang đi đâu.
Mỗi lần được bế, tôi thích giơ tay lên xem mình đã đủ cao để chạm vào những tấm biển treo bên ngoài các ngôi nhà và cửa hàng chưa. Trên biển vẽ những hình khác nhau và nhìn vào đó, bạn có thể biết ai sống trong nhà hay cửa hàng bán thứ gì. Tấm biển treo trước cửa nhà tôi có hình một cây dâu tằm. Các tấm biển này phải treo đủ cao để người cưỡi ngựa đi qua bên dưới không bị vướng vào. Tuy nhiên, trên con phố hẹp của chúng tôi, nhiều tấm biển treo thấp đến nỗi tôi e người kỵ sĩ có thể rơi mất mũ, nếu không phải là mất đầu.
Rốt cuộc thì chúng tôi cũng đến cầu.
- Từ đây thì em có thể tự đi bộ được rồi, con chim sẻ nhỏ. - Chị Danes nói, đặt tôi xuống và vươn thẳng người lên.
Đây là cây cầu duy nhất bắc qua sông Thames. Không còn cách nào khác để qua sông ngoại trừ đi bằng thuyền. Cây cầu cực kỳ tráng lệ. Tôi vừa thích vừa sợ nó. Tôi sợ những cái đầu kỳ quái cắm trên cọc ở Cổng của Những Kẻ Phản Trắc, nom như những miệng máng xối quái dị nhìn xuống người đi đường, cảnh báo cho họ biết cái gì sẽ xảy đến với những tên du đãng và bọn bảo hoàng ở thành phố ngoan đạo này. Tôi thích những cửa hàng đông đúc, những người bán hàng rong trên phố, những khu vườn treo, những vỉa hè. Cha tôi nói không cây cầu nào trên thế giới sánh được với cây cầu này.
Khi chúng tôi đến nơi thì tất cả các cửa hàng đã mở cửa. Xe ngựa và xe bò chạy ầm ầm trên đường cái, làm người đi đường và gà qué chạy tán loạn. Phố xá đinh tai nhức óc với tiếng chuông nhà thờ, tiếng hò hét của các chú học việc, tiếng bánh xe nước quay. Người ta chạy lăng xăng chỗ này chỗ nọ mà không thèm nhìn xem mình đang đi đâu. Chen vào giữa đám người ồn ã là những con vật to lớn từ nông thôn đang trên đường tới chợ gia súc.
Tôi luôn chắc chắn là nếu buông tay chị Danes thì sẽ bị lạc, bị cuốn phăng vào biển người kia. Thường thì ý nghĩ này khiến tôi bám chặt vào chị như đỉa. Nhưng hôm nay thì khác. Hôm nay tôi đang đi đôi hài bạc mới. Sự thực là mặc dù đã phù phép cho chúng, tôi vẫn sợ đôi hài bị lấm bùn hơn là sợ bị lạc.
Phía trước chúng tôi, một người bán nến và một người đàn bà cúi mình xuống từ tầng ba toà nhà gần đó đang cãi nhau ầm ĩ. Người bán nến rong ướt sũng và bốc lên thứ mùi không lấy gì làm dễ chịu. Ông ta đang kết tội người đàn bà nọ đã đổ một cái bô lên đầu ông.
- Sao bà lại làm thế? - Người bán nến rong hét lên. - Con sông ở ngay sau nhà bà. Cây cầu này là đường đi chung của những người tử tế biết kính Chúa, không phải là chỗ phóng uế công cộng!
Người đàn bà giơ nắm đấm về phía ông ta và đóng sập cửa sổ lại. Tôi hy vọng không còn ai khác có ý định đổ bô nữa, và nắm chặt tay chị Danes hơn.
- Bước cẩn thận đấy. - Chị nhắc.
Tôi nhìn xuống và thấy đôi hài tỏa sáng mờ mờ như một làn hơi nóng trong một ngày mùa hạ. Tôi buông tay chị Danes ra để kéo váy lên nhìn cho rõ hơn.
- Chị Danes. - Tôi nói. - Đôi hài của em!
Không có tiếng trả lời. Một màn sương mù kỳ quái vừa buông xuống. Chị Danes cũng như tất cả những người khác trên cầu đã biến mất. Tất cả đều im lìm.
Tôi sợ đến nỗi không khóc nổi. Tôi cứ đứng yên như phỗng, nhắm nghiền mắt, hy vọng khi mở mắt ra thì mọi thứ sẽ trở lại như cũ. Tôi đợi một lúc, rồi đánh liều hé mắt ra nhìn. Màn sương đã tan và tôi thấy mình đứng đó, hoàn toàn đơn độc bên ngoài một cửa hàng treo tấm biển vẽ hình một cái gương. Tôi nghĩ có lẽ nên đi vào và hỏi xem có ai giúp được mình không. Điều kỳ lạ là vừa nghĩ vậy tôi đã thấy mình ở trong cửa hàng rồi. Bên trong rất lạnh và u ám, phải mất một lúc mắt tôi mới quen được với bóng tối. Khi ấy tôi sợ hãi nhận thấy một con quạ lớn, đen như bóng đêm đang đậu trên quầy hàng.
Bản năng thôi thúc tôi phải chạy khỏi cửa hàng quái đản này, nhưng đôi hài như gắn chặt với mặt đất. Con quạ nhìn tôi, đôi mắt màu ngọc trai đen của nó lóe lên trong trong bóng đêm.
- Đừng sợ. - Quạ nói. - Bà ấy đang đợi mi ở trên gác.
Tôi giật thót mình. Không biết nên làm gì, tôi quay ra nhìn về phía cửa. Con quạ, như thể đọc được ý nghĩ ấy, liền bay ngay tới đó, chặn đường thoát của tôi. Tôi có thể cảm thấy sức mạnh từ đôi cánh sải rộng của nó như một làn sóng đen lông lá đâm bổ xuống tôi. Tim tôi gần vỡ ra vì sợ. Tôi chạy bán sống bán chết lên cầu thang, sợ con quạ sẽ đuổi theo.
- Xin cho đó là chị Danes đang đợi con - Tôi cầu nguyện. - Xin Người!
Vừa bước vào phòng là tôi biết ngay mình đã bị lạc, bị lạc hoàn toàn, bởi chẳng có chị Danes ở đó, chỉ có một mụ già đang ngắm mình qua tấm gương mạ vàng. Tường của căn phòng được ốp gỗ; trong lò sưởi có lửa, nhưng ngọn lửa lại đứng im lìm như thể chúng được vẽ lên đó vậy. Cánh cửa sổ bọc chì hơi hé mở sau lưng mụ già. Nhiều mảng ánh sáng đổ xuống nền nhà và tường, và tôi có thể thấy dòng sông ở bên ngoài. ? đó cũng không có gì chuyển động: dòng sông, những con thuyền, con người, kể cả những con hải âu đang bay ở lưng chừng trời. Tất cả đều im lặng, không một tiếng gió thổi hay một hơi thở, như thể thời gian đã bị giữ lại bởi một bàn tay vô hình.
Tất cả những gì tôi nghe thấy chỉ còn là tiếng tim của chính mình đang đập thình thịch.
- Lại đây, bé con của ta. - Mụ già cất giọng âm âm như từ cõi chết vọng lại. - Đừng run bắn lên thế. Lại đây để ta ngắm mi nào.
Tôi muốn chạy ngay ra khỏi phòng, nhưng đôi hài không chịu nhúc nhích. Mụ già bằng cách nào đó lập tức đã tiến sát tôi hơn trước rất nhiều. Mụ có đôi mắt ti hí, cái mũi khoằm và một cái nốt ruồi trên cằm. Gương mặt mụ tựa như một tấm mặt nạ.
- Biết ta là ai không? - Mụ hỏi. Trong khoảnh khắc, tấm mặt nạ trở nên trong suốt và một khuôn mặt khác với vẻ đẹp tàn ác lộ ra. Khuôn mặt nào khiến tôi sợ hơn, tôi cũng không biết nữa.
- Không ạ. - Tôi đáp. Tôi cố gắng lùi xa mụ, nhưng vẫn là đôi hài không chịu nhúc nhích. Khi ấy tôi mới nhận ra con quạ đã vào phòng từ lúc nào và giờ đang đậu trên lưng ghế của mụ già.
- Mi bao nhiêu tuổi? - Mụ hỏi.
- Sáu ạ. - Tôi đáp.
- Còn nhỏ quá, nhỏ quá. - Mụ thì thầm.
Tôi nhìn đăm đăm xuống chân. Những thứ kỳ quái đang xảy ra khiến tôi nhớ chị Danes, và nước mắt bắt lăn dài trên má. Mụ già không hề tỏ vẻ xúc động hay lo lắng khi thấy tôi sợ hãi vậy.
- Đôi hài này quả thực rất hợp với mi. - Mụ nói. - Ta mừng là mi thích chúng. Mi có thích chúng không?
Tôi lặng thinh. Tất cả lời lẽ đã đông cứng lại trên lưỡi tôi.
- Cronus. - Mụ già gọi - Cưng có nghĩ là con bé thích đôi hài không?
- Tất nhiên là có rồi. - Con quạ trả lời. - Chính nó đã chọn mang chúng mà.
Lúc này tôi nức nở to đến nỗi ngực thắt lại, vai rung lên. Tôi sợ cứ run rẩy thế này mình sẽ vỡ tan ra mất. Người tôi nóng bừng bừng và như lên cơn mê sảng. Cuối cùng tôi cũng cất tiếng lên được và hổn hển qua làn nước mắt:
- Cháu muốn về nhà, làm ơn! Ngay bây giờ!
Mụ già mỉm cười và giơ tấm gương mạ vàng lên cho tôi thấy. Mặt gương được làm bằng một chất bạc lỏng đang xoáy tròn và xoáy tròn mãi. Nhìn vào đó giống như nhìn vào một cái giếng sâu hút: tôi có thể ngã vào đó và biến mất mãi mãi. Trong đầu tôi như có một trận bão sấm sét ầm vang.
Mụ già ngắm nghía tôi kỹ càng.
- Mi nhìn thấy gì?
- Không thấy gì cả ạ. - Tôi đáp một cách khổ sở. - Cháu muốn về nhà.
Mụ đặt úp mặt cái gương xuống.
- Nhà mi ở đâu?
Tôi bảo cho mụ biết.
- Mẹ mi có khoẻ không?
Suốt từ lúc mụ già bắt đầu nói đến giờ, tôi luôn nghe thấy giọng êm ái của mẹ nhắc đi nhắc lại: "Cởi đôi hài ra, cởi đôi hài ra." Tôi liền ngồi xuống sàn và bằng tất cả sức lực của mình rút đôi hài ra.
Cảm giác lúc ấy giống như tôi bị lạc trong một khu rừng, bị săn đuổi như một con thú hoang. Căn phòng bắt đầu xoay tít. Một âm thanh chói tai tràn vào óc tôi. Sau đó tất cả biến thành màu bạc rồi tối đen đi.
- Cháu có sao không? - Có tiếng người hỏi cạnh tôi. Tôi ngước lên và thấy gương mặt thân thiện của ông thợ may Thankless.
Một đám người đang vây quanh chúng tôi trên cầu.
- May mà ông nhìn thấy con bé. - Một người qua đường nói.
- Có phải nó là con của người đàn bà biết làm phép không? - Một người khác hỏi.
- Cháu thấy không khoẻ. - Tôi thì thào.
- Trông cháu đúng là không được tươi cho lắm. - Ông Thankless nói. Rồi ông nhẹ nhàng bế tôi lên và đưa tôi về nhà. Tôi muốn nói cho ông biết là mình đã lạc mất chị Danes, nhưng đầu tôi đang đập thình thịch và mắt tôi nảy đom đóm, tôi sợ nếu mở miệng ra thì sẽ nôn mất.
Điều cuối cùng tôi nhớ ông ấy nói với tôi là:
- Đôi hài của cháu đâu rồi?
Phần 1
|